|
A. TÊN CÁC ĐƯỜNG PHỐ, LÀNG XÃ HÀ NỘI
THẾ KỶ 19 - 20 QUA NHỮNG LẦN THAY ĐỔI
Tên cũ : T cũ
Pháp thuộc: Pth
Đầu cách mạng: cm
Tạm chiếm: tch
A
Ancien canal
- Tên cũ phố Đào Duy Từ; Ancien canal nghĩa là Sông đào
cũ.
An Sơn
- Ngõ ở Đường Đại La, gần ngã tư Trung Hiền (tên có vào
khoảng năm 1930).
An Thành
- Ngõ ở đường Yên Phụ (phía Bắc) đi
xuống bãi cát bờ sông Hồng. Khoảng năm 1940 có nhiều
người các tỉnh đến lập nghiệp trồng trọt sinh sống ở bãi
cát bồi sông Hồng.
Án Sát Siêu
- Tên cũ phố Nguyễn Văn Siêu.
Anh Quốc
- Tên phố Hàng Khay đặt trong thời
tạm chiếm 1947 - 1954.
An Xá Châu
- Tên cũ làng Cơ Xá về thời Hậu Lê (trước kia thuộc trấn
Kinh Bắc).
Ấu Triệu - Phố ở cạnh Nhà Thờ Lớn, đất cũ
thôn Châu Sơn và Minh Cầm (chỗ này là đất huyện lỵ cũ
Thọ Xương về thời Tự Đức). Thời Pháp có tên là Ruelle
Père Lecornu.
Ấu Triệu
nghĩa là Bà Triệu nhỏ, tên là Lê Thị
Đàn người làng Thế Lại (Quảng Trị) tham gia phong trào
Đông Du của Phan Bội Châu (năm 1903); bà bị Pháp bắt,
tra khảo và đã tự tử năm 1928. Tên Ấu Triệu do Phan Bội
Châu đặt trong tập Truyện Nghĩa liệt.
Autigeon (Madame) - Tên cũ phố Đặng Tất (P.th).
Madame Autigeon
là người có sáng kiến mở lớp dạy nghề làm đăng ten, thuê
ren (khoảng những năm 10 đầu thế kỷ), đào tạo nhiều thợ
giỏi và truyền nghề cho nhiều người làng ở Hà Đông, Sơn
Tây; là chủ khu nhà trông ra đường Quan Thành, giáp với
phố Autigeon (Đặng Tất).
Antoine
(Soeur) - Rue Soeur Antoine- Tên cũ -
phố Hàng Bột (P.th).
Soeur Antoine,
tên là Félicie Vacheron (1866-1925), nữ tu sĩ thuộc dòng
Dames de Saint Paul de Chartres. Đến Bắc Kỳ năm 1889,
làm trong Quân y viện. Thành lập ra Phòng phát thuốc Phủ
Doãn, phòng này bị sung công năm 1904 để đổi thành Nhà
thương Bảo hộ. Bà lại lập ra Trại Tế Bần Hàng Bột và
bệnh viện Saint Paul Hàng Đẫy. Bà mất ở Hà Nội năm 1925.
B
Ba Đình:
Quảng trường. Thời Pháp thuộc là Rond point Puginier. Năm 1945 đổi là
Quảng trường Ba Đình. Thời tam chiếm gọi là Vườn Hồng
Bàng. Là đất cũ chỗ cửa Chính Tây thành trì Hà Nội.
Tại Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập và tuyên bố sự ra đời của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Cũng tại
đây đã dựng Lăng và nhà Bảo tàng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cuộc
khởi nghĩa chống Pháp năm 1886-1887 do Đinh Công Tráng,
Hà Văn Mao, Cầm Bác Thước tổ chức tại Nga Sơn (Thanh
Hoá), lấy ba làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thình làm
căn cứ; nơi đây có ba ngôi đình của ba làng được bố trí
làm pháo đài cầm cự với địch, nên có tên là Ba Đình.
Ba Lê
- Tên vườn hoa cạnh Nhà Hát lớn đặt
trong thời tạm chiếm 1947-1954 (Ba Lê phiên âm tên
Paris).
Ba Sao
- Ngõ Ba Sao, tên cũ ngõ 151 Khâm
Thiên. Ba Sao là tên của hàng làm nến; chủ hãng làm một
dãy nhà cho thuê trong ngõ.
Bà Huyện Thanh Quan
- Tên phố ở chỗ đất cũ Cửa Tây thành Hà Nội. Thời Pháp
thuộc gọi là Rue Résident Morel; năm 1946 gọi là phố Mạc
Đĩnh Chi.
Bà Huyện Thanh Quan,
tên là Nguyễn Thị Hinh, vợ Lưu Nguyên Ôn (1804-1847)
người làng Nghi Tàm. Bà là một nhà thơ, tác giả bài
"Thăng Long hoài cổ"
Bà Triệu -
Đường phố có tên cũ nhân dân thường gọi là Phố Hàng Giò
(đoạn phía bắc gần Hàng Khay); thời Pháp thuộc là hai
phố boulevard Gia Long (từ Hàng Khay đến Rue Riquier tức
Nguyễn Du bây giờ) và Rue Lê Lợi (đoạn phía Nam). Năm
1945, phố Bà Triệu chỉ có đoạn phố Bà Triệu đi từ Bờ Hồ
đến tận đường Đại Cồ Việt. Phố Bà Triệu chạy dài trên
đất các phường thôn cũ: Vũ Thạch - Phúc Lâm - Thể Giao -
Vân Hồ.
Ngõ Bà Triệu
- ở đoạn dưới phố Bà Triệu, trước kia nhân dân quen gọi
là Ngõ Trường Bắn (chỗ binh lính tập bắn).
Bà Triệu:
sử cũ gọi là Triệu ẨU, thần phả chép là Triệu Thị Trinh,
người quận Cửu Chân (Nông Cống - Thanh Hoá). Bà cùng với
anh là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa đánh quân đô hộ Giao
Châu nhà Ngô (Mậu Thìn 248), cầm cự với địch được mấy
năm. Có đền thờ ở xã Phú Điền (Thanh Hoá).
Bắc Ninh -
Tên cũ phố Nguyễn Hữu Huân thời Pháp thuộc có tên là Rue
Bắc Ninh (người Pháp ghi trận đánh chiếm Bắc Ninh năm
1884). Đến 1940, đổi gọi là Rue Maréchal Pétain; thời kỳ
Cách mạng và tạm chiếm gọi là phố Phan Thanh Giản.
Bắc Sơn - Tên cũ con đường đi cạnh Lăng Chủ
tịch Hồ Chí Minh, sau Quảng trường Ba Đình.
Vườn Bắc Sơn:
tên cũ Vườn Bach Việt (tên đặt năm 1945).
- Khởi
nghĩa Bắc Sơn năm 1940 của nhân dân Võ Nhai và Tràng
Định (Thái Nguyên) nhân khi quân Nhật đánh vào Lạng Sơn
và quân Pháp thua chạy. Bị đàn áp cuối năm đó.
Bách Thảo
- Công viên rộng 18 hecta, lập ra năm 1890 ở trên đất cũ
mấy làng Thanh Bảo, Ngọc Hà, Khán Xuân; giữa công viên
có Núi Sưa trên có một toà miếu cổ cạnh công viên có
Miếu Hội Đồng dựng từ giữa thế kỷ 19.
Vườn
Bách Thảo trồng các loại cây nhập của nước ngoài, trồng
thí nghiệm và gây giống (có hàng trăm loại cây công
nghiệp). Trong vườn có nuôi thú nên còn có tên gọi là
Vườn Bách Thú. Tên Pháp là Jardin Botanique.
Bách Việt
- Tên vườn hoa Cửa
Nam.
Thời Pháp gọi là Place Neyret, ta thường gọi là Vườn hoa
Bà Đàm Xoè vì có dựng bức tượng Thần Tự do, đúc theo mẫu
Thần Tự do của nhà điêu khắc Bartholdi dựng ở lối vào
cảng New York nước Mỹ.
Bách Việt
là tên chung của các bộ lạc người Việt thời nguyên thủy,
cư trú tại phía Nam sông Dương Tử đến lưu vực sông Hồng,
sông Mã.
Bạch Mai -
Tên cũ phường Hồng Mai, đến đời Tự Đức đổi là Bạch Mai
(vì kiêng chưc Hồng tên huý nhà vua). Làng Bạch Mai
thuộc tổng Kim Liên huyện Thọ Xương có 6 giáp: Tô -
Hoàng - Mật - Nội - Nhất - Nhị. Phố Bạch Mai kể từ Ô Cầu
Dền đến chợ Mơ ngã tư Trung Hiền. Có nhiều ngõ thông phố
Bạch Mai với các xóm bên trong mang tên giáp và xóm.
Bạch Thái Bưởi -
Tên một phố nhỏ thông phố Nguyễn Hữu Huân với Bờ Sông,
tên có từ 1945 hồi đầu cách mạng, nay đổi là Ngõ Nguyễn
Hữu Huân. Thời Pháp thuộc gọi là Rue Hillaret.
Bạch Thái Bưởi
là một nhà kinh doanh đầu thế kỷ XX, có tàu chạy đường
sông và khai mỏ than, một nhà tư sản dân tộc cạnh tranh
được với tư sản người Hoa và người Pháp.
Badens (général) - Tên phố thời Pháp thuộc,
nay là phố Tôn Thất Thiệp, ở chỗ đất cũ múi khế góc đông
nam thành trì.
Pierre
de Bades (1847-1897 ) sĩ quan cấp tướng người Pháp ở
trong đội quân viễn chinh Pháp những năm đầu đánh chiếm
Bắc Kỳ 1884 - 1886.
Balny
- Rue Balny là tên cũ phố Trần Nguyên
Hãn thời Pháp thuộc.
-
Balny d' Avricourt Paul (1849-1873) là sĩ quan tuỳ
tùng của Francis Garnier đã bị giết ở trận Cầu Giấy 1873
tại cổng đền Voi Phục.
Bảng Nhãn Đông -
Tên cũ phố Hàng Cháo thời Pháp thuộc. Bảng Nhãn Đôn là
Lê Quý Đôn.
Bảo Anh
- Phố Bảo Anh thời Pháp thuộc gọi là
Voie 206 bis ở góc phố Hàng Cháo; nay đổi là
Ngõ Nguyễn Thái Học.
Bảo Anh là Trại nuôi trẻ mồ côi do một nhóm
nhà từ thiện lập ra vào khoảng những năm 30 có các bà
phước trông coi. Sau năm 1954, nơi đây là Trường Thương
binh hỏng mắt.
Bảo Hưng
- Cité Bảo Hưng là tên cũ ngõ Lê Văn
Hưu I. Bảo Hưng là tên chủ đất có dãy nhà cho thuê ở
trong ngõ.
Báo Khánh
- Tên phố ở phía tây Hồ Gươm, thời Pháp thuộc gọi là Rue
Pottier; Báo Khánh là tên thôn do hai làng Khánh Thụy và
Báo Thiên hợp nhất (giữa thế kỷ 19).
Ngõ Bảo Khánh
là ngõ thông Báo Khánh với phố Hàng Hành.
Bảo Linh
- Tên thôn cũ thuộc khu vực phố Hàng
Tre.
Báo Thiên
- Phường Báo Thiên là tên đất cũ ở phía tây Hồ Gươm. Năm
1057 Lý Thánh Tông dựng chùa Sùng Khánh ở trên bờ hồ Lục
Thuỷ (Hồ Gươm); chùa có một cây tháp cao gọi là Đại
Thắng Tư Thiên Báo Tháp, tên thông thường là tháp Báo
Thiên. Tháp và chùa bị phá huỷ từ hồi giặc Minh (thế kỷ
15). Năm 1884 nhà Chung mưu mô chiếm khu đất chân tháp
cũ xây Nhà Thờ Lớn Hà Nội.
Barona - Rue Barona tên cũ phố Liên Trì
thời Pháp thuộc (đoạn phía bắc).
- Barona: Đại uý người Pháp, chết ở Lạng Sơn
năm1930.
Bình Than
- Vườn Bình Than: đất cũ thông Nhân Chiêu, thời Pháp là
Square Gambetta (ngã tư Trần Thánh Tông và Trần Hưng
Đạo).
Hội nghị Bình Than
(năm 1282) là một hội nghị quân sự vua tôi nhà Trần bàn
và quyết định phương lược chống giặc Nguyên Mông Cổ xâm
lược.
Blane
- Rue Julien Balanc: tên cũ phố phủ
Doãn (P. th)
Blanc - Julien, chủ hiệu thuốc tây Blanc
phố Tràng Tiền và hội viên Hội đồng thành phố.
Blockhaus Nord
- Route Blockhaus Nord (đường Lô Cốt Bắc) tên cũ phố Phó
Đức Chính (P. th).
Khi quân
Pháp mới đánh chiếm Hà Nội (1883) chúng có xây ở trên
dốc đê Yên Phụ Cổ Ngư chỗ cửa ô cũ, một pháo đài để
phòng thủ mặt tây bắc thành phố, trên con đường vào nội
thành.
Bobillot - Boulevard Bobillot , tên cũ phố Lê
Thánh Tông thời Pháp thuộc.
Bobillot Jules
(1860 - 1885) là một trung sĩ trong quân đội viễn chinh
Pháp được ghi công trong trận đánh nhau với quân Cờ Đen
ở Tuyên Quang năm 1885.
Boissiè,
tên cũ phố Nguyễn Xí (P. th).
Boissi? Jules (1863 - 1897 ) là một
công chức nhỏ đồng thời là một nhà văn thuộc địa, tác
giả cuốn Fumeurs d'opium. Chết ở Hà Nội 1897.
Bôn Be
- Phố Bôn Be -Vườn hoa Bôn Be. Tên phiên âm của Paul
Bert (xem chữ này).
Bonhour
- Rue Bonhour, tên cũ phố Lê Lai (P.
th), phần phía đông.
-
Louis Alphonse Bonhur (1864 - 1909). Toàn quyền
Đông Dương (1908). Là một nhà sinh vật học. Tự tử ở Sài
Gòn 1909.
Bonifacy
- Rue Antoine Bonnet, tên cũ phố Nguyễn Gia Thiều thời
Pháp thuộc.
Louis Marie Bonifacy
( 1850 - 19...), đến Bắc Kỳ năm 1894. Sĩ quan Pháp, công
sứ Hà Giang 1911. Cộng tác viên của Viện Bác Cổ Viễn
Đông (1902-1903), tác giả của nhiều sách nghiên cứu lịch
sử, dân tộc học miền núi Bắc Kỳ.
Bonifacy - Rue Antoine Bonnet, tên cũ phố Châu Long (P. th)
đoạn phía bắc.
Borgnis Desbordes
- Rue Borgnis Desbordes, tên cũ phố Tràng Thi (P. th).
Gustave Borgnis
Desbordes
(1839-1900, sĩ quan Pháp cấp tướng, đã tham gia nhiều
cuộc chiến tranh thuộc địa. Đến
Nam Kỳ năm 1868. Ra Bắc Kỳ
năm 1884.
Bourret - Rue Bourret, tên cũ phố Ngõ Trạm
(P. th).
Bát Tơ
- (Phiên âm tiếng Pháp của Pasteur).
Vườn Bát Tơ là công viên ở trước mặt Viện vi trùng học
Pasteur, đất cũ thôn Yên Xá (xem chữ Pastuer).
Beau
- Rue Bernard de Beau, tên cũ phố Nguyễn Chế Nghĩa thời
Pháp thuộc.
Beauchamp - Avenue Beâuchamp là tên cũ phố
Nguyễn Chế Nghĩa thời Pháp thuộc, từ dưới dốc Hàng Đào
đến nhà Khai Trí Tiến Đức.
De Beauchamp:
tên một viên quan cai trị làm Đốc lý Hà Nội vào khoảng
năm 1890.
Bert (Paul)- Rue Paul Bert
là tên cũ phố Tràng Tiền thời Pháp thuộc, đi từ Quảng
trường Nhà Hát Lớn đến hết phố Hàng Khay.
Square Paul Bert:
tên cũ Vườn hoa Chí Linh, có tượng Paul Bert (đã bị gỡ
bỏ năm 1945).
Paul Bert (1838-1886) là một nhà sinh vật học
kiêm làm chính trị; được cử sang Việt
Nam làm Tổng sứ Trung Bắc Kỳ (Rðsident Général) năm
1885, chết ở Hà Nội cuối năm 1886.
Berthe de Vilers
- Rue Berthe de Vilers là tên cũ phố Đinh Công Tráng
thời Pháp thuộc.
Berth de Vilers
- Vincent (1844-1883) sĩ quan Pháp theo Henri Rivière
ra Bắc đánh thành Hà Nội, bị giết ở trận Cầu Giấy năm
1883.
Beyliè
- Rue Gènéral Beylié là tên cũ phố
Hàng Chuối thời Pháp thuộc.
Beylié Eugène de
( 1849-1910) sĩ quan cấp tướng đồng thời là một nhà khảo
cổ học, có công trình nghiên cứu văn hoá Khmer. Ở Bắc Kỳ
những năm 1885 - 1896; chết ở Luang Prabang năm 1910.
Bích Câu
- Phố Bích Câu thuộc đất hai thôn cũ
Yên Trạch và Cát Linh. Tên cũ thời Pháp thuộc là Rue
Graffeuil.
Phường Bích Câu
có tên từ rất xưa, ở phía tây nam thành Thăng Long. Làng
Bích Câu đạo quán, một ngôi đền có tính chất Đạo giáo.
Đền được dựng lên do truyền thuyết Tú Uyên - Giáng Kiều
(đề tài cho cuốn truyện Bích Câu kỳ ngộ củaVũ
Quốc Trân). Đền bị phá huỷ năm 1947 vì chiến tranh, làm
lại năm 1952.
Bích Lưu
- Tên làng xưa ở đầu phố Thợ Nhuộm;
còn tích ngôi chùa Bích Lưu ở số nhà 64 Hai Bà Trưng và
đình Bích Lưu ở cạnh chùa Bích Lưu.
Bichot
- Avenue Gðnéral Bichot, tên cũ phố
Cửa Đông (P. th).
Bichot Justin
(1835-1908) tướng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Bắc
Kỳ những năm 1883-1886.
Bình Chuẩn
- Phố Bình Chuẩn: tên phố Hàng Thùng đặt năm 1945.
Bình Chuẩn
là tên một chiếc tàu thuỷ của hãng Bạch Thái Bưởi đóng
năm 1921 (chiếc tàu đầu tiên của người Việt
Nam
ở Bắc Kỳ).
Bourrin
- Rue Bourrin, tên cũ phố Yên Ninh
(P. th).
Claude Bourrin
- Công chức Pháp, sống nhiều năm ở Hà Nội, là người hoạt
động sân khấu (kịch Pháp) và tác giả hai cuốn Le
Vieux
Tonkin
- Choses et gens d' Indochine.
Bovet - Rue Bovet, tên cũ phố Yết Kiêu (P.
th),
Cité
Bovet, tên cũ ngõ Yết Kiêu.
Brière de l'Isle -
Avenue Brière de I' Isle, tên cũ phố Hùng Vương (P.th).
Louis Brière de I' Isele
(1827 - 1896) sĩ quan cấp tướng trong quân đội viễn
chinh Pháp, cầm quân ở Bắc Kỳ trong những năm 1884 -
1886.
Bruisseau - Rue Capitaine Bruisseau, tên cũ
phố Tống Duy Tân (P. th).
Bùi Bá Ký
- Phố Bùi Bá Ký, tên phố Tống Duy Tân thời kỳ đầu cách
mạng 1945 - 1946.
Bùi Bá Ký
(thế kỷ 15), người Viên Nội (Chương Mỹ Hà Đông). Đỗ
Hoàng Giáp năm 1448. Tác giả một số bài thơ chép trong
Việt thi lục.
Bùi Huy Bích
- Phố Bùi Huy Bích, tên cũ phố Nguyễn Khắc Cần thời kỳ
đầu cách mạng 1945-1946.
Bùi Huy Bích
(1744 - 1802), tự Tồn Am, người Định Công, huyện Thanh
Trì, đỗ hoàng giáp năm 1769, làm quan đời Hậu Lê đến
chức Tham tụng. Tác giả nhiều sách: Hoàng Việt thi
văn tuyển, Tồn Am thi văn tập, Quốc triều chính điển....
Bùi Quang Trinh
- Phố Bùi Quang Trinh, tên cũ phố Triệu Việt Vương năm
1946.
Bùi Thị Xuân
- Phố đi dọc theo đất các thôn cũ Phục Cổ - Giáo phường
và Phúc Lâm Tiểu. Thời Pháp thuộc là phố Duvigneau; thời
tạm chiếm là phố Huyền Trân Công chúa; năm 1964 đổi là
phố Bùi Thị Xuân.
Bùi Thị Xuân,
người đất Quy Nhơn, vợ Trần Quang Diệu, hai vợ chồng đều
là dũng tướng của quân đội Tây Sơn. Phong trào Tây Sơn
thất bại, bà bị bắt, bị Gia Long xử tử 1802.
Bùi Viện
- Phố Bùi Viện là tên cũ phố Phan Huy Ích từ năm 1947
đến 1964.
Bùi Viện
(1847 - 1878) người Trình phố - Trực
Ninh - Thái Bình; đỗ cử nhân khoa Tự Đức 20 (1868);
không làm quan, hoạt động chấn hưng kinh tế và cải cách
chính trị, quân sự, đã đi ra nước ngoài (Mỹ).
Bưởi
- (Xem chữ Đường Bưởi)
Bảo Toàn
- Ngõ Bảo Toàn, cạnh số nhà 295 phố
Khâm Thiên.
Bãi Bóng
- Ngõ ở đường phố Bạch Mai, đi vào khu Nhà tập thể lao động Mai Hương,
cạnh số nhà 419. Chỗ đó là bãi bóng cũ nay là xóm nhà ở.
Ngõ còn có tên là Mai Hương mới.
Bãi Cát
- Ngõ ở trong đầu phố Khâm Thiên (số
1b) đi vào khu nhà ở trước kia là bãi cát rộng.
C
Calmêtt
- Rue Docteur Calmette, sau đổi là phố Yersin.
Albert Calmette
( 1863-1933) là thày thuốc đã từng làm việc ở Đông
Dương; ông cùng với bác sĩ Guérin tìm ra thuốc BCG phòng
bệnh lao cho trẻ sơ sinh.
Cambanère
- Rue Cambanère, tên cũ phố Hàng Bút (P.th)
Cambanère tên một nạn nhân chiến tranh có tính
chất thời sự hơn là lịch sử.
Cấm Chỉ
- Phố Cấm Chỉ, tên một phố nhỏ sát
góc thành đông nam cũ; thời Pháp là Rue Londe; năm 1954
gọi là Ngõ Hàng Bông L?; năm 1964 đổi tên là Ngõ Hàng
Bông.
Cấm Chỉ
do con đường đi bên ngoài của Đại
Hưng, mỗi khi có vua quan trảy qua, thường ngăn cấm giao
thông từ chỗ này.
Cantonnais
- Rue des Cantonnais, tên cũ phố Hàng Ngang thời thuộc
Pháp, nghĩa là phố của người Hoa kiều gốc Quảng Đông.
Cao Bá Nhạ
- Phố Cao Bá Nhạ, tên Ngõ Cầu Gỗ đặt trong thời tạm
chiếm 1948-1954 (thời Pháp thuộc gọi là Rue Nguyễn Trọng
Hợp).
Cao Bá Nhạ
(sinh năm 1808), anh em sinh đôi với Cao Bá Quát, quê ở
làng Phú Thị (Huyện Gia Lâm).Bị liên luỵ vì vụ án chính
trị Cao Bá Quát, phải đi trốn, sống với nghề dạy học,
sau cũng bị bắt và bị hành tội. Tác giả Tự tình khúc.
Cao Bá Quát
- Phố Cao Bá Quát, đất cũ trong thành nội, chỗ hào Cửa
Nam bị lấp. Tên cũ thời Pháp là Rue Tuyên Quang.
Cao Bá Quát
(18081855) người làng Phú Thị (Gia Lâm), nhà văn nổi
tiếng hay chữ, tác giả
Chu
Thần thi tập. Làm huấn đạo, tham gia phong trào "giặc châu chấu" chống lại triều đình
ở Mỹ Lương (Quốc Oai), bị tử trận. Nhà cũ của gia đình
Cao Bá Quát ở gần phố này, chỗ Đình Ngang.
Cao Đắc Minh -
Rue Cao Đắc Minh, tên cũ phố Văn Miếu thời Pháp thuộc.
Cao Đắc Minh
người tỉnh Sơn Tây, phi công trong quân đội Pháp trong
Chiến tranh thế giới I, chết vì tai nạn máy bay.
Cao Đạt
- Phố Cao Đạt, đất thôn cũ Hậu Phong
Vân (Vân Hồ); thời thuộc Pháp là Voie H1.
Cao Đạt, em Cao Thắng người làng Lễ Đường
(Hương Sơn, Hà Tĩnh), tham gia cuộc khởi nghĩa Phan Đình
Phùng chống quân xâm lược Pháp. Bị bắt và bị xử tử năm
1891.
Cao Thắng
- Phố Cao Thắng, đất thôn Huyền Thiên cũ, thời thuộc
Pháp gọi là Rue Grappin; năm 1945 gọi là phố Nguyễn Cảnh
Chân.
Cao
ThắngC, người làng Lễ Đường (Hương Sơn - Hà Tĩnh) hai
anh em theo nghĩa quân Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh
đạo, giỏi nghề chế tạo súng. Tử trận năm 1839.
Carnot -
Boulevard Carnot, tên cũ phố Phan Đình Phùng thời thuộc
Pháp.
Square
Carnot, tên cũ Vườn hoa Vạn Xuân ở đầu Hàng Đậu.
Sadi
Carnot (1837-1894), kỹ sư và chính trị gia. Được bầu làm
Tổng thống Pháp năm 1887; bị ám sát năm 1894.
Carreau
- Boulevard Carreau, tên cũ phố Lý
Thường Kiệt thời Pháp thuộc.
Pierre
Paul Carreau (1836-1883) người Pháp gốc Martinique sĩ
quan quân đội Pháp, đến Hà Nội với. H. Rivière; chết ở
Hà Nội năm 1883.
Cát Linh
- Phố Cát Linh là đất cũ hai thôn Yên
Trạch và Cát Linh (tổng Yên Thành).
Phường
Cát Linh ở phía Tây nam Thành Hà Nội, có nhiều hồ đầm,
tại đây có Đền Bích Câu.
Cầu Đất
- Đường Cầu Đất năm 1965 đổi tên là
Đường Hàm Tử Quan.
Một con
đường từ trên đê ra bến sông Hồng, trước đây là đường
đất lầy lội khi có mưa, bụi cát khi hanh khô.
Cầu Giấy
- Phố Cầu Giấy, đất cũ thôn Thủ Lệ;
phố mới có nhà những năm 50 từ ngã ba đường Giảng Võ đến
đầu Đường Láng.
Ô Cầu Giấy,
tên gọi thông thường Cửa ô Thanh Bảo cuối thế kỷ 19, chỗ
có những quán họp chợ bán giấy /
Cầu Giấy
là chiếc cầu nhỏ bằng gạch bắc qua sông Tô Lịch, lối đi
Sơn Tây. Tại khu vực này đã diễn ra hai trận đánh quân
Pháp năm 1873, quân ta đã giết Fr. Garnier, và năm 1883
giết H. Rivière.
Cầu Gỗ
- Phố Cầu Gỗ, đất cũ thôn Gia Ngư và
phường Đông Hà; tên cũ thời Pháp là Rue du Pont en bois.
Có tên Cầu Gỗ là vì phố đó có chiếc cầu bằng gỗ bắc qua
một lạch nước thông hồ Hàng Đào với Hồ Gươm, đầu thế kỷ
20, cầu đó hãy còn.
Champ de courses
- Route du Champ de courses, tên cũ phố Đội Cận thời
thuộc Pháp.
Đường
này đi đến Bãi Đua Ngựa ở thôn Vạn Phúc.
Chân Cầm
- Phố Chân Cầm thời Pháp thuộc có tên
là Rue Lagisquet.
Thôn
Chân Cầm tên cũ là Minh Cầm, tương truyền ngày xưa có
nghề sản xuất ra các loại đàn dùng cho âm nhạc cổ truyền.
Chanceaulme
- Rue Chanceaulme, tên cũ phố Triệu Việt Vương thời
thuộc Pháp.
Chân Hưng
- Cité Chân Hưng, tên cũ Ngõ Hàng Cỏ. Chân Hưng là tên
chủ đất xây nhà cho thuê trong xóm này.
Chapuis
- Rue Chapuis, tên cũ đoạn phố Trần
Bình Trọng bên bờ phía đông hồ Thiền Quang (P.th).
Chapuis
là tên viên sĩ quan Pháp bị chết
trong vụ nổ bom ở khách sạn Coq d' Or Hà Nội năm 1916.
Charron
- Rue Charron, tên cũ phố Mai Hắc Đế
thời thuộc Pháp.
Châu Long
- Phố Châu Long ở trên đất thôn Châu Yên cũ. Phố mới mở
vào những năm 20; trong phố có chùa Châu Long.
Chavassieux
- Avenue Chavassieux, tên cũ phố Lê Thạch thời thuộc
Pháp.
Square Chavassieux,
tên cũ của Vườn hoa Diên Hồng (Người Hà Nội quen gọi là
Vườn hoa Cóc Phun).
Chavassieux
là tên một viên thống sứ tại chức ở Bắc Kỳ vào những năm
1893-1894, và làm toàn quền Đông Dương năm 1894.
Cléon
- Ru Cléon, tên cũ Phạm Đình Hổ thời
thuộc Pháp.
Jean
Nicolas Cléon (1857-191....) - Đến Nam Kỳ dạy học ở
Trường Thông Ngôn, ra Bắc Kỳ năm 1887, làm phiên dịch ở
Phủ Toàn quyền. Tác giả nhiều cuốn sách nghiên cứu về
ngôn ngữ Việt Nam: Argot annamite - Lðgendes Tonkionses.
Chi Lăng
- Vườn hoa Chi Lăng, tên vườn hoa
cạnh Cột Cờ. Trước đây chỗ này là một hồ rộng gọi là Hồ
Voi; năm 1927, lấp hồ làm vườn hoa dựng đài kỷ niệm lính
tử trận trong chiến tranh thế giới 1914 - 1918. Nhân
dân quen gọi là Vườn hoa Canh Nông vì phía trước bệ
tượng đài có hình người nông dân dắt trâu đi cày. Chi
Lăng là một địa điểm hiểm trở thuộc tỉnh Lạng Sơn, nơi
đã diễn ra mấy trận thắng lớn diệt quân giặc xâm lược:
năm 1288 Phạm Ngũ Lão diệt quân Nguyên; năm 1406 quân
nhà Hồ chặn đánh quân Minh; năm 1427 tướng Lê Sát chém
Liễu Thăng diệt quân cứu viện của Minh.
Chí Linh C
- Vườn hoa Chí Linh, tên vườn hoa ở bên bờ phía đông Hồ
Gươm, tên cũ thời Pháp thuộc là Vườn hoa Bôn Be, có nhà
kèn, có tượng Paul Bert, nơi hàng năm ngày Hội Tây có
duyệt binh.
Chí Linh là một địa điểm hiểm yếu thuộc đất
Thường Xuân, huyện Lang Chánh, Thanh Hoá: Lê Lợi những
năm đầu cuộc khởi nghĩa chống quân đô hộ nhà Minh
(1418-1419 và 1423) đã đặt căn cứ ở đây.
Chợ Đồng Xuân
- ngõ Chợ Đồng Xuân: một ngõ nhỏ ở cuối phố Hàng Chiếu
đi vào phía bên cạnh Chợ Đồng Xuân. Nơi đây trước kia là
chỗ giới thiệu người đi ở cho các gia đình.
Chợ Đuổi
- phố Chợ Đuổi là tên thường gọi của
phố Tuệ Tĩnh; thời Pháp thuộc là Rue Goussard, trong
thời tạm chiếm 1948 - 1954, Chợ Đuổi thành tên chính
thức đến 1954.
Gọi là
Chợ Đuổi vì nơi đây chiều chiều tập trung các
hàng rong sau giờ đóng cửa chợ Hôm.
Chợ Gạo
- Phố Chợ Gạo ở trên mấy thôn cũ
Hương Bài, Hướng Nghĩa; thời Pháp thuộc gọi là Place du
Commerce. Chỗ này xưa là nơi họp các người buôn bán gạo
từ nông thôn vào thành phố.
Chợ Khâm Thiên
- Phố Chợ Khâm Thiên, đất cũ thôn Khâm Đức, đầu phố có
chợ Khâm Thiên. Phố dài, nhiều ngõ.
Chợ Mơ
- Ngõ Chợ Mơ cũ: ngõ phố Bạch Mai
cạnh số nhà 295. Trước kia Chợ Mơ họp ở đây, sau di
xuống cuối phố, tại ngã tư Trung Hiền.
Chợ Mới Mơ:
chợ ở cuối phố Bạch Mai sát ngã tư Trung Hiền.
Chùa
Hương Tuyết - Ngõ chùa Hương Tuyết: ngõ phố Bạch Mai
cạnh số nhà 205.
Chùa Hương Tuyết
thuộc xã Bạch Mai, thôn Mật.
Chùa Liên Phái
- Phố Chùa Liên Phái: ngõ phố Bạch Mai cạnh số nhà 182.
Chùa Liên Phái
là một ngôi chùa cổ dựng năm 1623, có Tháp Cửu Phẩm 11
tầng; chùa thuộc sơn môn Lâm Tế. Còn tên gọi là chùa
Liên Tông.
Chùa Một Cột
- Phố Chùa Một Cột: đường phố ở trên đất giáp bên trong
Cửa Tây thành cũ, thời thuộc Pháp có tên là Rue Elie
Groleau.
Chùa Một Cột:
Chùa Cổ dựng từ thời Lý Thái Tông năm 1049, tên chữ là
Diên Hựu Tự, ở thôn Thanh Bảo.
Chùa Quan Thượng
- phố Chùa Quan Thượng là tên đặt thay cho phố Jules
Boissière có trong thời Pháp, ngày cách mạng 1945 mới
thành công, nay là phố Nguyễn Xí.
Chùa Quan Thượng
tên chữ là Sùng Hưng Tự, Báo Ân Tự, xây năm 1848 ở thôn
Cựu Lân; bị phá hoại khi quân Pháp đánh chiếm Hà Nội
1883-1884, chỉ còn sót lại ngọn tháp Hoà Phong trên bờ
Hồ Gươm.
Chùa Vua
- Phố Chùa Vua ở đất làng Thịnh Yên,
tên cũ thời Pháp thuộc là Voie 233 b
Tại đây
có đền thờ Vua Đế Thích, tương truyền là cao cờ. Đền
dựng vào khoảng thế kỷ 15-16. Mở hội hàng năm vào ngày 9
tháng giêng âm lịch, có đánh cờ người.
Chu Mạnh Trinh
- Phố Chu Mạnh Trinh, năm 1945 - 1946 có tên
là phố Đinh Công Tráng; thời tạm chiếm là Voie 163 (con
đường ở phía sau Viện Pasteur).
Chu Mạnh Trinh
(1826-1905) người làng Phú Thị (Hưng Yên) đỗ
tiến sĩ năm 1892. Là một nhà thơ lãng mạn, tác giả nhiều
bài ca trù và Trúc Vân thi tập.
Chương Dương Độ
- Phố Chương Dương Độ, đất thôn cũ thuỷ cơ Đông Trạch,
thuỷ cơ Kiếm Hồ; phố mới mở sau năm 1954.
Chương Dương Độ
ở trên sông Hồng thuộc huyện Thường Tín - Hà Đông nơi
diễn ra trận đánh thắng quân Nguyên do Trần Quang Khải,
Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Toản hiệp lực đánh giặc năm
1285.
Chu Văn An
- Phố Chu Văn An ở trên đất gần Cửa Tây bên
trong thành cũ; thời thuộc Pháp là phố Van Vollenhoven.
Chu Văn An người đời Trần quê ở làng Quang Liệt đỗ
Thái học sinh, làm quan nổi tiếng là trung thực; can vua
không nghe, ông lui về quê dạy học. Ông mất năm 1370,
được tùng tự ở Văn Miếu Thăng Long.Tác giả nhiều tập thơ
văn và cuốn triết học Tứ thư thuyết ước.
Cité Imobilière
- Khu nhà trong khu vực Nhà Thờ Lớn.
Clémenceau
- Quai Clémenceau; tên cũ thời Pháp của Phố Trần Nhật
Duật.
Georges
Clémenceau (1841-1929) là một chính khách của Pháp rất
hùng biện; là Thủ tướng nổi tiếng trong thời kỳ Chiến
tranh thế giới 1914-1918.
Colomb - Tên cũ phố Phan Bội Châu thời
thuộc Pháp.
Commerce
- Place du Commerce, tên tiếng Pháp
phố Chợ Gạo.
Cổ Am
- Ngõ Cổ Am tên ngõ số 3 phố Lê Văn
Hưu, đặt hồi đầu cách mạng 1945.
Cổ Am
là tên xã thuộc huyện Vĩnh Bảo Hải
Dương, nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc
dân Đảng năm 1930, sau đó làng bị máy bay Pháp đến triệt
hạ.
Cổ Ngư
- Đường Cổ Ngư: Thời thuộc Pháp gọi
là Route Maréchal Lyautey, nay gọi là Đường Thanh Niên.
Cổ Ngư là con đê ngăn đôi Hồ Tây, phần hồ
bên phía đông thành hồ Trúc Bạch đắp từ thời Hậu Lê đến
thế kỷ 17.
Concession
- Rue de Concession : tên cũ thời Pháp thuộc phố Phạm
Ngũ Lão.
Concession
nghĩa là đất nhượng địa, triều đình Huế cắt cho Pháp xây
dựng khu Lãnh sự quán năm 1874.
Cống Chéo Hàng Lược
- Tên gọi thông thường của phố Hàng Lược; chỗ đó là lòng
sông Tô Lịch đang bị lấp dở có một cái cống chảy qua phố
ngang chỗ đề Phủ Từ, thời Pháp thuộc gọi là Rue Sông Tô
Lịch.
Cống Trắng
- Ngõ Cống Trắng, ngõ thông ra phố Khâm Thiên.
Cống Trắng
là đoạn cống của một con ngòi lớn dẫn nước thải của
thành phố nối hai hồ Văn Chương và Mỹ Đức; cống được cải
tạo cho hợp vệ sinh năm 1954.
Cổng Đục
- Phố Cổng Đục thuộc đất thôn cũ Đông
Thành; thời thuộc Pháp gọi là Ruelle des Etoffes.
Tương
truyền là khi con tường thành Hà Nội, đoạn này có chỗ
tường bị đục thông vào trong thành là chỗ đi tắt thông
qua cửa Chính Đông.
Cổ Tân
- Phố Cổ Tân, chỗ đất cuối thôn Cổ
Tân xưa; thời thuộc Pháp gọi là Rue Maréchal Foch; thời
tạm chiếm gọi là phố Trương Định; năm 1964 đổi là Cổ Tân.
Cổ Tân
có nghĩa là Bến cũ; bến đó năm 1592 có tên là Thảo Tân,
Trịnh Tùng đem quân ra Thăng Long đánh họ Mạc, đã đổ bộ
lên bến này. Năm 1595, triều đình Hậu Lê mở khoa thi Hội
tại đây.
Constan
- Rue Gouverneur Gðnéral Constan, tên cũ phố Đoàn Trần
Nghiệp thời thuộc Pháp.
J. Ernest Constan
(1833-1913), toàn quyền Đông Dương đầu tiên, tại chức
năm 1887- 1888, một nhà ngoại giao và chính trị của Pháp.
Cột Cờ
- Phố Cột cờ, tên thông thường của
đường phố từ Quảng trường Tròn chỗ Cửa Chính Đông cũ đến
Cửa Nam qua chỗ chân Cột Cờ. Thời Pháp thuộc gọi là
Avenue Puginier; sau Cách mạng tháng 8/1945 gọi là Đường
Cột Cờ. Năm 1970 đổi tên là Đường Điện Biên Phủ. Cột Cờ
thành Hà Nội xây năm 1808.
Cột Đồng Hồ
- Khoảng đất rộng chỗ ngã sáu mấy phố đi ra Bờ Sông, tại
đầu đường Trần Nhật Duật. Chỗ đó trồng một cột sắt lớn
trên đặt chiếc đồng hồ điện. Ngoài đê dưới mé sông là
Bến Tàu thuỷ cũ của Hà Nội.
Coulier - Rue Charles Courbet, tên cũ phố
Khúc Hạo (P. th).
Courbet
- Boulevard Amiral Courbet, tên cũ
phố Lý Thái Tổ thời thuộc Pháp.
Prosper Courbet
(1827-1885), Thuỷ sư đô đốc hải quân Pháp tham gia cuộc
đánh chiếm Việt Nam năm 1883.
Crévost
- Rue Crévost, tên cũ thời Pháp thuộc
của phố Hàn Thuyên.
Crévost, viên chức Sở Nông lâm Đông Dương,
năm 1919 làm giám đốc nhà Bảo tàng Maurice Long ở trong
khu Đấu Xảo; có sáng kiến mở lớp dạy nhiều nghề thủ công
làm hàng xuất khẩu bằng nguyên liệu địa phương và phổ
biến cho dân nhiều làng ở Hà Đông - Hà Nam - Bắc Ninh.
Cửa Bắc
- Phố Cửa Bắc, đường phố từ cửa Chính
Bắc cũ lên đê sông Hồng, chỗ cửa ô, phố đi qua đất các
thôn Yên Duyên - Yên Ninh. Thời Pháp thuộc có tên là
phố Đỗ Hữu Vy.
Cửa Bắc thành
Thăng Long thời Lý - Trần gọi là Cửa Diệu Đức; đời
Nguyễn đắp lại thành, xây Cửa Chính Bắc cùng với bốn cửa
thành khác. Tây phá thành Hà Nội, chỉ để lại có Cửa Bắc,
còn các cửa khác thì không còn.
Cửa Đông C
- Phố Cửa Đông: phố đi từ thẳng cửa Chính Đông ra, qua
đất các thôn Đông Thành, Đông Thành Thị. Thời thuộc Pháp
gọi là Avenue Gðnéral Bichot. Cửa Đông thời Lý Trần gọi
là cửa Tường Phù; đời Hậu Lê là Đông Tràng An; thời
Nguyễn đây là Cửa Chính Đông thành Hà Nội.
Cửa
Nam
- Phố Cửa
Nam ở trên đất hai thôn cũ Vĩnh Xương và Yên Trung Hạ.
Tên cũ thời thuộc Pháp là Rue Neyret.
Vườn hoa Cửa Nam,
trước cũng có tên là Place Neyret nhưng nhân dân thường
gọi là Vườn hoa Bàđầm xoè vì có đặt pho tượng đồng Thần
Tự do.
Cửa Nam: Thời Lý - Trần và Hậu Lê, thành
Thăng Long chỉ mở một cửa ở tường thành phía nam với cái
tên là cửa Đại Hưng; nhà Nguyễn cho đắp lại thành Thăng
Long, phía nam mở ra hai cửa Đông Nam và Tây Nam. Cửa
Nam bị bịt kín năm Minh Mạng 1831.
Bên
ngoài Cửa
Nam
có đình Quảng Văn (sau gọi là Quảng Minh) là nơi yết
những chiếu chỉ của triều đình.
Cổng Bách Khoa
- Ngõ trên đường phố Bạch Mai đi vào khu trường Đại học
Bách Khoa (cổng sau), cạnh số nhà 350.
Cổng Gạch
- Ngõ trên đường phố Bạch Mai, cạnh số nhà 335, trước
kia có chiếc cổng xây bằng gạch; còn có tên là ngõ Mai
Hương cũ.
Chả Cá
- Phố Chả Cá, đất thôn cũ Đồng Thuận.
Trước kia phố này gọi là phố Hàng Sơn (tên chữ Pháp là
Rue de la laque)
Sau đầu
thế kỷ 20, trong phố không còn gia đình nào buôn sơn Phú
Thọ nữa, mà lại có cửa hàng của họ Đoàn làm món đặc sản
là chả cá (hiệu Lã Vọng) nên người ta quen gọi là Phố
Chả Cá và thành tên chính thức.
D
Daurelle - Rue René Daurelle, tên cũ phố
Nguyễn Bỉnh Khiêm thời thuộc Pháp, đất thôn cũ Thiền
Quang.
Daurelle: Tên một đại biểu Hội đồng thành phố
(1888 - 1906) và là một nhà kinh doanh lâu năm.
Dã Tượng
- Phố Dã Tượng, phố ở trên đất thôn
cũ Phụ Khánh. Tên thời thuộc Pháp là Rue Lambert.
Dã Tượng
là gia nô của Hưng Đạo Vương Trần
Quốc Tuấn, có sức khoẻ (như voi rừng), lập được nhiều
chiến công trong cuộc chiến tranh chống quân Nguyên
1285-1288.
Dân Chủ Cộng Hoà
- Phố Dân Chủ Cộng Hoà, tên phố Cột Cờ sau Cách mạng
tháng Tám 1945; tên cũ thời Pháp thuộc là Avenue
Puginier.
Dân
Quyền - Phố Dân Quyền, tên phố Hoàng Văn Thụ. Sau Cách
mạng tháng Tám 1945; tên cũ thời thuộc Pháp là Avenue de
la Rðpublique.
Delorme - Rue Delorme, tên phố Trần Bình
Trọng (P. th).
Destenay - Rue Destenay tên cũ phố Nguyễn
Cảnh Chân thời thuộc Pháp.
Destenay
- Tên một Đốc lý Hà Nội (1901-1903),
sau làm Thống sứ Bắc Kỳ (tại chức vào những năm
1913-1914)
Deux Soeurs
- Rue Deux Soeurs (Nghĩa là Hai chị em tức Hai Bà
Trưng), tên cũ thời thuộc Pháp của một đoạn phố Trúc
Bạch (hai đoạn khác là Voie 95 - Voie 96),
Deydier
- Rue Monseigneur Deydier, tên cũ phố
Phan Huy Ích (P. th)
Diên Hồng
- Vườn hoa Diên Hồng, đất thôn cũ Cựu Súng ở bên bờ phía
đông Hồ Gươm.Thời thuộc Pháp gọi là Square Chavassieux,
nhân dân ta thường chỉ biết đến tên thông thường đó là
Vườn hoa Cóc phun, vì giữa vườn có một đài tưởng niệm
bằng đá, bốn phía có một bầy cóc bằng đồng phun nước máy
vào bể ở chân đài.
Diên HồngD
là tên một cung điện trong Hoàng thành Thăng Long, tại
đây vua Trần Nhân Tông đã mời các đại biểu bô lão trong
nước đến bàn quyết tâm chống lại dã tâm xâm lược của
giặc Nguyên ( 1284).
Dieulefils
- Rue Dieulefils , tên cũ phố Đặng Dung thời Pháp thuộc.
Dieulefils
là nhà nhiếp ảnh đã chụp rất nhiều ảnh bưu thiếp về
phong cảnh, di tích lịch sử và cảnh sinh hoạt phố xá của
Hà Nội và Việt
Nam
những năm đầu thế kỷ 20.
Digue nouvelle
- Tên phố Nguyễn Khoái thời thuộc Pháp (Digue nouvelle)
nghĩa là đê mới đắp.
Dominé
- Anvenue Donminé, tên cũ phố Lê Lai
thời thuộc Pháp.
More Dominé
(1848-1921) đại uý trong quân đội viễn chinh Pháp ở Bắc
Kỳ được tuyên dương có công chúng giữ thành Tuyên Quang
trước sự tấn công của quân Cờ Đen năm 1885.
Doudra de Lagrée
- Boulevard Doudard de Lagrée, tên cũ phố Hàm Long thời
thuộc Pháp.
Ernest Doudard de Lagrée
là sĩ quan hải quân Pháp đã từng thám hiểm sông MêKông,
đi từ Nam Kỳ ngược lên đất Lào năm 1870.
Doumer
- Avenue Paul Doumer, tên cũ phố Bắc
Sơn thời Pháp thuộc; thời tạm chiếm gọi là phố Nguyễn
Lâm.
Paul
Doumer, tên cũ cầu Long Biên.
Paul
Doumer ( 1857-1932), nhà chính trị Pháp, làm Toàn quyền
Đông Dương năm 1896, đặt kế hoạch làm đường xe lửa và
bắc cầu sông Cái. Sau làm Tổng thống nước Pháp và bị ám
sát năm 1932. Tác giả cuốn Souvenirs về Việt Nam.
Dronet - Ruelle Pỡre Dronet, tên cũ phố
Thọ Xương thời Pháp.
Père
Dronet: một cố đạo nhiều năm giữ chức cha xứ ở Nhà thờ
Lớn Hà Nội.
Dofourcq - Rue Dufourcq, tên cũ đoạn cuối phố
Nguyễn Du (giáp đường Nam Bộ), thời thuộc Pháp.
Dufourq: một công chức nhỏ kiêm nghề làm
vườn trồng hoa và rau.Có khu vườn ươm ở chỗ nghĩa địa
công giáo cũ phía sau Đấu Xảo, sát Đường Nam Bộ.
Dupuis
- Rue Jean Dupuis, tên cũ phố Hàng
Chiếu thời thuộc Pháp; nhân dân ta chỉ gọi phố đó là Phố
Mới.
Jean Dupuis
là tên lái buôn phiêu lưu người Pháp; năm 1872 đến Bắc
Kỳ, gây chuyện với quan tỉnh Hà Nội, tạo điều kiện để
quân Pháp đánh chiếm Hà Nội năm 1873.
Duranton - Rue Duranton, tên cũ phố Nguyễn
Thiếp ( P. th)
Duranton, là quan cai trị Pháp, đã từng làm
Hiệp lý Hà Nội và Công sứ Cầu Đơ (Hà Đông) vào năm
1903-1906.
Dutreuil des Rhins
-Rue Dutreuil des Rhins, tên cũ phố Nguyễn Khắc Cần
thời thuộc Pháp.
Jules Lé on Dutreuil des Rhins
( 1846-1894), sĩ quan hải quân Pháp, đã từng thám hiểm
nhiều nước Đông Dương, Tây Tạng, Trung Quốc. Đã vẽ tập
bản đồ bờ biển Việt Nam ( 1870),.
Duvigneau - Rue Duvigneau , tên cũ phố Bùi Thị
Xuân thời Pháp thuộc.
Duvillier - Rue Duvigneau, tên cũ phố Nguyễn
Thái Học (tên thông thường là Hàng Đẫy t) thời thuộc
Pháp.
Duvillier, viên quan cai trị Pháp, đã từng làm
Công sứ
Nam
Định và Đốc lý Hà Nội. 1945.
Ngõ Duy Tân,
bây giờ là Ngõ Huế.
Duy Tân, tên là Vĩnh San, lên ngôi vua năm
1907, ông tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Trần
Cao Vân năm 1916. Bị Pháp đày sang đảo Rðunion. Chết vì
tai nạn máy bay năm 1948.
Dương Thị Ái
- Phố Dương Thị ÁI, tên đặt cho Đường Lương Yên sau Cách
mạng tháng Tám 1945; thời Pháp thuộc được đánh số là
Voie 159 Lò Lợn.
Dương Văn Đôn
- Phố Dương Văn Đôn, tên đặt cho đường phố cũ thời Pháp
Voie 158 b (Lò Lợn) sau ngày Cách mạng tháng
Tám 1945.
Đ
Đại Cồ Việt
- Đường Đại Cồ Việt, đất cũ phường Yên Thọ và thôn Kim
Liên; thời Pháp thuộc đó là những đoạn đường đánh số
Voie 164-Voie 202 -Voie 222.
Đại Cồ Việt
là quốc hiệu nước ta về thời Đinh và Tiền Lê (thế kỷ
10).
Đại La
- Cité Đại Lợi, tên cũ Ngõ Trần Xuân
Soạn.
Đại Lợi
là tên chủ đất đã xâydãy nhà cho thuê trong ngõ này.
Đắc Lộ
- Bia Alecxandre de Rhodes, đặt ở
quảng trường cạnh đền bà Kiệu bên bờ Hồ Gươm.
Đắc Lộ là tên phiên âm của Alecxandre de
Rhodes, cố đạo người Pháp, sang Việt
Nam vào thế kỷ 17, đã có công góp vào việc hoàn chỉnh
chữ viết Quốc Ngữ.
Đại Đồng
- Ngõ Đại Đồng (còn gọi là Ngõ
Giếng), ở cạnh số nhà 160 phố Khâm Thiên.
Đào Duy Từ
- Phố Đào Duy Từ
Đào Duy Từ
- Phố Đào Duy Từ đất thôn cũ Tiền Trung; tên thời thuộc
Pháp là Rue Ancien Canal.
Ngõ Đào Duy Từ,
thời Pháp gọi là Ngõ Sầm Công; thời tạm chiếm là phố
Tôn Thất Yên.
Đào Duy Từ
(1572 - 1634) người làng Hoa Trai (h. Tĩnh Gia - Thanh
Hoá), có tài chính trị quân sự, gíup chúa Nguyễn xây
dựng Đàng Trong, đắp luỹ Thày (1631) và luỹ Trường Dục
(1630). Tác giả sách l ý luận quân sự: Hổ tướng xu cơ.
Đề Tương Thuận
- Ngõ Đề Tương Thuận, đất thôn Mỹ Đức, ngõ thông ra phố
Khâm Thien cạnh số nhà 30.
Đền Tương Thuận
của giáp Tương Thuận (một trong bốn giáp của thôn Mỹ
Đức, thờ Trần Hưng Đạo.
Điện Biên Phủ
- Phố Điện Biên Phủ, tên mới đặt năm 1970 cho đường Cột
Cờ; tên cũ thời Pháp là Avenue Puginier.
Điện Biên Phủ
là một địa danh ở Tây Bắc, thuộc tỉnh Lai Châu; tại
thung lũng này đã diễn ra một cuộc chiến đấu ác liệt và
quân ta đánh bại đạo quân đóng trong tập đoàn cứ điểm
(đầu năm 1954), có tác dụng quyết định làm kết thúc cuộc
kháng chiến chống đế quốc Pháp dài chín năm .
Đặng Dung
- Phố Đặng Dung, đất thôn cũ Tân Yên; thời thuộc Pháp có
tên là Voie 94-95-96.
Đặng Dung,
người huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) con của Đặng Tất. Ông giúp
nghĩa quân Trần Quý Khoáng chống giặc Minh xâm lược,
năm1414 bị bắt giải về Trung Quốc, giữa đường đi ông đã
tự tử cùng với vua Trần.
Đặng Đình Nhân
- Phố Đặng Đình Nhân, tên cũ phố Đỗ Hành đặt sau Cách
mạng tháng Tám; thời Pháp là Rue Hautefeuille.
Đặng Đình Nhân
(gọi là Đội Nhân) hạ sĩ quan trong quân đội Pháp, người
làng Tương Mai, cầm đầu binh lính trong vụ Hà Thành đầu
độc và bị Pháp đem xử tử năm1908.
Đặng Tất
- Phố Đặng Tất, đất cũ thôn Yên Duyên; tên cũ thời Pháp
là Rue MadameAutigeon.
Đặng Tất,
người huyện Can Lộc (Hà Tĩnh) giúp vua Trần Giản Định
chống giặc Minh xâm lược; ông bị mắc mưu dèm pha và bị
sát hại năm 1409. Ông sinh ra Đặng Dung, hai cha con đều
chết vì việc nghĩa.
Đặng Thái Thân
- Phố Đặng Thái Thân, ở trong khu vực Đồn Thuỷ; thời
thuộc Pháp là Rue Laubarède.
Đặng Thái Thân
(1873-1910), tự là Ngư Hải, người làng Hải Côn, huyện
Can Lộc, Hà Tĩnh, ông là một yếu nhân trong phong trào
Việt Nam Quang Phục và Đông Du; bị địch vây bắt, ông đã
dùng súng giết mấy tên rồi tự sát.
Đặng Tiến Đông
- Phố Đặng Tiến Đông, tên mới đặt năm 1980 cho con
đường từ phố Tây Sơn vào ấp Thái Hà, đi cạnh gò Đống Đa.
Đặng Trần Côn
- Phố Đặng Trần Côn, ở trên đất thôn cũ Cận Tú Uyên và
Yên Phù; tên thời Pháp là Rue Al. De Rhodes; năm 1945
gọi là phố Bích Câu.
Đặng Trần Côn,
người làng Hạ Đình (Mọc), h. Thanh Trì - Hà Đông. Tác
giả bảnh Chinh phụ ngâm chữ Hán.
Đinh Công Tráng
- phố Đinh Công Tráng, trên đất thôn cũ Cơ Xá Hạ; tên cũ
thời Pháp là Rue Berthe de Vilers.
Đinh Công Tráng,
người Thanh Hoá, lãnh tụ trong phong trào Cần Vương ở
quê ông, lập căn cứ Ba Đình chống quân xâm lược Pháp
trong những năm 1885-1887. Bị tử trận năm 1887.
Đinh Lễ
- Phố Đinh Lễ, ở trên đất thôn cũ Cựu Súng, thời Pháp có
tên là Rue Fourés.
Đinh Lễ,
người Lam Sơn (Thanh Hoá) một trong số những tướng tá
theo Lê Lợi khởi nghĩa từ buổi đầu chống giặc Minh xâm
lược, lập nhiều chiến công; bị giặc trong một trận đánh
năm 1427và bị giết chết.
Đinh Liệt
- Phố Đinh Liệt, ở trên đất cũ Gia Ngư và Hương Minh;
tên cũ thời Pháp là Rue O' denhal.
Đinh Liệt,
người Lam Sơn, Thanh Hoá, em Đinh Lễ; một trong số những
danh tướng của Lê Lợi trong phong trào khởi nghĩa đánh
đuổi giặc Minh xâm lược (1414-1427).
Đinh Tiên Hoàng
- Phố Đinh Tiên Hoàng là con đường vòng quanh trên bờ
phía bắc và phía đông Hồ Gươm; tên cũ thời Pháp thuộc là
A venue F. Garnier. Đất cũ những thôn Hương Minh - Tả
Vọng - Hậu Lâ.
Rue Đinh Tiên Hoàng,
tên cũ thời Pháp thuộc của phố Trần Quý Cáp.
Đinh Tiên Hoàng, tên là Đinh Bộ Lĩnh, người Hoa Lư, ông
đã dẹp yên mười hai sứ quân cát cứ, thống nhất đất nước
đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt; ông làm vua từ năm 967. Về
sau bị ám hại.
Đình
- Ngõ Đình, một ngõ ở phố Nam Đồng, cạnh số nhà 71.
Đình Đại
- Ngõ Đình Đại, ngõ ở phố Bạch Mai cạnh số nhà 189 đi
vào trong làng Bạch Mai xóm Đình Đông.
Ngõ Đình Đông,
ở đầu phố Nam Đồng, bên trong có Đình Đông Các của Thôn
Trung.
Đình Ngang
- phố Đình Ngang, trên đất thôn cũ Yên Trung Hạ, thời
Pháp thuộc gọi là Rue Tour de la Citadelle.
Về thời Hậu Lê, chỗ này có ngôi nhà Hoành Đình, tức là
một trụ sở đặt ngang đường Hàng Bông Lờ để kiểm soát
giấy tờ người ra vào trong Thành qua Cửa Nam.
Đoàn Kết
- Tên đặt cho nhiều ngõ xóm sau khi hoà bình lập lại
tiếp quản thủ đô năm 1954:
- Xóm bãi cát bờ sông Hồng, sau đổi là phố Bạch Đằng.
- Ngõ cuối phố Khâm Thiên cạnh số nhà 374.
Đoàn Thị Điểm
- Phố Đoàn Thị Điểm, trên đất thôn cũ Dao Trì; thời Pháp
có tên là Rue Tholance.
Đoàn Thị Điểm
(1705-1748) người làng Hiến Phạm (h. Văn Giang - Hưng
Yên), vợ Nguyễn Kiều. Bà là tác giả Truyền Kỳ tân phả
và dịch giả Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn.
Đoàn Trần Nghiệp
- Phố Đoàn Trần Nghiệp, trên đất thôn cũ Long Hồ và Hậu
Phong Vân; thời Pháp thuộc là Rue Gðnéral Coustan.
Đoàn Trần Nghiệp §
(còn có tên là Ký Con) người làng khúc Thuỷ (Thanh Oai
- Hà Đông), gia đình ở Phố Hàng Sơn, ông là đảng viên
hoạt động tích cực, trưởng ban ám sát của Việt Nam Quốc
Dân Đảng. Bị Pháp bắt và xử tử năm 1913, sau khi bị truy
lùng và đã trốn tránh nhiều tháng ở trong khu vực này.
Đô Lương
- Phố Đô Lương, tên đặt sau Cách mạng thángTám cho con
đường mới được người Pháp đánh số là Voie 267; chỗ đó là
đất cũ Vân Hồ.
Đô Lương,
đồn quân cũ của Pháp thuộc tỉnh Nghệ An, nơi đây đã nổ
ra cuộc khởi nghĩa của binh lính do Nguyễn Văn Cung lãnh
đạo (năm 1914).
Đỗ Hành
- phố Đỗ Hành, đất thôn cũ Tiên Mỹ; thời thuộc Pháp là
Rue Hautefeuille; năm 1945 sau Cách mạng tháng Tám đổi
gọi là phố Đặng Đình Nhân.
Đỗ Hành là một danh tướng thời Trần Nhân Tông, trong
kháng chiến chống quân Nguyên, đã bắt sống được Ô Mã Nhi
ở trận Bạch Đằng năm 1288.
Đỗ Hữu Vy
- Rue Đỗ Hữu Vy tên cũ phố Cửa Bắc thời thuộc Pháp.
Đỗ Hữu Vy,
người Nam Kỳ, là sĩ quan phi công trong quân đội Pháp,
chết năm 1917 trong chiến tranh thế giới I.
Đỗ Quyên
- Phố Đỗ Quyên, tên đặt thay cho phố Hà Văn Ký của người
Pháp; nay đổi là phố Vũ Lợi.
Đốc Ngữ
- Phố Đốc Ngữ, tên mới đặt năm 1986 cho con đường nối
phố Hoàng Hoa Thám với Phố Đội Cấn; trước đó con đường
có tên là phố Quần Ngựa vì nó đi ngang cổng bãi Quần
Ngựa ngày xưa.
Nguyễn Đình Ngữ
(1844 - 1892) một thủ lĩnh nghĩa quân chống Pháp ở vùng
Sông Đà - Ba Vì trong những năm 1885 - 1892; ông là
người làng Đường Lâm tỉnh Sơn Tây cũ.
Độc Lập
- Vườn Độc Lập; tên đặt sau Cách mạng tháng Tám thay cho
quảng trường Ba Đình (tên cũ thời Pháp là Rond Point
Puginier); tên Độc Lập là vì tại đây năm 1945 Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, nhưng nhiều
người lại nhớ tên Ba Đình hơn là Độc Lập.
Đội Cấn
- Phố Đội Cấn, trên đất mấy làng Vạn Phúc, Liễu Giai
thời Pháp có tên là Route du Champ de courses dân ta gọi
là Đường Mới Quần Ngựa.
Trịnh Văn Cấn,
người làng Yên Nhiên (h. Vĩnh Tường - Vĩnh Yên), đội khố
xanh đóng ở Thái Nguyên, theo Lương Ngọc Quyến Khởi
nghĩa đánh úp quân Pháp và chiếm thành phố (1917). Bị
thua và bị lùng bắt ông đã tự tử (1918).
Đội Cung
- Phố Đội Cung, ở trên đất thôn Long Hồ cũ và Vân Hồ,
thời Pháp thuộc con đường được đánh số Voie L 4; năm
1954 gọi là phố Thái Phiên.
Nguyễn Văn CungN,
người tỉnh Thanh Hoá, làm đội khố xanh; năm 1941 ông đã
cùng binh lính nổi dậy chống Pháp, chiếm đồn Đô Lương và
kéo quân về thị xã Vinh. Bị thất bại, bị bắt và bị xử
tử.
Đồn Thuỷ
- Đồn Thuỷ quân cũ của tỉnh Hà Nội phòng vệ phía nam
thành phố trên con đường thuỷ Sông Hồng. Đất thuộc địa
phận Cơ Xá Nam.
Năm 1873 triều đình Huế cắt đất này ch Pháp để lập Lãnh
sự quán, và nơi đây đã thành căn cứ của đế quốc Pháp để
tấn công và chiếm thành Hà Nội năm 1883.
Đông Hà
- Cửa Đông Hà, có tên gọi thông thường là Cửa Ô Quan
Chưởng, ở phường Đông Hà, chỗ đầu phố Hàng Chiếu. Là một
trong số mười sáu cửa ô của Hà Nội còn sót lại không bị
người Pháp phá bỏ khi mở mang phố xá.
Đông Kinh Nghĩa Thục - Vườn Đông Kinh Nghĩa Thục, ở trên
bờ tây bắc Hồ Gươm, chỗ cuối dốc Hàng Đạo, tên cũ thời
Pháp là Place Négrier.
Đông KinhNghĩa Thục
là tên một trường tư thục do một số nhà nho yêu nước
tiến bộ mở ra ở phố Hàng Đào với mục đích tuyên truyền
tư tưởng của phong trào Duy Tân. Trường mở tháng 3 năm
1908 thì đến tháng 10 đã bị thực dân bắt đóng cửa và tìm
cớ làm án tù đầy những người tham gia phong trào đó.
Đông Thái
- Phố Đông Thái, ở trên đất một giáp cũ của phường Hà
Khẩu. Có ngôi đền Đông Thái ở ngôi nhà số 6.
Đồng Khánh
- Boulevard Đồng Khánh, tên cũ phố Hàng Bài thời thuộc
Pháp.
Đồng Khánh
là niên hiệu vua Nguyễn Cảnh Tông (tên là Ưng Xuy) được
người Pháp đặt tên làm vu sau khi Hàm Nghi bỏ kinh thành
Huế lên Sơn Phòng chống Pháp.
Đồng Nhân
- Phố Đồng Nhân, mới có trên đất thôn cũ Đồng Nhân, một
thôn phụ của làng Đồng Nhân ngoài bờ sông, có đền thờ
Hai Bà Trưng.
Đồng Xuân
- Chợ Đồng Xuân, thành lập vào cuối thế kỷ 19 trên đất
thôn Đồng Xuân.
Phố Đồng Xuân:
Phố ở mặt trước Chợ Đồng Xuân, thời Pháp thuộc gọi là
Rue du Riz (phố Hàng Gạo).
Đuôi Cá
- Tên gọi thông thường của đoạn phố Trương Định chỗ nối
với ngã ba đường đi Văn Điển (nay gọi là Đường Giải
Phóng).Gọi là Đuôi Cá vì chỗ ngã ba hai con đường vào
thành phố chẽ ra như hình đuôi con cá.
Đức Khánh
- Impasse Đức Khánh, tên cũ Ngõ Hàm Long 2.Đức Khánh là
tên thôn cũ ở địa điểm này.
Đường Bưởi
- Tên gọi đoạn luỹ đất từ Chợ Bưởi đến ngã tư Cầu Giấy.
Đường Láng
- Tên gọi đoạn đường dọc sông Tô Lịch từ Cầu Giấy đến
Ngã Tư Sở, qua đất ba làng Láng.
Đường Thành
- Phố Đường Thành, ở trên đất thôn cũ Đông Thành và Cổ
Vũ; thời thuộc Pháp gọi là Rue dela Citadelle.
E - F
Eckert
- Square Eckert , tên cũ Vườn hoa Tây Hồ thời thuộc
Pháp.
Eckert
, viên quan cai trị người Pháp, đã có thời kỳ làm Đốc lý
Hà Nội (một trong "tứ hung " trong giới quan lại thực
dân: nhất Đạc ( Darles,) nhì Ke (Eckert); tam Be (De
Galembert), tứ Bích (Brides).
Faure
- Boulevard Félix Faure, tên cũ phố Trần Phú thời thuộc
Pháp; thời tạm chiếm là phố Hàm Nghi.
Félix Faure (1841-1899), một nhà kinh doanh kiêm
nhà chính trị, tổng thống nước Pháp từ 1895 đến 1899.
Feithsamel
- Rue Feithsamel, tên cũ Đường Hàm Tử Quan thời thuộc
Pháp.
Fellonneau,
tên một kỹ sư cầu đường có thời kỳ phụ trách một số đại
công tác Công chính ở Bắc Kỳ.
Ferry
- Rue Jules Ferry, tên cũ phố Hàng Trống và đoạn phía
nam phố Lê Thái Tổ thời thuộc Pháp.
Jules Ferry
(1832-1893), thủ tướng nước Pháp, người chủ trương đánh
chiếm Bắc Kỳ cho kỳ được.
Foch
- Rue Maréchal, tên cũ phố Cổ Tân thời Pháp. Square M
al Foch, tên cũ Vườn hoa Nhà Hát Lớn.
Ferinand Foch
(1851 - 1929), sĩ quan cấp tướng của Pháp có công
trong Chiến tranh thế giới I (1914-1918) được phong hàm
thống chế; đã có thời kỳ sang đóng ở Hà Nội.
Fourès
- Rue Fourès, tên phố Đinh Lễ (P. th).
Julien Auguste Fourès
(1853-1915), quan cai trị người Pháp đã làm Thống sứ Bắc
Kỳ năm 1859-1899.
France
- Rue de France , tên cũ đoạn đầu phía đông Tràng Tiền
thời thuộc Pháp.
Thời tạm chiếm - phố Pháp Quốc gồm cả Rue de
France và Rue Paul Bert đến ngã tư Hàng Bài.
G
Galet
- Rue Galet, tên cũ phố Lương Ngọc Quyến (đoạn phía
tây) thời thuộc Pháp.
Galliéni
- Boulevard Galliéni, tên cũ phố Trần Phú (đoạn phía
đông) thời thuộc Pháp; thơì tạm chiếm gọi là phố Hàm
Nghi.
Joseph Glliéni
(1849-1916) sĩ quan Pháp đã từng ở Soundan, Bắc Kỳ và
Madagascar; có công trong Chiến tranh thế giơí
1914-1918, được phong hàm Thống chế.
Gambetta
- Boulevard Gambetta , tên cũ phố Trần Hưng Đạo thời
thuộc Pháp Léon Gambetta (1838-1882) chính trị gia Pháp:
Chủ tịch Quốc hội (1879), thủ tướng (18810.
Gầm Cầu
- Phố Gầm Cầu, trên đất thôn cũ Huyền Thiên và Phúc Lâm,
ở hai bên cạnh cầu xây dẫn xe hoả.
Garnier
- Bouelvard Francis Garnier; tên cũ phố Đinh Tiên Hoàng
thời thuộc Pháp.
Fancis Garnier
( 1839-1873) sĩ quan hải quân Pháp, đã thăm dò sông Cửu
Long (1873).
Géraud - Rue Gé raud, tên phố cũ Tạ Hiền thời thuộc
Pháp.
Giác G
- Rue Sergent Giác, tên cũ ngõ Huế thời thuộc Pháp .
Giác, nguyên là đội khố đỏ..
Gia Định
- Phố Gia Định, tên đặt cho phố Tông Đản trong những năm
1945-1946 và 1948-1954; tên cũ trước 1945 là Rue de la
Chaux (phố Hàng Vôi).
Gia Định
là tên một tỉnh ở Nam Bộ.
Gia Long
- Boulevard Gia Long, tên cũ phố Bà Triệu (tên thông
thường là Hàng Giò) thời thuộc Pháp.
Gia Long
(1802-1819), niên hiệu vua Nguyễn Thế Tổ Nguyễn Ánh, một
nhà vua thân Pháp.
Gia Ngư
- phố Gia Ngư, trên đất thôn cũ Gia Ngư và phần lòng hồ
Thái Cực bị lấp.
Giải Phóng G
- Phố Giải Phóng, tên đặt cho phố Đồng Nhân hồi đầu cách
mạng 1945-1946.
Đường Giải Phóng,
tên mơí đặt năm 1986 cho một đoạn con đường Hà Nội -Văn
Điển, đoạn từ Ngã tư Kim Liên đến hết Đuôi Cá.
Giải Phóng: Khu Giải Phóng ở Việt Bắc gồm mấy tỉnh Cao -
Bắc - Lạng - Tuyên - Thái, căn cứ địa của Việt Minh
những năm 1944 - 1945.
Giang Văn Minh
- Phố Giang Văn Minh, tên mới đặt cho con đường từ phố
Cát Linh - Kim Mã vào Núi Bò thôn Vạn Phúc (năm 1986).
Giang Văn Minh
(1582-1638), người làng Mông Ph?, xã Đường Lâm, Sơn
Tây, đỗ tiến sĩ khoa Mởu Thìn (1628), đi sứ cho nhà
Minh, đối đáp cứng cỏi, không chịu để nhục quốc thể, bị
vua Minh giết hại.
Giảng Võ
- Đường Giảng Võ, đường phố mới mở trên cơ sở bức luỹ
đất cũ, thuộc thôn Giảng Võ.
Giếng
- Ngõ Giếng, ngõ trên đường phố Nam Đồng, cạnh số nhà
40.
Ngõ Giếng
(tức ngõ Đại Đồng), ngõ trên đường phố Khâm Thiên, cạnh
số nhà 160.
Giếng Hậu Khuông
- Ngõ Giếng Hậu Khuông, ở phố Bạch Mai.
Hậu Khuông
là tên một xóm của làng Bạch Mai, người trong xóm là
ngưoiừ làng Mui (Yên Duyên) làm nghề buôn bán trầu vỏ.
Giếng Mứt
- Ngõ Giếng Mứt, ở phố Bạch Mai, cạnh số nhà 480, đi vào
chùa Mứt trong làng Bạch Mai; cạnh chùa có giếng xây,
nay đã bị lấp.
Giovaninelli
- Boulevard Giovaninelli, tên cũ phố Lê Hồng Phong thời
thuộc Pháp; thuộc tạm chiếm gọi là phố Tôn Thất Thuyết.
Ange Laurent Giovaninelli
( 1837-1903): Sĩ quan Pháp cấp tướng, đến Bắc Kỳ năm
1883.
Gốc Đề
- Ngõ Gốc Đề, ở Đường Minh Khai, ngõ đi vào làng Hoàng
Mai, thôn Đông, cạnh số nhà 146.
Gốc Khế
- Ngõ Gốc Khế, ở Đường Đội Cấn, cạnh đầm làng Vạn Phúc.
Goussard
- Rue Goussard, tên cũ phố Tuệ Tĩnh (P. th), tên thông
thường là phố Chợ Đuổi.
Grafeuil
- Rue Grafeuil, tên cũ phố Bích Câu (P.th)
Grafeuil,
tên một viên quan cai trị ngươì Pháp đã từng giữ chức
Thống sứ Bắc Kỳ (1935).
Grand Bouddha
- Boulevard Granddha, tên cũ phố Quan Thánh thời thuộc
Pháp (Grand Boulddha là Ông Phật Lớn, chỉ tượng thánh
Trấn Vũ).
Grappin
-Rue Grappin, tên cũ phố Cao Thắng (P. th)
Groleau
- Rue Elie Groleau, tên cũ phố Chùa Một Cột (P.th)
Elie Groleau:
Tên một viên sĩ quan cai trị người Pháp, đã giữ chức
Thống sứ Bắc Kỳ (1907).
Guillemoto
- Quai Guillemoto , tên cũ phố Trần Quang Khải thời
thuộc Pháp.
Charles Marie Guillemoto
(1837-1907), kỹ sư, làm giám đốc Sở Công chính Đông
Dương năm 1897, phụ trách xây dựng đường hoả xa xăm
(1895-1901).
H
Hà Hồi
- Ngõ Hà Hồi, thuộc đất cũ thôn Liên Trì; thời thuộc
Pháp gọi là Cité Jauréguiberry.
Hà Hồi,
một thôn của Ngọc Hồi (h. Thường Tín - Hà Đông) có một
trạm dịch là Hà Nội. Nơi đây đã diễn ra trận đánh đêm
mồng 5 tháng Giêng Kỷ Dậu (1789), quân Tây Sơn đã phá
được hệ thống phòng thủ Thăng Long của quân Thanh.
Hà Trung
- Phố Hà Trung, thuộc đất thôn cũ Yên Trung Thượng. Đời
Nguyễn có đặt nhà trạm dịch ở phố này gọi là Trạm Hà
Trung.
Hà Văn Ký H
- Rue Hà Văn Ký, tên cũ phố Vũ Lợi thuộc Pháp.
Hà Văn KýH
là sĩ quan trong quân đội Pháp, đi càn quét nghĩa quân
Bắc Sơn và bị giết năm 1914.
Hai Bà Trưng
- Phố Hai Bà Trưng, một đường phố lớn đi qua đất những
thôn cũ Đông Mỹ, Tây Luông, Vũ Trạch, Nam Hưng. Thời
thuộc Pháp gọi là Boulevard Rollandes.
Hai Bà TrưngH,
tức hai chị em Trưng Trắc - Trưng Nhị, năm 40 đã nổi dậy
đánh đuổi quân đô hộ nhà Hán, giành lại độc lập cho dân
tộc. Bà Trưng lên ngôi, làm vua được ba năm ( 40-43),
đóng đô ở Mê Linh. Đền thờ Hai Bà Trưng ở làng Đồng Nhân
và ở Hạ Lôi.
Hài Tượng
- Phố Hài Tượng ở trên đất thôn Hài Tượng xưa thuộc
phường DũngThọ.
Hài Tượng Hghĩa
là thợ làm giày. Trong thôn có nhiều gia đình họ Phạm
người làng Chắm (Trúc Lâm - Hải Dương) chuyên làm thợ
giày; trong thôn có đền thờ ba vị tổ sư nghề làm da
thuộc.
Hailais
- Rue Hailais, tên cũ một đoạn phố Nguyễn Du (thời
thuộc Pháp) đi sát bờ hồ Thiền Quang.
Charles Emile Hailais
(1846-191...) tên một viên quan cai trị đã từng giữ chức
Đốc lý Hà Nội (1886-1893).
Hàm Long
- Phố Hàm Long, thuộc đất thôn cũ Hàm Châu và Hàm Khánh;
thời thuộc Pháp gọi là Rue Doudard de Lagrée. Trong phố
trước đây có ngôi chùa cổ ở số nhà 18 gọi là Chùa Hàm
Long xây từ đời Lý (thế kỷ 11), chùa bị phá hoại hoàn
toàn cuối năm 1946, chỉ còn sót lại mấy tấm bia lớn.
Hàm Nghi
- phố Hàm Nghi, tên đặt thay cho tên Pháp cũ là Rue
Félix Faure và Galliéni, sau Cách mạng tháng Tám (từ
1947 đến 1954) hồi đầu cách mạng là phố Nguyễn Phạm
Tuân; đến 1954, gọi là phố Trần Phú.
Hàm Nghi,
niên hiệu của nhà vua nhà Nguyễn tên là Ưng Lịch, lên
ngôi năm 1884, đã chạy theo Tôn Thất Thuyết lên Sơn
Phòng Quảng Bình, xuống hịch Cần Vương kháng chiến chống
Pháp. Bị bắt năm 1888 và đầy đi Rðunion rồi bị an trí ở
Algérie.
Hàm Tử Quan H
- đường mở đi từ đê ra bờ sông Hồng, trên đất thôn cũ
Thuỷ Cơ Lãng Hồ; tên thời Pháp thuộc là Digue
Fellonneau.
Hàm Tử QuanH:
địa danh trên bờ sông Hồng thuộc huyện Khoái Châu (Hưng
Yên) nơi đã diễn ra trận đánh thắng quân Nguyên (tháng
4-1285) của các tướng Trần Nhật Duật, Trần Quốc Toản.
Hàn Thuyên
-Phố Hàn Thuyên, đất thôn cũ Đức Bác, Nhân Bác và Nhân
Chiêu; tên cũ thời thuộc Pháp là Rue Pavie.
Ngõ Hàn ThuyênN,
tên cũ là Impasse Pavie.
Hàn Thuyên H (thế kỷ 13), họ Nguyễn, người làng Vụ Cầu
(Hạ Hoà -Phú Thọ), có tài liệu chép là người làng Thanh
Lâm (Nam Sách N - Hải Dương), đỗ Thái học sinh năm
1247, làm quan đơì Trần; ông là người có tài làm thơ nôm
kiểu Đường luật, gác giả Phi sa tập.
Hàng Áo Cũ
- Phố Hàng Áo Cũ, tên gọi
Hàng Áo Cũ
- Phố Hàng Áo Cũ, tên gọi thông thường một đoạn của phố
Thuốc Bắc về cuối thế kỷ 19, chuyên bán các thứ chăn màn
quần áo cũ.
Hàng Bạc
- Phố Hàng Bài, đất các thôn cũ Vũ Thạch - Hồi Mỹ; tên
cũ thời thuộc Pháp là Boulevard Đồng Khánh.
Có tên Hàng Bài vì xưa kia ở quãng đầu phố có một số gia
đình có nghề sản xuất và bán bài lá (tổ tôm, tam cúc,
bất...)
Hàng Bát Đàn
- Gọi gọn là Phố Bát Đàn, đất cũ thôn Nhân Nội Thị; thời
Pháp thuộc gọi là Rue Vieille des Tasses (Phố cũ Hàng
Chén).
Trong phố tập trung nhiều cửa hàng bán các đồ hàng đàn:
bát đĩa ấm chén Bát Tràng và Móng Cái.
Hàng Bát Sứ
- Gọi gọn là phố Bát Sứ, đất thôn cũ Đông Thành Thị;
thời Pháp thuộc gọi là Rue des Tasses (Phố Hàng Chén).
Trong phố tập trung nhiều cửa hàng bán đồ sứ buôn của
Tàu: ấm chén, bát đĩa, đôn chậu, lộc bình sứ trắng sản
xuất ở Giang Tây.
Hàng Bè
- Phố Hàng Bè, đất thôn cũ Gia Ngư. Tên chữ Pháp Rue des
Radeaux.
Phố trước kia ở mé bờ sông Hồng, có bến Nam Phố (đầu
hàng Mắm®), chỗ bè nứa gỗ đậu.
Còn có tên nữa là phố Hàng Cau.
Hàng Bồ
- Phố Hàng Bồ, đất cũ thôn Nhân Nội (tên chữ Pháp là Rue
des Paniers).
Trước kia trong phố có một số gia đình làm nghề đan bán
bồ bằng nứa.
Hàng Bông
- Phố Hàng Bông (Rue du Coton) rất dài, từ Hàng Gai đến
Cửa Nam, chia làm nhiều đoạn đều có tên riêng:
Hàng Hài
ở trên đất thôn CổVũ; có những cửa hàng bán hài, nón, đồ
thờ điện bằng giấy.
Hàng Bông Đệm
trên đất thôn cũ Kim Bát Hạ; đoạn này có nhiều nhà làm
nghề bật bông, bán mền bông, chăn đệm.
Hàng Bông Cây Đa Cửa Quyền,
trên đất mấy thôn cũ Đông Mỹ - Thương Môn Đông Hạ; những
cửa hàng cho thuê xe ô tô con tập trung ở đoạn phố này.
Hàng Bông Lờ,
từ ngõ Hội Vũ đến Cửa Nam, đất thôn cũ Yên Trung Hạ; phố
có bán các loại đó, đơm, lờ đánh cá.
Hàng Bông Thợ Nhuộm,
đoạn phố ngắn cuối phố Hàng Bông trông ra vườn hoa Cửa
Nam cạnh phía đông trên đất thôn cũ Đông Mỹ. Hồi đầu thế
kỷ, người phố này gốc làng Huê Cầu và Liêu Xá có nghề
nhuộm thâm các loại vải lụa.
Hàng Bột
-Phố Hàng Bột, đất cũ thôn Cổ Giám, Văn Chương và phường
Thịnh Hào. Tên cũ thời Pháp là Rue Soeur Antoine. Tên
Hàng Bột là do đầu phố này có tên Thanh Miến, Thục Miến
nghĩa là làng có nghề làm bột nếp bột tẻ.
Hàng Bún
- Phố Hàng Bún, đất thôn cũ Yên Ninh và Yên Thành (P.
th: Rue des Vermicelles).
Xưa kia làng Yên Ninh có nghề cổ truyền làm bún bán
trong các chợ.
Hàng Buồm
- Phố Hàng Buồm, đất phường cũ Hà Khẩu (Ph. th: Rue des
Voiles).
Tại đây ngày xưa có nhiều gia đình làm nghề dệt mành
buồmT, chiếu buồm bằng cói.
Phố này về sau là nơi tập trung Hoa Kiều người Quảng
Đông, họ có nhà Hội quán; phố đông các hiệu ăn.
Hàng Bút
- Phố Hàng Bút, đất thôn cũ Đông Thành Thị (một cạnh
của khu chợ Đông Thành). Tên của Pháp đặt là Rue
Cambanère.
Trước đây phố nhỏ này có tên là phố Hàng Mụn, có nghề vá
thuê quần áo và khâu bùa tua bùa túi (đồ treo cho trẻ em
Tết Đoan Ngọ); còn tên Hàng Bút là để chỉ đoạn đầu phía
nam, phố Thuốc Bắc bây giờ, chỗ có những cửa hàng bán
giấy Bưởi, bút lông.
Hàng Bừa
- Cũng có tên là Hàng Cuốc: tên thường gọi phố Lò Rèn
khi chưa có tên chính thức.
Hàng Cá
- Phố Hàng Cá, một đoạn sông Tô Lịch bị lấp; đất cũ của
Giáp Đông, thôn Thuận Mỹ. Thời thuộc Pháp là Rue de la
Poisonnerie (phố cửa hàng bán cá). Trước kia bờ sông Tô
Lịch là chỗ bán tôm cá tươi.
Hàng Cân
- Phố Hàng Cân, đất cũ thôn Hữu Đông Môn và Xuân Yên
(Ph. th: Rue des Balances).
Trong phố có nghề làm và bán cân T (cân ngang).
Hàng Cau
- Phố Hàng Cau là tên cũ đoạn đầu phố Hàng Bè; tại đây
trước có nhiều người buôn bán cau tươi và cau khô (cau
từ miền Nam Trung Bộ chở ra bằng thuyền).
Hàng Chai
- Ngõ Hàng Chai, đất cũ thôn Vĩnh Trù. Thời Pháp thuộc
gọi là Ruelle Ngõ Ngang.
Một ngõ nhỏ dân phố làm nghề bán chai lọ cũM, bao chè
thiếc. Trong ngõ có đình Giáo Phường thờ tổ sư người làm
nghề hát ả đào.
Hàng Cháo
- Phố Hàng Cháo, đất cũ làng Yên Trạch; thời thuộc Pháp
gọi là Rue Bảng Nhãn Đôn.
Phố này có tên thông thường là phố Hàng Hương vì trong
phố có nghề chẻ tăm hương và làm hương đen bán cho đình
chùa và thắp ngày Tết. Còn tên Hàng Cháo có lẽ do người
trong phố có nhiều gia đình làm nghề bán cháo rong đi
bán các phố.P
Hàng Chè - Phố Hàng Chè là tên thường gọi đoạn phố nối
phố Cầu Gỗ với bờ Hồ Gươm, thuộc thôn Tả Vọng, nay là
phố Hoàn Kiếm. Tên cũ thời Pháp là Rue de la
Philharmonique (Phố Nhà Hoà Nhạc).
Quãng phố này có nhiều quán hàng nước chè tươi bán cho
khách qua đường.
Hàng Chỉ
- Phố Hàng Chỉ, một ngõ nhỏ trên đất thôn cũ Tố Tịch.
Trong ngõ trước kia có một số gia đình làm nghề se chỉ;
nghề se chỉ không còn thì dân phố là những người nhận
công việc đóng đồ gỗ, sơn, vẽ cho những nhà có cửa hàng
ngoài Hàng Hòm.
Hàng Chiếu
- Phố Hàng Chiếu, đất cũ thôn Thanh Hà; thời thuộc Pháp
đặt tên là Rue Jean Dupuis, nhưng người Hà Nội không
dùng mà cứ gọi là phốMới. Chỗ đầu phố giáp cổng ô Thanh
Hà có nhiều cửa hàng bán các loại chiếu cói, cũng vì thế
mà đoạn phố phía ngoài cổng, người Pháp đặt tên là Rue
des Nattes en Jonc (phố chiếu cói).
Hàng Chĩnh
- Phố Hàng Chĩnh, đất thôn cũ Ưu Nghĩa và xóm Phất Lộc,
phường Hà Khẩu (Ph. th. Rue des Vases). Gần nửa ô Ưu
Nghĩa có bán chĩnh, chum, vại và hũ bằng sành.
Hàng Chuối
- Phố Hàng Chuối, đất cũ thôn Hữu Vọng và Nhân Chiêu,
chỗ hồ Hữu Vọng dưới đã bị lấp. Tên cũ thời thuộc Pháp
là Rue Général Beylié.
Trên nền đất hồ cũ sau khi bị lấp là một bãi lớn trồng
chuối.
Ngõ Hàng chuối cũng có tên là Impasses Beylié.
Hàng Cỏ
- Ngõ Hàng Cỏ, đất cũ thôn Yên Tập (Ph. th. Côté Chân
Hưng).
Hàng Cỏ
là tên gọi chung khu vực bên dưới Hàng Lọng đoạn đường
Cái Quan (Route Mandarine) khi chưa có nhà cửa là những
bãi trống, tại đó người cắt cỏ tập trung người gánh cổ
đến bán cho các trại nuôi voi ngựa trong thành và người
trong phố có ngựa cưỡi.
Ga HàngCỏ,
nhà ga chính của Sở Hoả xa Đông Dương, xây dựng tại khu
vực này.
Hàng Cơm
- Tên thường gọi trước kia của đoạn phố nay là phố Văn
Miếu, chỗ có nhiều hàng cơm quán trọ dành cho học trò
trường Giám.
Hàng Cót
- Phố Hàng Cót, đất thôn cũ Ngũ Giáp và Tân Khai, và
giáp Giáo Phường thôn Đồng Thuận. Thời Pháp thuộc gọi là
Rue Takon (phố Đường Cô).
Ngày xưa chỗ này có nhiều nhà làm nghề chẻ nứa đan cót
bán.
Hàng Da
- Phố Hàng Da, đất thôn cũ Yên Nội, Bắc Thượng và Bắc Hạ
(Ph. th. Rue des Cuirs).
Chợ Hàng Da,
chợ họp ở đầu mấy con đường gặp nhau ở quãng này: Hà
Trung - Hàng Da - Hàng Điếu - Đường Thành - Yên Thái;
chợ này trước kia là nơi buôn bán da trâu bò sống chưa
thuộc.
Hàng Dầu H
- Phố Hàng Dầu: đất thôn cũ Tả Vọng và Kiếm Hồ. Tên cũ
thời Pháp là Rue du Lac (phố trông ra hồ). Trong khu phố
trước đây có nhiều cửa hàng bán các loại dầu lạc, dầu
vừng, dầu trẩu để ăn và để thắp đèn trước khi dầu Tây
được phổ biến.
Hàng Đào
- Phố Hàng Đào, đất phường Đại Lợi - Đồng Lạc - Tên cũ
thời Pháp là Rue de la Soie (phố bán tơ lụa).
Phường Đại Lợi trước kia có nghề nhuộm lụa các màu đỏ
của người gốc làng Đan Loan (có đình Hoa Lộc thị).
Hàng Đàn
- Phố Hàng Đàn, tên gọi cũ thông thường đoạn cầu phía
bắc phố Hàng Quạt.
Nơi đây tập trung những cửa hàng làm đồ gỗ, trước kia là
đòn, kiệu, long đình, ngai ỷ và đồ nhỏ gia dụng.
Hàng Đẫy
- Phố Hàng Đẫy, tên thường gọi của khu vực đằng sau chợ
Cửa Nam, chỗ con hào cũ phía nam thành trì sau bị lấp,
đất của thôn Yên. Thời Pháp thuộc có tên là Rue
Duvillier, nay là phố Nguyễn Thái Học.
Tên Hàng Đẫy
là do ở đó tập trung những người buôn chuyến lâm sản,
hàng đựng trong những đẫy vải.
Hàng Đậu
- Phố Hàng Đậu, đất cũ phường Hoè Nhai và thôn Nghĩa Lập
(Ph. th. Rue des Graines).
Phố gần bến sông có bán các thứ đậu hạt và có nghề làm
đậu phụ.
Hàng Điếu
-Phố Hàng Điếu, đất cũ thôn Yên Nội; thời Pháp: Rue des
Pipes. Trong phố có mấy nhà là điếu và bán điếu hút
thuốc lào, và nhiều cửa hàng làm đồ da của người làng
Chắm Phương Lâm - Hải Dương.
Hàng Đồng
- Phố Hàng Đồng, đất cũ thôn Đông Thành Thị. Đoạn đầu
phố giáp Hàng Mã có nhiều cửa hàng bán đồ đồng như đỉnh,
chuông, mâm, nồi, sanh, chậu, ấm, cây đèn, sau thêm đồ
nhôm.
Thời thuộc Pháp đoạn phố này thuộc phố Bát Sứ (Rue des
Tasses) và Rue du Cuivre (Phố hàng Đồng) là phố Hàng Mã
bây giờ.
Hàng Đũa
- Phố Hàng Đũa, khu vực cư dân ở bên trong phố Sinh Từ
(nay là Nguyễn Khuyến), thuộc đất mấy thôn cũ Ngự Sử,
Lương Sử, gồm nhiều xóm dân nghèo.? đó có nghề vót đũa
tre bán.
Hàng Đường
-Phố Hàng Đường, đất thôn cũ Vĩnh Hanh và Đức Môn (P.th:
Rue du Sucre).
Phố chuyên bán đường mứt bánh kẹo.
Hàng Gà
- Phố Hàng Gà - đất thôn cũ Tân Lập và Tân Khai (P. th.
Rue Tien Tsin - Phố Thiên Tân).
Phố gần Cửa Đông thành cũ, có nhiều nhà buôn gà vịt cung
cấp cho nhà binh Pháp trong thành. Thông thường người ta
gọi là Hàng Gà Cửa Đông để phân biệt với Hàng Gà Chợ
Hôm.
Đoạn đầu phố giáp Nhà Hoả, còn có tên là Phố ThuốcNam vì
đoạn phố đó có nhiều cửa hàng bán các vị thuốc nam.
Hàng Gai
- Phố Hàng Gai, đất thuộc phường Đông Hà và phường Cổ Vũ
(P.th: Rue du Chanvrre).
Từ lâu trong phố có mấy nhà bán dây gai thừng võng. Hàng
Gai chủ yếu có nghề in sách mộc bản và khắc bản in gỗ.
Tháng 8 có bán đồ chơi Tết Trung Thu.
Hàng Giấy
- Phố Hàng Giấy, đất thôn cũ Hoè Nhai và Huyền Thiên (P.
th. Rue du Papier). Một thời trong phố có những hàng bán
giấy bản bày bán ở lề đường, những ngày phiên chợ. Những
năm cuối thế kỷ 19- đầu 20, trong phố có một số ít nhà
mở nhà hát ả đào.
Hàng Giày
- Phố Hàng Giày, đất cũ phường Hà Khẩu và Dũng Thọ (P.
th. gồm 2 phố gắn: Rue Lataste + Rue Nguyễn Duy Hàn).
Có nghề đóng giày dép của người gốc ba làng Chắm Hải
Dương (Phong Lâm - Văn Lâm -Trúc Lâm).
Hàng Giò
- Phố Hàng Giò, tên gọi thông thường của đoạn đầu phía
bắc phố Bà Triệu bây giờ (thời Pháp thuộc đặt tên là
Boulevard Gia Longt). Di tích của một số nhà trong phố
có nghề làm và bán giò chả nem thịt lợn.
Hàng Hài
- Tên gọi thông thường của đoạn đầu phía đông phố Hàng
Bông, giáp Hàng Gai - Hàng Trống; trong phố bán hài,
nón, đồ thờ điện bằng giấy.
Hàng Hành
- Phố Hàng Hành, đất cũ thôn Báo Khánh và Khánh Thuỵ Tả
(P.th: Ruelle des Oignons).
Không rõ nguyên do đâu mà có tên Hàng Hành; trước kia
trong ngõ là chỗ trú ngụ của thợ khắc và tiện gỗ, người
làng Nhị Khê và Liễu Chàng.
Hàng Hòm H
- Phố Hàng Hòm, đất thôn cũ Yên Thái và Thuận Mỹ (P.th:
Rue des Caisses).
Trong phố có nhiều nhàlàm và bán đồ gỗ sơn, hòm gỗ, gốc
làng Hà Vĩ (Thường Tín - Hà Đông).
Hàng Hương
- Ngõ Hàng Hương: đất thôn cũ Nhân Nội (chính là đất cũ
chân tường thành Hà Nội). Phố nhỏ, nhiều người gốc làng
Đông Lỗ (Kim Động) có nghề làm hương thẻ, hương sạ.
(Thời Pháp gọi lá Cité Maréchal Joffre).
Phố Hàng Hương, một tên khác của phố Hàng Cháo, vì ở đây
có nghề làm hương đen.
Hàng Kèn H
- Dốc Hàng Kèn, tên thông thường của một đoạn phố
Jauréguiberry, nay là phố Quang Trung.
Hàng Khay
- Phố Hàng Khay, đất thôn cũ Tả Vọng và Vũ Thạch (P.th.
một đoạn của Rue Paul Bert)s.
Trong phố có nhiều cửa hàng bán hàng đồ khảm xà cừ: tủ,
sập, khay, tráp..
Hàng Khoá
- Phố Hàng Khoá, tên cũ một đoàn phố Thuốc Bắc, gần Hàng
Đồng.
Hàng Khoai
- Phố Hàng Khoai, đất thôn cũ Huyền Thiên. Phố ở cạnh
chợ Đồng Xuân, tập trung nhiều hàng rong bán khoai và
các thứ củ (P.th. Rue des Tubercules).
Hàng Lam
-Tên cũ phố Hàng Ngang (xem Hàng Ngang).
Hàng Lọng
- Tên cũ đoạn phố Nam Bộ về cuối thế kỷ 19m nơi làm và
bán lọng cho các quan và đình chùa.
Hàng Lược
- Phố Hàng Lược, thuộc đất thôn Phủ Từ, thôn Vĩnh Trù.
Thời Pháp gọi là Rue Sông Tô Lịch vì chỗ này là một đoạn
của con sông đó sau khi bị lấp và còn lại cái cống thoát
nước, nên ta gọi là Cống Chéo Hàng Lược.
Phố có những nhà buôn và bán lược chải đầu.
Hàng Mã
- Phố Hàng Mã, đất thôn cũ Yên Phú. Tên cũ thời Pháp
thuộc là Rue du Cuive, vì phố này đoạn phía tây bán đồ
đồng và đoạn phía đông gần chợ Đồng Xuân có nghề làm
hàng mã, thứ hàng mã nhỏ như đèn, giấy, hoa giấy, tiền
giấy, áo mũ giấy để cúng Thổ công; còn đồ mã lớn như nhà
tầng, voi, ngựa hình nhân cho các đám tang, đám cúng mã,
cúng cầu mát thì làm ở Hàng Mã, một đoạn của phố Mã Mây.
Hàng Mắm
- Phố Hàng Mắm, đất thôn Trừng Thanh; trước kia chỗ đó
là cửa ô Ưu nghĩa (P.the: Rue de la Saumure). Trong phố
có những cửa hàng chuyên bán nước mắm, mắm tôm, tôm cá
khô và các thứ thuỷ sản khác. Sau thêm một số cửa hàng
bán bia đá, cối đá, mộ chí.
Hàng Màn
- Phố Hàng Màn, tên thường gọi đoạn đầu phố Hàng Giày,
giáp với Hàng Chiếu. Đoạn phố này có những hàng rong bày
bán các loại màn vải thưa to nhỏ.
Hàng Mành
- Phố Hàng Mành, đất thôn Yên Thái và phường Kim Cổ (P.
th. Rue Stores).
Người làng Giới Tế (Yên Phong Y - Bắc Ninh) ngụ ở phố
này chuyên làm và các đồ làm bằng mây.
Hàng Mụn
- Tên phố Hàng Bút bây giờ (Xem hàng Bút).
Hàng Muối
- Phố Hàng Muối, đất thôn cũ Ưu nghĩa (P. th. Rue du
Sel).
Phố nhỏ, có những kho muối của mấy nhà buôn muối có cửa
hàng ở nơi khác.
Hàng Nâu
- Tên gọi thông thường của một đoạn phố Trần Nhật Duật,
giáp với ? Quan Chưởng; chỗ các thuyền buôn đậu chỗ
hàng lâm sản, nâu chứa trong mấy nhà phố Thanh Hà (bản
đồ cũ của Pháp ghi phố Thanh Hà là Ruelle Củ Nâu).
Hàng Ngang
-Phố Hàng Ngang, trên đất phường cũ Diên Hưng.
? thế kỷ 18 gọi là Hàng Lam, phố bán đồ tơ lụa màu xanh
lam (cũng như Hàng Đào bán đồ tơ lụa màu hồng, cánh
sen....); đến thế kỷ 19 có tên là phố Việt Đông, phố
những người Hoa Kiều Quảng Đông, cho nên đến thời Pháp
thuộc dịch là Rue des Cntonnais.
Còn tên Hàng Ngang thì hiện nay chưa rõ nguồn gốc.
Hàng Nón
- Phố Hàng Nón, đất thôn Yên Nội và phường Cổ Vũ (Ph.
th. Rue des Chapeaux).
Phố Hàng Nón
gồm hai phố cũ: Hàng Nón đoạn phía nam, bán các loại nón
đội đầu (nón lá, nón dứa, nón lông) và phố Mã Vĩ: đoạn
phía bắc, có những cửa hàng bán đồ hiệu, thao và đạo cụ
hát bội (râu tóc giả, mũ mãng cân đai, quần áo tuồng
...)
Hàng Phèn
- Phố Hàng Phèn, đất thôn cũ Đông Thành Thị; một đường
phố ở bên cạnh chợ Đông Thành cũ nên thời Pháp thuộc
người ta đặt tên là Rue Vieuax Marché (phố Chợ cũ).
Trong phố có những cửa hàng tạp hoá bán các loại phèn,
phèn chua, phèn đen.
Hàng Quạt
- Phố Hàng Quạt, đất thôn cũ Tô Lịch và Xuân Yên. Trước
thời Pháp thuộc là hai phố: phố Hàng Quạt (bán quạt) nay
là một đoạn của phố Lương Văn Can, và phố Hàng Đàn nay
là phố Hàng Quạt, có những cửa hàng làm đồ gỗ nhỏ gia
dụng (Ph. th Rue des Eventailles).
Hàng Rươi
- Phố Hàng Rươi, đất thôn cũ Vĩnh Trù và An Phú (Ph. th
. Rue des Vers Blancs)s.
Tên Hàng Rươi
có phải làdo hàng năm tại đây về mùa rươi, người ta buôn
từ địa phương về bán ở đây không?
Hàng Sắt
- Tên gọi thông thường của đoạn đầu phố Thuốc Bắc giáp
Hàng Mã (trước là Hàng Đồng) có những cửa hàng buôn
khoá, buôn sắt và vật liệu xây dựng.
Hàng SơnH
- Tên cu thời thuộc Pháp của phố Chả Cá, (Rue de la
Laque).
Hàng Than
- Phố Hàng Than, đất thôn cũ Hoè Nhai và Yên Thuận (Ph.
th. Rue du Charbon).
Làng Thạch Khối xưa có nghề nung vôi - sau trong phố
thêm một số nhà bán than gỗ dùng cho hoả lò.
Hàng Thiếc
- Phố Hàng Thiếc, đất thôn cũ Yên Nội và Đông Thành.
Trước kia phố này sản xuất và bán những đồ dùng thiếc
đúc như cây đèn, ấm, chóp nón; sau không có bao chè cũ
bằng thiếc thì người ta gò đồ sắt tây của thùng đầu hoả
cũ, nên người Pháp gọi là Rue des Feblantiers (phố thợ
làm sắt tây), rồi thêm nguyên liệu tôn kẽm làm thùng,
chậu, ấm ...
Hàng Thùng H
- Phố Hàng Thùng, đất thôn cũ Nam Phố. Thời thuộc Pháp
đó là hai phố Rue Randong và Rue des Seaux.
Trong phố có nghề làm thùng gánh nước ghép bằng tre nứa
gắn sơn ta.
Hàng Tre
- Phố Hàng Tre, đất thôn Trừng Thanh Tả giáp, Bảo Linh,
Trừng Thanh Trung Nghĩa hầu, Thanh Yên (Ph. th. Rue des
Bambous).
Chỗ này giáp bờ sông gần chỗ đỗ của bè tre nứa có những
nhà buôn bán lâm sản ở đó.
Hàng Trống
- Phố Hàng Trống, đất cũ thôn Tư Pháp. Trong phố có mấy
nghề truyền thống to nhỏ của người làng Liêu Thượng
(Hưng Yên) - nghề làm lọng của người làng Đào Xá (Thường
Tín) - nghề thêu của người làng Quất Động (Thường Tín) -
nghề làm tranh thờ nổi tiếng của người làng Tư Pháp.
Thời Pháp thuộc có tên là Rue Jules Ferry, từ đầu Hàng
Gai đến Hàng Khay.
Hàng Trứng
- Tên gọi thông thường của hai nơi: - chỗ đầu phía đông
phố Hàng Mắm, tức là bên ngoài cửa ô Mỹ Lộc, trước kia
trứng đưa bằng thuyền từ Nam Định - Thái Bình lên, được
bán buôn ở đây, nên có tên là phố Hàng Trứng;
- Ngõ Hàng Trứng là một tên gọi khác của phố
Đông Thái cạnh Chợ Gạo.
Hàng vải
- Phố Hàng Vải, đất thôn cũ Đông Thành Thị (P.th. Rue
des?toffes ).
Trong phố có cửa hàng bán vải tấm nhuộm nâu non và nhuộm
thâm lá sòi và bùn. Và để khỏi lẫn với Hàng Vải là một
đoạn của phố Thuốc Bắc bây giờs cũng bán vải, nên người
ta còn gọi là Hàng Vải Thâm.
Hàng Vôi - Phố Hàng Vôi, đất thôn cũ Kiếm Hồ và Tây
Luông. Thời thuộc Pháp: Rue de la Chaux gồm cả phố Hàng
Vôi và phố Tông Đản.
Trong phố trước kia có nhiều cửa hàng bán vôi sống bốc
từ các thuyền buôn lên.
Harmand - Rue Harmand, tên cũ thời thuộc Pháp của phố
Trần Xuân Soạn. Jules Harmand (1854 - 19..) - Bác sĩ y
khoa và là nhà dân tộc học và ngoại giao
Đến Nam Kỳ năm 1865; ra Bắc năm 1873, làm đại
diện của Pháp ký hoà ước với triều đình Huế. Về Paris
tổ chức khu Đông Dương của Hội chợ Quốc tế 1878
Hautefeuille
- Rue Hautefeuille , tên cũ thời thuộc Pháp của Đỗ Hành.
Paul Hautefeuille (1852 - ?...) Phó thuỷ sư đô đốc, tham
gia cuộc xâm lược Bắc Kỳ năm 1873.
Hậu Khuông
- Ngõ Giếng Hậu Khuông, ở phố Bạch Mai, cạnh số nhà 312.
Hậu Quân Chất
- Rue Hậu Quân Chất, tên cũ thời thuộc Pháp của phố Mai
Xuân Thưởng.
Lê Chất
một tướng công thần của Nguyễn ánh, đã được cử làm Tổng
trấn Bắc Thành thời Gia Long và bị Nguyễn Thế Tổ làm
tội.
Hébrard
- Square Hébrard, tên cũ thời thuộc Pháp của Vườn hoa
Kính Thiên.
Hébrard:
một kiến trúc sư đã vạch chương trình quy hoạch khu vực
Cửa Tây thành Hà Nội.
Hérel de Brisis
- Rue Hérel de Brisis, tên cũ thời thuộc Pháp phố Thi
Sách.
Henri d' O rléans
- B d Henri d' O rléans, tên cũ thời thuộc
Pháp phố Phùng Hưng.
Henri d' O rléans: Xem chữ Orléans.
Hillaret
- Rue Hillaret, tên cũ thời thuộc Pháp ngõ Nguyễn Hữu
Huân (thời tạm chiếm là ngõ Bạch Thái Bưởi).
Hoà Bình
-Tên mới của nhiều ngõ: ở phố Khâm Thiên, cạnh số nhà
214.
-? phố Minh Khai, có 5 ngõ Hoà Bình 1-2-3-4-5 đều ở phía
sau Chợ Mơ mới.
Hoà Mã
- Phố Hoà Mã, đất thôn cũ Đổi Mã (hoặc Thụ Mãh) sau đổi
là Hoà Mã . Thời Pháp là Rue Amiral Sénès.
Đổi Mã có nghĩa là "thay áo"; chùa Hoà Mã là nơi vua Lê
mỗi năm tế Nam Giao, lại dừng ở đây để thay áo.
Hoả Lò
- Phố Hoả Lò, đất cũ thôn Phụ Khánh - tên Pháp là Rue de
la Prison (Phố Nhà Ngục).
Làng Phụ Khánh có nghề đắp hoả lò bằng đất nung bán
trong các chợ; đất làng bị sung công xây nhà ngục, tên
làng còn lại.
Hoàn Kiếm
- Phố Hoàn Kiếm, phố ngắn thông phố Cầu Gỗ với bờ hồ
Hoàn Kiếm, thuộc thôn Tả Vọng. Tên cũ thời Pháp là Rue
de la Philhar - monique (Phố Hội Hoà Nhạc). Ngày xưa tên
nôm thông thường là phố Hàng Chè.
Hoàng An
- Ngõ Hoàng An, một ngõ ở phố Kim Liên, đi thông vào
trong làng Trung Phụng (còn gọi là ngõ 60).
Hoàng Cao Khải
- Route Hoàng Cao Khải, tên thời Pháp của phố Lê Đại
Hành (con đường đất từ bến ô tô Kim Liên đi xuyên xuống
thôn Vân Hồ).
Hoàng Cao Khải
(1850-1933), tay sai đắc lực của thực dân Pháp, làm
Kinh lược Bắc Kỳ thời kỳ Pháp đàn áp nghĩa quân Bãi Sậy.
Lập ấp Thái Hà.
Hoàng Diệu
-Phố Hoàng Diệu, một đường phố trong thành nội cũ đi từ
Cửa Bắc đến Nguyễn Thái Học. Thời Pháp gọi là Bd
Pierre Paspuier.
Hoàng Diệu H
(1829-1882), người xã Xuân Đài (Quảng Nam), đỗ cử nhân
dân 1848, phó bảng năm 1853. Tổng đốc Hà Nội năm 1880
và
Hồng Phúc
- Phố Hồng Phúc, đất cũ phường Hoè Nhai. Trong phố có
chùa Hồng Phúc.
Hôpital Chinois
- Rue de I' Hôpital chinois, tên chữ Pháp của phố
NhàThương Khách, tức Phố Hoè Nhai bây giờ.
Huế
- Phố Huế, đất các thôn cũ Phục Cổ - Giáo Phường - Đông
Hạ - Yên Nhất ( P. th. Route de Hue ).
Phố này nguyên là đoạn đầu của con đường cái quan có đặt
trạm dịch đi từ Hà Nội vào Huế.
Thời tạm chiếm đã có tên là phố Duy Tân.
Hugo
- Rue Victor Huygo, tên cũ thời thuộc Pháp của phố Hoàng
Diệu; năm 1932 lại thay bằng tên khác là Avenue Pierre
Pasquier.
Hùng Vương
- Phố Hùng Vương, đất trong nội thành dọc tường thành
phía tây.
Thời thuộc Pháp là Avenue Brière de I' Isle .
Hùng Vương
là tên gọi các vua họ Hồng Bàng, dòng vua đầu tiên của
nước ta.
Huy Văn
- Ngõ Huy Văn, đất cũ thôn Huy Văn; ngõ ở phố Hàng Bột
cạnh số nhà 147, bên trong có đền Huy Văn, thờ hai mẹ
con vua Lê Thánh Tông.
Huyền Trân Công Chúa
- Phố Huyền Trân Công chuá, thời thuộc Pháp là phố
Duvigneau; thời tạm chiếm đổi là phố Huyền Trân Công
Chúa, năm 1964 lại đổi là phố Bùi Thị Xuân.
Huyền Trân
là con gái vua Trần Nhân Tông, lấy vua Chiêm Thành là
Chế Mân, vua Chiêm đem hai Châu Ô và Lý làm lễ cưới. Ô
và Lý nay là hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên.
Hưng Ký
- Ngõ chùa Hưng Ký, ở phố Minh Khai, cạnh số nhà 228 đi
vào làng Hoàng Mai.
Hưng Long
- Ngõ Hưng Long, ở phố Nam Đồng, cạnh số nhà 221.
Hương Miến
- Ngõ Hương Miến - ở phố Hàng Bột, cạnh số nhà 35; còn
có tên là phố 215. Hương Miến là tên thôn cũ.
Hương Tuyết
- Ngõ chùa Hương Tuyết, ở phố Bạch Mai, cạnh số nhà 205;
bên trong có chùa Hương Tuyết.
I - J
Identité
- Impasse de I' Identité, tên cũ thời Pháp thuộc của ngõ
Lý Thường Kiệt.
Indentité
nghĩa là căn cước. Trong ngõ trước kia chỉ có gia đình
nhân viên Sở mật Thám Pháp ở.
Incrusteurs
- Rue des Incrusteurs: Phố chợ Khảm - Tên cũ phố Tràng
Tiền thời kỳ đầu Pháp thuộc.
Jabonille
- Rue Jabonille , tên cũ thời Pháp thuộc phố Hồ Xuân
Hương.
Jabonille,
tên một viên quan cai trị người Pháp, có thời kỳ làm
Thống sứ Bắc Kỳ.
Jacquin
- Rue Jacguin, tên cũ thời Pháp phố Ngô Thì Nhiệm.
Jambert
- Rue Jambert, tên cũ thời Pháp phố Nguyễn Trường Tộ.
Jardin Botanique
- Tên chữ Pháp vườn Bách Thảo.
Jauréguiberry
- Boulevard Jauréguiberry, tên cũ thời thuộc Pháp phố
Quang Trung.
Cité Maréchal Joffre:
tên cũ xóm Hà Hồi.
Jaur éguiberry Jean
(1815-1887) Đô đốc Hải quân của Pháp, làm Bộ trưởng Hải
quân thời kỳ Pháp chinh phục Bắc Kỳ 1883.
Joffre
- Rue Maréchal, tên cũ phố Lý Nam Đế..
Cité Maréchal Joffre:
tên cũ Ngõ Hàng Hương.
Joseph Joffre
(1852-1931): Tướng Pháp được phong hàm Thống chế vì có
công trong Chiến tranh thế giới 1914-1918 (năm 1887 đã
đóng ở Hà Nội với hàm đại uý)
Jouhaux
- Rue Jouhaux , tên cũ thời Pháp phố Ngô Văn Sở.
K
Khang An
- Cité Khang An, tên cũ ngõ Lê Văn Hưu II.
Khâm Đức
- Ngõ Khâm Đức, ở phố Chợ Khâm Thiên, cạnh số nhà 60;
đất làng Khâm Đức.
Khâm Thiên
- Phố Khâm Thiên, đất các thôn cũ Tương Thuận - Trung
Tiền - Trung Tả - Tô Hiền - Lệnh Cư - Thổ quan. Đầu phố
có Núi Gò tức Thiên Đài, di chỉ toà Khâm Thiên Giám của
các triều đại cũ.
Khúc Hạo
- Phố Khúc Hạo, đất cũ trong nội thành; thời thuộc Pháp
gọi là Rue Charles Coulier.
Khúc Hạo,
người Hồng Châu (Hải Dương), con Khúc Thừa Dụ, thay cha
làm Tiết độ sứ, đặt nền móng cho thời kỳ đầu tự trị của
nước ta (907-917).
Kim Liên
- Phố Kim Liên, thuộc đất làng Kim Liên, cạnh bờ hồ
BảyMẫu. Đầu phố phía bắc là bến ô tô Kim Liên.
Kim Mã
- Phố Kim Mã, đất làng Kim Mã, Vạn Phúc, Giảng Võ, Ngọc
Khánh. Chỗ đầu phố, xưa kia là cửa ô Thanh Bảo, có bến ô
tô Kim Mã.
KimNgưu
- Phố Kim Ngưu, tên phố mới đặt năm 1986 cho con đường
đắp dọc sông Kim Ngưu sau khi được cải tạo, nối phố Lò
Đúc với phố Minh Khai.
Krug
- Cité Krug, tên cũ thời Pháp ngõ Phan Chu Trinh.
Krug
tên một đại biểu Hội đồng Thành phố Hà Nội vào năm 1920.
Kỳ Đồng
- Phố Kỳ Đồng, tên cũ phố Tống Duy Tân, đặt từ năm 1948
đến năm 1964.
Kỳ Đồng
là tên thường gọi của Nguyễn Văn Cẩm, người Nam Định,
sinh năm 1876, rất thông minh (nên được gọi là Kỳ Đồng);
người Pháp đưa sang Alger dạy d?, đỗ tú tài năm 1896. Về
nước, ông lên Yên Thế làm ruộng, liên lạc với Đề Thám,
bị Pháp bắt đày đi Guyane năm 1897.
L
La Thành
- Đê La Thành, tên gọi đoạn lũy đất cũ còn sót lại từ
ngã ba Giảng Võ qua? Chờ Dừa đến cửa ô Kim Liên. Chỉ mới
có đoạn đầu phía đông mới được cải tạot thành đường cái
cho xe cộ đi lại, đoạn phía tây vẫn chỉ là một con đê
đã bị xói mòn.
Labrousse
- Rue Capitaine Labrrousse: tên cũ thời thuộc Pháp của
Phố Lý Đạo Thành.
Labrousse:
sĩ quan pháp bị chết trong vụ Nghĩa Hoà Đoàn tấn công sứ
quán Pháp ở Bắc Kinh năm 1901.
Lac - Rue du Lac:
tên cũ thời Pháp phố Hàng Dầu. (Lac đây là Hồ Hoàn
KiếmL).
Lạc Chính
- Phố Lạc Chính: đất thôn cũ Lạc Chính trên bán đảo Hồ
Trúc Bạch.
Lạc Long Quân
- Phố Lạc Long Quân, tên mới đặt năm 1986 cho đoạn đường
phía tây Hồ Tây, từ ngã ba Nhật Tân đến Chợ Bưởi.
Lạc Long Quân một vị vua theo truyền thuyết là tổ tiên
các vua Hùng.
Lagisquet
- Rue Lambert: tên cũ thời Pháp thuộc phố Dã Tượng.
Lamblot
- Rue Lamblot, tên cũ thời Pháp thuộc phố Lý Quốc Sư.
Lan Bá-
Ngõ Lan Bá ở phố Chợ Khâm Thiên.
Landais
- Impasse Landais - Ngõ thuộc phốNhà Chung.
Landais:
tên một cố đạo Pháp, linh mục tại Nhà thờ Lớn Hà Nội.
Laque
- Rue de la Laque: tên chữ Pháp phố Hàng Sơn, nay là phố
Nguyễn Công Trứ.
Lataste
- Rue lataste, tên cũ thời Pháp phố Hàng Giày.
(De) Lattre de Tassigny
- Rue de Latttre de Tassigny, tên cũ đặt cho phố Nam Bộ
trong thời tạm chiếm từ 1952-1954.
Jean de Lattre de Tassigny
(1889-1952), sĩ quan cấp tướng của Pháp, có công trong
Chiến tranh thế giới thứ II được phong hàm Thống chế;
cầm quân ở Đông Dương năm 1951 - 1952 bị thua, về Pháp
rồi chết.
Laubarède L-
Rue Laubarède, tên cũ thời Pháp phố Đặng Thái Thân.
Laveran
- Rue Laveran, tên cũ thời Pháp phố Lê Văn Hưu.
Leblanc
- Rue Leblanc, tên cũ thời Pháp phố Gầm Cầu.
Lebois
- Rue Général Leclanger, tên cũ thời Pháp phố Lê Phụng
Hiểu.
Leclanger:
sĩ quan công binh Pháp, sang Bắc Kỳ thời kỳ đầu cuộc xâm
lược.
Tác giả mấy tập bản đồ Hà Nội.
Lecornu
- Rue Lecornu, tên cũ thời Pháp phố? u Triệu.
Lecornu,
tên một cố đạo Pháp làm linh mục lâu năm ở Nhà thờ Lớn
Hà Nội.
Leger
- Rue Marcel Leger, tên cũ thời Pháp thuộc phố Lê Quý
Đôn.
Lepage
- Rue Lepage, tên cũ thời Pháp phố Nguyễn Thiện Thuật.
Lê Bình
- Phố Lê Bình, tên đặt cho một phố của thời Pháp năm đầu
Cách mạng 1945.
Lê Bình:
chiến sĩ công an Gò Công, đã hy sinh trong cuộc chiến
đấu chống quân Pháp xâm lược thời kỳ đầu Nam Bộ kháng
chiến.
Lê Chân
- Phố Lê Chân, tên đặt thay cho Rue Simoni. Phố này sau
thành mộ chung chôn những chiến sĩ và dân thường bị chết
trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp tháng
12-1946. Năm 1982, nghĩa trang được di đi nơi khác và
đường phố mang tên mới là phố Tháng 12-1946.
Lê Chân:
một nữ tướng của cuộc Khởi Nghĩa Hai Bà Trưng, quê ở An
Biên, có đền thờ ở Hải Phòng gọi là Đề Nghè.
Lê Đại Hành
-Phố Lê Đại Hành, đất cũ thôn Long Hồ và Vân Hồ. Tên
cũ thời thuộc Pháp là phố Hoàng Cao Khải.
Ngõ Lê Đại Hành,
thông phố Lê Đại Hành với phố Thái Phiên.
Lê Đại Hành,
tên là Lê Hoàn, làm vua nước Đại Cồ Việt từ 980 đến
1005; ông có công phá quân Tống ở Chi Lăng giữ vững nền
độc lập cho đất nước.
Lê Hồng Phong
- Phố Lê Hồng Phong, đất trong nội thành cũ; thời Pháp
là Boulevard Giovaninelly; thời tạm chiếm là phố Tôn
Thất Thuyết.
Lê Hồng Phong
(1902-1942) người Nghệ An, xuất dương năm 1923, về nước
năm 1936, hoạt động cách mạng trong Đảng Cộng sản Đông
Dương, bị bắt năm 1938 và đầy ra Côn Đảo năm 1940, chết
năm 1942.
Lê Lai
- Phố Lê Lai - đất cũ thôn Cựu Lâu; thời Pháp thuộc gọi
là Rue Bonhour.
Lê Lai
tướng của Lê Lợi, tham gia nghĩa quân từ buổi đầu, tình
nguyện tự hy sinh để cứu Lê Lợi khi bị địch bao vây ở
Chí Linh năm 1419.? ng là người làng Dạng T?, Lương
Giang, huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá.
Lê Lợi
-
Rue Lê Lợi, tên cũ thời Pháp thuộc của phố Bà Triệu
(đoạn phía nam).
Lê Lợi
(xem chữ Lê Thái Tổ).
Lê Ngọc Hân
- Phố Lê Hân, đất thôn cũ Phương Viên; tên đặt trong
thời thuộc Pháp là Rue Luro, thời tạm chíêm đổi là phố
Lữ Gia; năm 1980 lại đổi là phố Lê Ngọc Hân.
Lê Ngọc Hân
(1770-1799) con gái vua Lê Hiển Tông gả con Nguyễn Huệ
khi ông đem quân ra Bắc lần thứ nhất 1786. Tác giả Ai
tư vãn.
Lê Như Hổ -
Phố Lê Như Hổ, đất cũ thôn Cổ Thành, con đường ở cạnh
Sân vận động Hàng Đãy, thời Pháp thuộc đánh số Voie 203.
Lê Phụng Hiểu
- Phố Lê Phụng Hiểu, đất thôn cũ Vọng Hà và thôn Cổ Tân;
thời Pháp gọi là Rue Leclanger.
Lê Phụng Hiểu
người làng Băng Sơn (huyện Hoằng Hoá - Thanh Hoá) một
danh tướng thời Lý Thái Tổ, có công dẹp loạn Tam Vương,
phù Lý Thái Tông lên ngôi năm 1028.
Lê Quý Đôn
- Phố Lê Quý Đôn, đất thôn cũ Yên Xá; thời thuộc Pháp
gọi là Rue Marcel Leger.
Rue Lê Quý Đôn,
tên cũ phố Lương Văn Can trước năm 1945.
Lê Quý Đôn
(1726-1783) người làng Diên Hà (Thái Bình) đậu tiến sĩ
năm 1752, thông minh, học rộng nổi tiếng, biên soạn
nhiều sách về các loại; tác giả Lê triều thông sử -
Quế Đường thi văn tập - Quần thư khảo biện - Vân Đài
loại ngữ - Kiến Văn tiểu lục...
Lê Thạch
- Phố Lê Thạch, đất thôn cũ Cựu Lâu; thời Pháp gọi là
Avenue Chavassieux.
Lê Thạch,
người Lam Sơn, theo nghĩa quân Lê Lợi từ buổi đầu, tử
trận ở Lỗi Giang năm 1421.
Lê Thái Tổ
- Phố Lê Thái Tổ, đất các thôn cũ Khánh Thuỵ Tả và Hữu -
Tự Tháp - Phúc Phố - Tô Mộc; con đường dọc theo bờ phía
tây Hồ Gươm.
Lê Thái Tổ,
tên là Lê Lợi (1385-1433) người Lam Sơn (Thanh Hoá) dựng
c khởi nghĩa chống ách đô hộ nhà Minh (1418) chiến đấu
gian khổ trong mười năm giải phóng đất nước; ông làm vua
từ 1428 đến 1433.
Lê Thánh Tông
- Phố Lê Thánh Tông, đất thôn cũ Hậu Lâu - Hữu Vọng và
Tây Luông; tên cũ thời Pháp thuộc là Boulevard Bobillot.
Lê Thánh Tông,
tên là Tư Thành (1442-1497), lê ngôi năm 1460, niên hiệu
là Hồng Đức. Thời Hồng Đức là thời thịnh trị nhất của
chế độ phong kiến Hậu Lê: Thánh Tông là một vị vua có
nhiều võ công hiển hách, đồng thời là một nhà chính trị
có tài (luật Hồng Đức); ông còn là một nhà thơ nôm đặc
sắc.
Lê Trực
- Phố Lê Trực, đất thôn cũ Thanh Minh, chỗ nền đồn Hữu
quân cũ; tên Pháp là Rue Lebois.
Lê Trực,
người làng Thanh Thuỷ (h. Tuyên Hoá - Quảng Bình), giữ
chức Đề đốc Hà Nội khi quân Pháp xâm lược Bắc Kỳ; ông
hưởng ứng hịch Cần Vương, tham gia phong trào chống
Pháp; sau khi Hàm Nghi bị bắt, ông lui về quê.
Lê Văn Hưu L
-Phố Lê Văn Hưu, đất các thôn cũ Hành Môn - Tràng Khánh;
tên cũ thời Pháp là Rue Lveran.
Ngõ Lê Văn Hưu I:
tên cũ là Cité Bảo Hưng.
Ngõ Lê Văn Hưu II:
tên cũ là Cité Khang An.
Ngõ Lê Văn Hưu III:
tên cũ là Cité Tràng Khánh.
Lê Văn Hưu
(1230-1322) người làng Phủ Lý trung (huyện Thiệu Hoá -
Thanh Hoá), đỗ bảng nhãn năm 1247. Tác giả cuốn sử đầu
tiên do người Việt soạn: Đại Việt sử ký.
Lê Văn Linh
- Phố Lê Văn Linh, đất nội thành ở góc đông bắc. Tên
Pháp là Rue Gðnéral Noguès.
Lê Văn Linh
(1377 - 1448) Một danh tướng của Lê Lợi người làng Hải
Lịch (Thọ Xương - Thanh Hoá), tham gia nghĩa quân ngay
từ buổi đầu.
Lệnh Cư
- Ngõ Lệnh Cư, ở phố Khâm Thiên, đất thôn Quan Trạm xã
Thổ Quan.
Liên Hoa
- Ngõ Liên Hoa, ở trong thôn Linh Quang, trong phố có
chùa Liên Hoa; lối đi vào ở cạnh số nhà 142.
Liên Trì
- Phố Liên Trì, đất cũ thôn Liên Trì, thời Pháp thuộc
gọi là phố Trạng Trình.
Llonde
- Rue Llonde, tên cũ thời Pháp của phố Cấm Chỉ (nay là
ngõ Hàng Bông Lờ).
Logerot
- Rue Alfred Logerot, tên cũ thời Pháp phố Phùng Khắc
Khoan.
Logerot,
tên một viên Đốc lý Hà Nội tại chức khoảng những năm
1906-1914.
Lò Đúc
- Phố Lò Đúc, đất thôn cũ Phương Viên - Cảm Hội và Lương
Yên. Thời Pháp thuộc là Avenue Armand Rousseau. Đoạn
dưới có tên là phố Đông Mác.
Đời Hậu Lê, đoạn đầu phố có đúc đồng và gang, và có chùa
Tổ Ong thờ Minh Không là tổ sư nghề đúc đồng.
Lò Lợn
- Ngõ Lò Lợn, ở cuối phố Bạch Mai, sát chợ Mơ, cạnh số
nhà 459. Nơi đây năm 1942 có lò mổ lợn.
Lò Rèn
- Phố Lò Rèn, đất cũ thôn Tân Lập (Ph. th.
Rue des Forgerons) - còn gọi là phố
Hàng bừa (hay Hàng Cuốc)
Lò Sũ
- Phố Lò Sũ, đất thôn Trang Lâu. Thời
thuộc Pháp gọi là Rue Pouyanne.
Trong
phố có nhiều cửa hàng đóng đồ gỗ và chuyên sản xuất quan
tài.
Luro
- Rue Luro, tên cũ thời Pháp thuộc
của phố Lê Ngọc Hân.
Luro, công chức thời Pháp làm việc ở Nam Kỳ, tác
giả nhiều cuốn sách nghiên cứu về xã hội Việt
Nam.
Lữ Gia
- Phố Lữ Gia, tên cũ phố Lê Ngọc Hân
từ 1948 đến 1979; tên thời Pháp thuộc là Rue Luro.
Lữ Gia
- Tể tướng đời vua Triệu, ông đã kịch
liệt chống lại âm mưu triều Tây Hán thôn tính nước Nam
Việt, và đã bị sát hại năm 111 trước công nguyên.
Lương Ngọc Quyến
- Phố Lương Ngọc Quyến, đất cũ phường Ngư Võng, thôn
Hàng Chai. Thời thuộc Pháp là hai phố: Rue Galet và Rue
Nguyễn Khuyến.
Lương Ngọc Quyến
(1885-1917) là con Lương Văn Can, sinh ở Hà Nội, tham
gia phong trào Đông Du; về nước bị bắt và kết án đày đi
Thái Nguyên; ông đã giác ngộ được đội lính khố xanh và
phát động cuộc binh biến do trung sĩ Trịnh Văn Cấn cầm
đầu, năm1917 nghĩa quân chiếm lấy tỉnh lỵ rồi rút vào
rừng tiếp tục chiến đấu. Lương Ngọc Quyến đã bị hy sinh.
Lương Sử
- Tên ba ngõ ở phố Quốc Tử Giám đi
vào thôn Lương Sử: Lương Sử A, B, C.
Lương Thế Vinh
- Phố Lương Thế Vinh là tên mới đặt năm 1986 cho con
đường từ đường Nguyễn Trãi vào khu Đài phát thanh Mễ
Trì.
Lương Thế Vinh
(1442 - ?) người làng Cao Hương (h. Vụ Bản - Nam Định)
thi hội khoa 1462 (Quang Thuận 4) đỗ Trạng Nguyên, làm
quan thời Lê Thánh Tông. Ông học rộng, viết sách Đại
thành toán pháp và làm nhiều thơ văn.
Lương Văn Can
- Phố Lương Văn Can, đất hai thôn cũ Tố Tịch và Báo
Khánh. Thời thuộc Pháp là Rue Lê Quý Đôn.
Lương Văn Can
(1854 - 1927) người làng Nhị Khê, ngụ ở Hàng Đào (Hà
Nội) đỗ cử nhân, là một trong số những người sáng lập ra
Đông Kinh Nghĩa Thục.
Lương Yên
- Phố Lương Yên, đất cũ thôn Lương Yên (thời thuộc Pháp,
con đường đánh số Voice 159).
Lyautey
- Route Maréchal Lyautey, tên đặt cho
đường Cổ Ngư về thời thuộc Pháp, nay đổi là đường Thanh
Niên.
Louis Lyautey
(1854-1934), tướng Pháp đã tham gia nhiều cuộc viễn
chinh tại Châu Phi và Đông Dương, được phong làm Thống
chế.
Lý Đạo Thành
- Phố Lý Đạo Thành, đất các thôn cũ Cựu Lâu - Hạ Hà. Tên
cũ thời Pháp là Rue Capitaine Labrousse.
Lý Đạo Thành,
người Cổ Pháp (Kinh Bắc), làm tể tướng thời Lý Thánh
Tông, nổi tiếng là cương trực; có công xây dựng đất nước
vững mạnh.Mất năm 1080.
Lý
Nam Đế
- Phố Lý
Nam Đế, đất trong nội thành, đường phố đi dọc theo tường
thành cũ phía đông. Thời thuộc Pháp gọi là Rue Maréchal
Joffre.
Lý Nam Đế,
tên là Lý Bôn (hay Lý Bí), người thôn Thái Bình (Tử
Đường, h. Thuỵ Anh, Thái Bình), khởi nghĩa năm 542 đánh
đuổi quân đô hộ nhà Lương, lên làm vua nhà Tiền Lý, đặt
quốc hiệu là Vạn Xuân. Mất năm 548.
Lý Quốc Sư -
Phố Lý Quốc Sư, đất thôn cũ Tiên Thị - thời Pháp thuộc
gọi là Rue Lamblot.
Lý Quốc Sư,
tên là Nguyễn Chí Thành, đi tu hiệu là Khổng Minh Không
(thường gọi là Thánh Không Lộ), người làng Đàm Xá (h.Gia
Viễn - Ninh Bình) có công chữa khỏi bệnh cho vua Lý Thần
Tông, được phong Quốc sư. Ông còn được coi là tổ sư nghề
đúc đồng. Tại Hà Nội có đền (vừa là chùa) thờ ông ở chùa
Tổ Ong (Lò Đúc), ở đình Ngũ Xã (Trúc Bạch) và đền Lý
Quốc Sư (ở cạnh Nhà thờ Lớn).
Lý Thường Kiệt
- Phố Lý Thường Kiệt, đất các thôn cũ Hồi Thuần - Nguyên
Khánh - Vũ Thạch - Phụ Khánh. Thời thuộc Pháp gọi là
Boulevard Carreau.
Rue Lý Thường Kiệt,
tên cũ thời Pháp của phố Ngô Sĩ Liên.
Lý Thường Kiệt
(1036-1105), tên thuở nhỏ là Ngô Tuấn, người phường Thái
Hoà (Đại Yên - Tổng Nội - h. Vĩnh Thuận), danh tướng đời
Lý có nhiều chiến công phá Tống (1075-1076), bình Chiêm
Thành (1069 và 1104).
Lý Văn Phức -
Phố Lý Văn Phức, đất thôn cũ Cổ Giám - Yên Trạch (Ph.th
Voie 204).
Lý Văn Phức
(1785-1849) người làng Hồ Khẩu (Kẻ Bưởi) đỗ cử nhân năm
1819. Tác giả: Nhị thập tứ hiếu - Ngọc Kiều Lê.
Lénine
- Công viên Lénine, tên mới đặt nămg
1982 cho công viên Thống Nhất, tức Công viên Bảy Mộu.
Lê Cảnh Tuân
- Phố Lê Cảnh Tuân, tên đặt thay cho phố Badens năm
1945-1946, sau đặt tên lại là Tôn Thất Thiệp.
Lê Cảnh Tuân,
người làng Mộ Trạch (h.Bình Giang - Hải Dương), đỗ Thái
học sinh đời Hồ; giặc Minh chiếm nước ta, ông viết bản
Vạn ngôn thư để cảnh tỉnh bọn nhà nho theo giặc Minh; bị
bắt về Trung Quốc và chết ở trong ngục.
Lê Hữu Cảnh
- Phố Lê Hữu Cảnh, tên phố Phan Huy Ích đặt năm
1945-1946.
Lê Hữu Cảnh
là đảng viên Việt Nam Quốc Dân đảng, sau thất bại Khởi
nghĩa Yên Bái, định cải tổ và phục hưng lại đảng, năm
1931 bị mật thám bao vây cơ sở Thanh Giám, ông cùng mấy
đồng chí bắn nhau với địch, tất cả đều bị hy sinh.
M
Mã Mây
- Phố Mã Mây, đất của giáp Hương Tượng phường Hà Khẩu.
Trước đây là hai phố: Hàng Mây (đoạn giáp Hàng Buồm) và
Hàng Mã (đoạn giáp Hàng Bạc). Thời thuộc Pháp có tên là
Rue des Pavillons Noirs (phố Quân Cờ Đen) vì năm 1883 có
một đơn vị quân Cờ Đen đóng ở phố này.
Mã Vĩ
- Phố Mã Vĩ, tên cũ thường gọi của
một đoạn phố Hàng Nón bây giờ. Phố Mã Vĩ trước đây
chuyên bán các loại hàng thêu, thao, các đồ đạo cụ cho
sân khấu tuồng chèo như áo bào, mũ mãng, râu tóc giả,
làm bằng lông đuôi ngựa (mã vĩ), và áo mũ triều phục cho
các quan lại.
Mạc Đĩnh Chi -
Phố Mạc Đĩnh Chi, đất thôn Năm Tràng trong bán đảo Ngũ
Xã.
(Tên Mạc
Đĩnh Chi đã được đặt cho mấy phố sau lại có sự thay đổi:
1946 phố Mạc Đĩnh Chi là phố Trịnh Hoài Đức bây giờ.
Mạc Đĩnh Chi (thế
kỷ 14), người làng Lũng Đông (h.Chi Linh - Hải Dương),
đỗ trạng nguyên năm 1304 đời Trần, là một nhà văn và một
nhà ngoại giao giỏi.
Mai Hắc Đế
- phố Mai Hắc Đế, đất các thôn cũ Giáo Phường - Phúc Lâm
Tiểu. Pháp thuộc gọi là Rue Charron (năm 1946 phố Mai
Hắc Đế là đoạn đầu phía Bắc phố Bà Triệu trên).
Mai Hắc Đế,
tên là Mai Thúc Loan, người làng Mai Phụ (h. Thạch Hà -
Hà Tĩnh), khởi nghĩa chống chính quyền đô hộ nhà Đường
năm 722, xưng làm Đế ở trên núi Vệ Sơn (thuộc huyện Nam
Đàn, Nghệ An).
Mai Hương
- Tên ngõ ở phố Bạch Mai; có hai ngõ Mai Hương:
- Ngõ
Mai Hương (cũ) ở cạnh số nhà 335 Bạch Mai, lối đi vào
qua một cổng xây nên còn gọi là Ngõ Cổng Gạch hay Ngõ
Gạch.
- Ngõ
Mai Hương (mới) ở cạnh số nhà 419 Bạch Mai, còn gọi là
Ngõ Bãi Bóng vì bên trong có bãi đá bóng, tại đó đã xây
một khu nhà tập thể lao động.
Mai Xuân Thưởng -
Phố Mai Xuân Thưởng, đất phường cũ Thuỵ Chương. Thời
Pháp có tên là Rue Hậu Quân Chất.
Mai Xuân Thưởng,
người Phú Lạc (h.Tuy Viễn - Bình Định) khởi nghĩa chống
quân xâm lược Pháp năm 1885 trong phong trào Cần Vương;
bị bắt và xử tử năm 1887.
Mangin - Rue Géneral Mangin, tên cũ thời
Pháp phố Ông Ích Khiêm.
Charle Mangin
(1866-1925) tướng Pháp chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp
ở Bắc Kỳ và Maroc (1900-1912), lập nhiều công trong
Chiến tranh thế giới I.
Mathis- Rue Constant Mathis, tên cũ thời
Pháp phố Nguyễn Huy Tự.
Mê Linh -
Vườn Mê Linh, đất thôn Bích Lưu (đằng sau Hoả Lò).
Mê Linh là kinh đô của Trưng Vương sau ngày
khởi nghĩa thành công, ở làng Hạ Lôi.
Miếu Chợ
- ngõ Miếu Chợ ở phố chợ Khâm Thiên,
cạnh chợ có ngôi miếu thờ, lối đi vào cạnh nhà số 10.
Minh Khai - Phố Minh Khai, đất các thôn Hoàng
Mai, Quỳnh Lôi và Mai Động. Đầu cách mạng gọi tên là phố
Bùi Thị Xuân. Thời tạm chiếm là phố Hưng Ký và phố Mai
Động.
Minh Khai
(1910-1941) tên là Nguyễn Thị Vinh, sinh ở Vinh. Xuất
dương sang Liên Xô; về nước hoạt động cách mạng trong
Đảng cộng sản Đông Dương (1930); bị bắt và bị xử tử năm
1940.
Miribel - Rue Resident Miribel, tên cũ thời
Pháp của phố Trần Nhân Tông. De Miribel, công
chức Pháp, có thời làm Thống sứ Bắc Kỳ (1907-1910).
Monceau
- Rue Capitaine Monceau, tên cũ thời
Pháp.
Montgrand - Rue Montgrand, tên cũ thời Pháp
phố Nguyễn Thượng Hiền.
Montgrand, sĩ quan Pháp bị chết trong vụ ném
bom vào khách sạn Hà Nội năm 1915, người ném bom là
Nguyễn Khắc Cần, một đảng viên của Quang Phục Hội.
Monpezgat - Rue Henri de Monpezgat, tên cũ con
đường dự kiến mở ở Ngọc Hà.
Henri de Monpezgat,
tên một công chức Pháp, sau khi ra kinh doanh mở đồn
điền, chủ ngựa thi, chủ bút báo La Valonté Indochinoise
(chống nhau với Albert Sarraut).
Morel
- Rue Rðsident Morel, tên cũ thời
Pháp phố Bà Huyện Thanh Quan.
Louis Joseph Morel
(1853-1911), công chức Pháp, Đốc Lý Hà Nội trong những
năm 1894-1895, Thống sứ Bắc Kỳ 1907.
Mỹ Ký -
Ngõ Mỹ Ký, ở phố Bạch Mai, cạnh số
nhà 403. Mỹ Ký là tên chủ đất có nhà cho thuê ở trong
ngõ.
Mỹ Quốc
- Phố Mỹ Quốc, tên đặt cho phố Tràng
Thi trong thời tạm chiếm (cùng thời kỳ với phố Pháp
Quốc, phố Anh Quốc).
N
Nam Bộ
- Đường Nam Bộ, đất các thôn Vĩnh Xương, Nam Môn Hoa Ngư
- Yên Tập. Đoạn đầu giáp Cửa Nam có tên thông thường là
phố Hàng Lọng; đoạn qua cửa ga Hoả xa có tên là Hàng Cỏ.
Thời thuộc Pháp dịch là Route Mandarine, nghĩa là Đường
Cái Quan, đường Thiên Lý từ Hà Nội vào Nam. Thời tạm
chiếm có tên là Rue de Lattre de Tassigny (năm 1986, gọi
là Đường Lê Duẩn).
Nam Đồng
- Phố Nam Đồng, từ Ô Chợ Dừa đến Gò Đống Đa,
đi ngang qua đất thôn Nam Đồng đoạn phía Bắc của phố Tây
Sơn.
Nam Hoa - Ngõ Nam Hoa, ở phố Hàng Bột, cạnh số nhà
221.
Nam Ký - Ngõ Nam Ký ở phố Lý
Nam Đế (Ph.th. Cité Nam Ký).
Nam Lai
- Ngõ Nam Lai, ở phố Chợ Khâm Thiên, cạnh số
nhà 100. Nam Lai là tên chủ đất có nhà cho thuê trong
ngõ.
Nam Nghĩa
- Khu Nam Nghĩa, tên đặt cho Ngõ Tràng An
(phố Huế) hồi đầu cách mạng 1945-1946.
Nam Ngư
- Phố Nam Ngư, đất thôn cũ Nam Môn Hoa Ngư.
Nam Thái
- Ngõ Nam Thái, ở phố Khâm Thiên, cạnh số
nhà 350, sau đổi là Ngõ Kiến Thiết.
Năm Tràng
- Phố Năm Tràng, ở trong bán đảo Ngũ Xã hồ
Trúc Bạch. Năm Tràng là năm lò đúc đồng, tên chữ là Ngũ
Xã.
Nðgrier - Place Nðgrier, tên cũ thời thuộc Pháp của
quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục.
Francois de Nðgrier (1831-1913) tướng Pháp chỉ huy quân
đội viễn chinh Pháp ở Bắc Kỳ những năm 1883-1884.
Neyret
- Rue Neyret, tên cũ thời Pháp của phố Cửa
Nam.
Place Neyret, tên cũ Vườn hoa Cửa
Nam (người ta thường gọi là Vườn hoa Bà Đầm Xoè, vì có
tượng thần Tự do). Nay là Vườn Bách Việt.
Noguès
- Rue Ge'néral Noguès, tên cũ thời Pháp phố
Lê Văn Linh.
Noguès:
sĩ quan cấp tướng của Pháp đã từng làm việc
ở Bắc Kỳ trong những năm mười của thế kỷ.
Nội Miếu
- Ngõ Nội Miếu, đất phường Đông Tác; ngõ
thông ra Hàng Bạc và Hàng Giày.
Nolly - Rue Emile Nolly, tên cũ thời thuộc Pháp
của phố Phạm Hồng Thái.
Emile Nolly,
bút danh của đại uý Detanger (1880-1914)
công chức người Pháp kiêm viết báo Việt văn.
Tác giả cuốn La barque annamite.
NG - NH
Ngã Tư Sở
- Đường Ngã Tư Sở, tên cũ của đoạn đầu đường Nguyễn
Trãi.
Khu vực Ngã Tư Sở là đầu mối các phố Tây Sơn
- Nguyễn Trãi - Đường Láng - Đại La. Ngã tư nằm trên địa
phận Thịnh Quang Sở.
Nghè Bô
- Ngõ Nghè Bô, ở phố Bạch Mai, cạnh số nhà
237. Trong ngõ có di chỉ Nghè các bô lão làng Bạch Mai.
Nghi Tàm
- Phố Nghi Tàm, tên mới đặt năm 1986 cho con
đường Yên Phụ cũ. Tên Yên Phụ được đặt cho con đường đê
bên ngoài.
Nghĩa Dũng
- Phố Nghĩa Dũng, con đường chính từ đê
xuống bãi Nghĩa Dũng.
Nghĩa Địa Tây
- Tên cũ gọi phố Nguyễn Công Trứ thời thuộc
Pháp trước khi có tên chính thức Rue Sergent Larrivée
(Phố Nghĩa Địa Tây: Route de La Cimetière).
Nghĩa Lộ
- Khu Nghĩa Lộ, tên đặt cho Ngõ Hàm Long I
năm 1946.
Nghĩa Lộ
là tên một trại giam tù chính trị những năm
1939-1945, đặt ở thị trấn Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái.
Nghĩa Lợi - Cité Nghĩa Lợi, tên cũ một ngõ ở phố Thi
Sách.
Ngõ Bò
-? phố
Nam Đồng, cạnh số nhà 90 (đất trong ngõ trước kia là một
bãi rộng chăn bò).
Ngõ Chợ
- Tên cũ ở phố Chợ Khâm Thiên (trước kia chỉ
là một ngõ nhỏ đi vào các xóm làng).
Ngõ Chùa
-? phố
Nam Đồng, cạnh số nhà 64, bên trong có chùa.
Ngõ Đất
- Một ngõ ở bên trong Ngõ Huế, lối vào là
con đường đất; gọi thế để phân biệt với Ngõ Sỏi cũng ở
gần đó, lối vào trải sỏi.
Ngõ Đình
-? phố
Nam Đồng, cạnh số nhà 71, lối đi vào đình Nam Đồng.
Ngõ Đồng
-? phố
Nam Đồng, con đường đi ra cánh đồng làng sau thành khu
cư dân, ngõ ở cạnh số nhà 233.
Ngõ Gạch
- Phố Ngõ Gạch, đất thôn cũ Hương Bài - Cổ
Lương - Hương Nghĩa - Dũng Thọ; thời thuộc Pháp gọi là
Rue des Briques.
Trong phố có nhiều nhà bán vật liệu xây dựng: gạch ngói
vôi xi măng...
Ngõ Giếng
-? phố
Nam Đồng, cạnh số nhà 40, đi vào chỗ có giếng nước ăn cũ
của làng.
Ngõ Hàng Thịt
- Ngõ ở đầu phố Hai Bà Trưng, giáp vơí đầu
phố Hàng Lọng (Nam Bộ), bên trong là gia đình những
người bán thịt rong cho các phố.
Ngõ Huế
- Đất thôn Đông Hạ; thời Pháp thuộc có tên
là Ruelle Sergent Giác.
Ngõ Huyện
- Phố Ngõ Huyện, đất thôn cũ Tiên Thị. Nơi
đây xưa là địa điểm huyện lỵ Thọ Xương.
Ngõ Nền Than
-? phố
Nam Đồng, nguyên là đất hồ cũ trũng, chủ đất cho xe xỉ
than san bằng làm nhà cho thuê (còn có tên là Ngõ Liên
Việt).
Ngõ Ngang
- Ruelle Ngõ Ngang, tên cũ thời Pháp thuộc
của phố Hàng Chai.
Ngõ Nhà Giáo
-? phố
Nam Đồng, cạnh số nhà 139. Còn gọi là Ngõ 85, tức số nhà
85 cũ Nam Đồng. Trong ngõ có ngôi nhà giảng giáo lý cho
dân sở tại của Nhà thờ Nam Đồng.
Ngõ Phổ Giác
-? phố Ngô Sĩ Liên, cạnh chùa Phổ Giác.
Ngõ Quỳnh
- Vẫn giữa tên gọi trước kia của con đường
nhỏ từ phố Bạch Mai, cạnh số nhà 153, đi vào làng Quỳnh
Lôi. Ngõ nay đã kín nhà hai bên đường và thành một đường
phố sầm uất.
Ngõ Sỏi -Một ngõ nhỏ trong Ngõ Huế, lối vào trải sỏi.
Ngõ Trạm
- Phố Ngõ Trạm, đất cũ của thôn Yên Trung
Thượng; thời thuộc Pháp gọi là Rue Bourret.
Nơi đây có di tích cũ của trạm dịch Hà Trung.
Ngọc Hà - Phố Ngọc Hà: đây là một con đường cũ đi ở
phía bên ngoài các xóm của làng Ngọc Hà, sớm có nhà cửa
và thành một đường phố (Ph.th. Route
de Ngọc Hà).
Ngọc Lâm
- Phố Ngọc Lâm, thuộc thị trấn Gia Lâm.
Ngô Quyền
-Phố Ngô Quyền, đất các thôn cũ Đông Thọ -
Hạ Hà - Hậu Lâu - Hàm Khánh. Thời thuộc Pháp có tên là
Boulevard Henri Rivière.
Ngô Quyền, người làng Đường Lâm (Cam Lâm - Sơn Tây)
người đã đánh tan quân lược nhà Tống trên sông Bạch Đằng
năm 938. Lên làm vua, đóng đô ở Cổ Loa, mở đầu cho thời
kỳ độc lập của nước Việt
Nam ta sau mười thế kỷ Bắc thuộc.
Ngô Sĩ Liên - Phố Ngô Sĩ Liên, đất thôn cũ Hậu Bà Ngô;
thời thuộc Pháp được đặt tên là Rue Lý Thường Kiệt.
Ngõ Ngô Sĩ Liên, tên cũ là Voie 288.
Ngô Sĩ Liên, người làng Chúc Lý (h.Chương Mỹ - Hà Đông)
đỗ tiến sĩ năm 1442; nhà sử học đại tài, tác giả Đại
Việt sử ký toàn thư.
Ngô Thì Nhiệm - Phố Ngô Thì Nhiệm, đất thôn cũ Hành Môn -
Giáo Phường - Hoà Mã - Cấm Chỉ. Tên cũ thời Pháp là Rue
Jacquin.
Ngô Thì Nhiệm (1746-1803), người Tả Thanh Oai (Hà Đông)
đỗ tiến sĩ năm 1775, làm quan triều Hậu Lê. Theo Tây
Sơn, có công trong chiến dịch phá quân Thanh năm 1789,
và coi việc giấy tờ bang giao với triều đình nhà Thanh,
Tây Sơn thua, ông bị bắt và vì có tư thù với Đặng Trần
Thường, bị giải vào Văn Miếu và bị đánh chết. Tác giả:
Hi Doãn Thi văn tập - Bang giao tập - Xuân Thu
quản kiến - Trúc Lâm tôn chỉ nguyên thanh.
Ngô Văn Sở
- Phố Ngô Văn Sở, đất phường Phúc Lâm cũ,
thời Pháp thuộc gọi là Rue Jouhaux.
Ngô Văn Sở, người làng Trảo Nha (Can Lộc - Hà Tĩnh),
danh tướng của Tây Sơn, thống lĩnh đội Bắc Hà cùng với
Ngô Thì Nhiệm đối phó với quân xâm lược nhà Thanh năm
1788.
Ngũ Xã- Phố Ngũ Xã trong bán đảo Ngũ Xã (hồ Trúc
Bạch). Thời thuộc Pháp có tên là phố Trần Hưng Đạo.
Ngũ Xã tên nôm là Năm Tràng, dân trong bán đảo gốc ở năm
làng thuộc tổng Đề Cầu (h.Thuận Thành - Bắc Ninh) có
nghề cổ truyền đúc đồng.
Nguyễn Biểu
- Phố Nguyễn Biểu, đất thôn cũ Tân Yên; thời
thuộc Pháp gọi là Rue des Frères Schneider.
Nguyễn Biểu,
người Nội Diễn (Đức Thọ - Nghệ An), đỗ tiến
sĩ đời Trần, làm chức ngự sử; năm 1413, ông cùng vua
Trần Trùng Quang chống nhau với quân xâm lược Minh ở
Nghệ An, ông đến trại giặc để thương thuyết, bị chúng ám
hại.
Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Phố Nguyễn Bỉnh Khiêm, đất thôn
Thiền Quang, Thế Giao và Long Hồ. Thời thuộc Pháp gọi là
Rue Daurelle.
Nguyễn Bỉnh Khiêm
(1491-1585) người làng Trung Am (Cổ
Am - Vĩnh Bảo - Hải Dương), đỗ trạng nguyên năm 1535,
làm quan với nhà Mạc. Ông cáo quan về làng dạy học, đào
tạo được nhiều nhân tài.
Tác giả: Bạch Vân am thi văn tập.
Nguyễn Cảnh Chân
- Phố Nguyễn Cảnh Chân, đất cũ nội
thành Hà Nội ở khu vực Tây Bắc. Thời Pháp là Rue
Destenay.
Nguyễn Cảnh Chân, người làng Ngọc Sơn (Nam
Đàn - Nghệ An) làm quan với nhà Hồ. Giặc Minh sang xâm
lược, ông theo nghĩa quân Trần Giản Định kháng chiến; vì
nội bộ mâu thuẫn ông bị ám hại năm 1408.
Nguyễn Cao
- Phố Nguyễn Cao, đất thôn cũ Cơ Xá Hạ. Con
đường về thời thuộc Pháp được đánh số là Voie 163; năm
1946 gọi là phố Nguyễn Thị Bình; đến năm 1946, gọi là
phố Chu Minh Trinh; tên phố Nguyễn Cao có từ 1964.
Nguyễn Cao (1828-1887)
người làng Cách Bì (h.Quê Dương - Bắc Ninh), đỗ giải
nguyên năm 1867; tham gia phong trào Cần Vương ở Hưng
Yên - Bắc Ninh; bị Pháp bắt và đem xử tử ở Hà Nội.
Nguyễn Chế Nghĩa - Phố Nguyễn Chế Nghĩa, đất thôn cũ Hàm
Châu, thời thuộc Pháp là Rue de Beau.
Nguyễn Chế Nghĩa,
người Hội Xuyên (h. Gia Lộc - Hải
Hưng) danh tướng đời Trần, lập nhiều chiến công trong
cuộc kháng chiến chống quân Nguyên (1287-1288).
Nguyễn Công Trứ
- Phố Nguyễn Công Trứ, đất thôn Cảm? ng.
Thời thuộc Pháp gọi là Rue Sergent Larrivée.
Rue Nguyễn Công Trứ:
tên cũ phố Châu Long thời thuộc Pháp.
Phố Nguyễn Công Trứ:
tên cũ phố Yên Thế năm 1946.
Nguyễn Công Trứ
(1778-1858) người làng Uy Viễn (h.Nghi Xuân
- Hà Tĩnh), đỗ giải nguyên năm 1819 làm quan nhà Nguyễn,
nhiều phen thăng trầm. Có tài quân sự, kinh tế và văn
học. Tác giả Thiên nam quốc âm ca khúc.
Nguyễn Du
- Phố Nguyễn Du, đất phường Phục Cổ, thôn
Liên Trì, thôn Cung Tiên.
Thời thuộc Pháp phố Nguyễn Du gồm ba phố Rue Riquier -
Rue Halais- Rue Dufoureq.
Ruelle Nguyễn Du, tên cũ thời thuộc Pháp đoạn phố Gia Ngư
giáp Hàng Đào.
Nguyễn Du (1765-1820)
quê làng Tiên Điền (h.Nghi Xuân - Hà Tĩnh) sinh và lớn
lên ở Thăng Long. Là một văn hào lớn của nước ta, tác
giả Truyện Kiều và Bắc hành thi tập - Nam trung tạm
ngâm.
Nguyễn Duy Hàn
- Phố Nguyễn Duy Hàn, tên đặt cho đoạn phía
nam phố Hàng Giày trong thời thuộc Pháp.
Nguyễn Duy Hàn, tuần Phủ Thái Bình, tên đặt cho đoạn
phía nam phố Hàng Giày trong thời thuộc Pháp.
Nguyễn Duy Hàn, tuần phủ Thái Bình,
bị đảng viên Phục quốc bắn chết về tội làm tay sai cho
thực dân phá hoại cách mạng (1917).
Nguyễn Đình Chiểu - Phố Nguyễn Đình Chiều, đất thôn cũ
Thể Giao - Long Hồ.
Thời thuộc Pháp là Voie D; tạm chiếm là Voie 296.
Phố Nguyễn Đình Chiểu là tên đặt cho phố Phủ Doãn năm
1945-1946; và cũng là tên đặt cho phố Nam Tràng từ 1946
đến 1948.
Nguyễn Đình Chiểu
(1821-1888) người Gia Định (làng Tân
Thới, h.Bình Dương), nhà nho mắc bệnh mù, có tinh thần
yêu nước cao. Tác giả: Lục Vân Tiên - Dương từ hà mậu
- Ngư tiều vấn đáp.
Nguyễn Gia Thiều - Phố Nguyễn Gia Thiều, đất thôn cũ Liên
Trì; tên thời thuộc Pháp là Rue Bonifacy. Hồi đầu cách
mạng 1945-1946, đổi là phố Ôn Như Hầu sau sửa là Nguyễn
Gia Thiều.
Nguyễn Gia Thiều
(1741-1798) người Liễu Ngạn (h.Xiêu
Loại - Bắc Ninh), tước Ôn Như Hầu. Tác giả Cung oán
ngâm khúc.
Nguyễn Hữu Huân
- Phố Nguyễn Hữu Huân, đất thôn cũ Mỹ Lộc và
Đông Yên.
Bản đồ xưa ghi là phố Bè Thượng (người Pháp chép là Rue
de la Digue); thời thuộc Pháp được đặt tên là Rue Bắc
Ninh, sau lại đổi là Rue Maréchal Pétain (1940); thời
tạm chiếm 1948-1954 gọi là phố Phan Thanh Giản; năm 1954
gọi tên như hiện nay.
Nguyễn Hữu Huân
người Tịnh Hà (h.Kiến Hưng, tỉnh Định
Tường), đỗ thủ khoa năm 1852. Khởi nghĩa chống Pháp, bị
bắt và đày sang đảo Réunion; được thả về ông lại khởi
binh, lại bị bắt và tự tử năm 1875.
Nguyễn Huy Tự
- Phố Nguyễn Huy Tự, đất thôn Yên Hội; thời
Pháp gọi là Rue Constant Mathis; năm 1945-1946 đổi tên
là phố Nguyễn Thị Kim, thời tạm chiếm là phố Nguyễn Lai
Thạch, sau sửa lại theo tên bây giờ.
Phố Nguyễn Huy Tự,
tên đặt cho phố Liên Trì năm
1945-1946 và tên đặt cho phố Gầm Cầu những năm
1948-1954.
Nguyễn Huy Tự
(1743-1790), người Trường Lưu (tổng Lai
Thạch - Hà Tĩnh), đỗ hương cống. Tác giả Truyện Hoa
Tiên.
Nguyễn Khắc Cần -
Phố Nguyễn Khắc Cần, đất thôn Cựu
Lâu, Hậu Lâu và Cục Bảo Toàn. Thời thuộc Pháp là Rue
Dutreuil des Rhins; sau đổi là phố Nguyễn Khuyến từ 1945
đến 1964.
Nguyễn Khắc Cần
(1875-1913) người Yên Viên (h.Từ Sơn - Bắc
Ninh), nhà nho dạy học, đảng viên Quang Phục Hội; năm
1913 ông ném bom vào khách sạn Hà Nội, giết chết mấy sĩ
quan Pháp; bị bắt và kết án xử tử.
Nguyễn Khắc Hiếu - Phố Nguyễn Khắc Hiếu, ở trong bán đẩo Ngũ
Xã hồ Trúc Bạch; thời Pháp là Voie 103.
Nguyễn Khắc Hiếu
(1888-1993) tên tự là Tản Đà, người
làng Khê Thượng (h.Bất Bạt - Sơn Tây), sống về viết sách
và viết báo. Nhà thơ lãng mạn lớp đầu của văn học hiện
đại. Tác giả Khối tình con - Giấc mộng con.
Nguyễn Khắc Nhu - Phố Nguyễn Khắc Nhu, đất thôn cũ Yên Ninh
Thượng; thời Pháp gọi là Rue Tiền Quân Thành; năm 1946
đổi là Phố Xứ Nhu sau sửa lại như bây giờ.
Nguyễn Khắc Nhu,
người Song Khê (h.Lạng Giang - Bắc
Giang) đỗ đầu xứ nên có tên là Xứ Nhu. Đảng viên Việt
Nam Quốc dân Đảng, chỉ huy nghĩa quân đánh Lâm Thao (năm
1930), bị tử trận.
Nguyễn Khoái
- đường Nguyễn Khoái, đất cũ thôn Hộ Yên và
Trung Chí; là con đê mới đắp nên người Pháp gọi là Digue
Nouvelle, sau gọi là Quai Rheinart.
Nguyễn Khoái, một danh tướng đời Trần, lập được nhiều
chiến công trong cuộc kháng chiến chống Quân Nguyên, đặc
biệt là trận thắng đoàn thuyền chiến của Ô Mã Nhi ở trên
sông Bạch Đằng 1288.
Nguyễn Khuyến -
Phố Nguyễn Khuyến, đất thôn cũ Nam Hưng - Huyền Ngô -
Ngọc Hà; tên đặt thay cho tên phố Sinh Từ có từ thời
Pháp thuộc.
Phố Nguyễn Khuyến,
tên cũ thời thuộc Pháp gọi một đoạn
của phố Lương Ngọc Quyến trong năm 1945-1946.
- Thời kỳ tạm chiếm 1948-1954 là tên gọi phố Nguyễn Khắc
Cần.
Nguyễn Khuyến (1835-1090) người làng Yên Đổ (h.Bình Lục -
Hà
Nam),
ba lần đỗ đầu các khoa thi Hương, thi Hội và thi Đình,
tiến sĩ năm 1871. Một nhà thơ lớn, tác giả Quế Sơn
thi văn tập.
Nguyễn Lai Thạch
- Tên cũ của phố Nguyễn Huy Tự (sửa
lại vì Lai Thạch chỉ là tên quê hương của Nguyễn Huy
Tự).
Nguyễn Lâm - Phố Nguyễn Lâm, đất trong nội thành cũ.
Thời Pháp gọi là Avenue Paul Doumer.
Nguyễn Lâm,
con trai Nguyễn Tri Phương (người Phong Điền
- Thừa Thiên), lấy con gái vua Nguyễn; ông ra Hà Nội
thăm cha gặp khi giặc Pháp tấn công thành trì, ông cùng
tướng sĩ chiến đấu và đã bị tử trận (1873).
Nguyễn Mậu Kiến
- Phố Nguyễn Mậu Kiến, tên cũ phố Nguyễn
Thiếp đặt hồi đấu cách mạng 1945-1946.
Nguyễn Mậu Kiến
(1819-1879), người Đông Trung (h.Kiến Xương
- Thái Bình), làm quan nhỏ, bỏ theo nghĩa quân chống
Pháp ở
Nam Định và Hưng Hoá, mất ở chiến khu. Tác giả Kinh Đài
tạp vịnh - Minh sử luận đoán khảo biện.
Nguyễn Phạm Tuân -Phố Nguyễn Phạm Tuân, đất cũ nội
thành gần Cửa Tây. Thời Pháp là Voie 143.
Nguyễn Phạm Tuân,
người Bắc Cứ (tỉnh Quảng Bình) đỗ cử
nhân năm 1873; ông bỏ quan tham gia phong trào Cần Vương
chống quân xâm lược Pháp là Rue Phạm Phú Thứ.
Nguyễn Quang Bích
(1832-1890), người làng Trình Phố
(h.Kiến Xương - Thái Bình), đỗ đình nguyên Hoàng giáp
năm 1869; khi đang làm quan ở Hưng Hoá, quân Pháp đánh
lên 1884, ông rút vào vùng núi tổ chức kháng chiến, và
mất chỗ quân thứ (1890). Tác giả Ngư phong thi văn tập.
Nguyễn Quyền
- Phố Nguyễn Quyền, đất thôn cũ Tiên Mỹ;
thời thuộc Pháp con đường được đánh số Voie 170b.
Nguyễn Quyền
(1870-1942), người làng Thượng Trì (huyện
Thuận Thành - Bắc Ninh), làm Huấn đạo nên có tên là Huấn
Quyền; ông là một trong những người sáng lập ra Đông
Kinh Nghĩa Thục; năm 1909 ông bị đày ra Côn Đảo; năm
1913 đưa về an trí ở Bến Tre (Nam Bộ). Ông mất tại đó
năm 1942.
Nguyễn Văn Siêu hay Nguyễn Siêu - phố Nguyễn Văn
Siêu, đất thôn cũ Cổ Lương giáp Giang Nguyên.
Thời thuộc Pháp, gọi là Phố Án Sát Siêu; năm 1945 gọi là
Phô Phương Định, sau sửa lại là phố Nguyễn Siêu.
Nguyễn Văn Siêu
(1795-1872) người gốc Kim Lư (h.Thanh Trì)
sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, làng Cổ Lương phường Dũng
Thọ. Đỗ phó bảng năm 1838.
Cáo quan về nhà dạy học, có tiếng là hay chữ. Ông đã
đứng lên sửa chữa lại đền Ngọc Sơn. Tác giả Phương
Đình địa dư chí - Phương Đình thi tập - Văn tập - Tuỳ
bút...
Nguyễn Thái Học
- Phố Nguyễn Thái Học, đất các thôn cũ Nam
Hưng - Vĩnh Xương - Cổ Thành. Tên thường gọi là phố Hàng
Đãy; thời Pháp là Rue Duvillier; năm 1945 đổi là phố
Phan Chu Trinh; 1948 có tên như hiện nay.
Nguyễn Thái Học
(1908-1930) người làng Thổ Tang (h.Vĩnh
Tường - Vĩnh Yên) người sáng lập và là lãnh tụ Việt Nam
Quốc dân Đảng; khởi nghĩa Yên Bái thất bại ông bị bắt và
bị thực dân xử tử.
Nguyễn Thành Hiên
- Phố Nguyễn Thành Hiên, tên cũ phố
Lý Đạo Thành đặt năm 1945-1946.
Nguyễn Thị Bình
- phố Nguyễn Thị Bình, tên cũ phố Nguyễn Cao
đặt năm 1945-1946.
Nguyễn Thị Kim
- Phố Nguyễn Thị Kim, tên cũ phố Nguyễn Huy
Tự đặt năm 1945-1946.
Nguyễn Thị Kim,
vợ vua Chiêu Thống, vua Lê chạy theo quân
Thanh sang Tàu và chết ở bên đó, bà không đi, ẩn náu ở
trong nhà dân; khi đưa hài cốt Chiêu Thống về nước, bà
đã tự tử, được người đương thời khen là nghĩa liệt.
Nguyễn Thiện Thuật
- Phố Nguyễn Thiện Thuật, đất phường
Đông Hà và thôn Hương Trai. Thời Pháp gọi là Rue Lepage.
Nguyễn Thiên Thuật
(1844-1926) người Xuân Dục (h.Mỹ Hào
- Hưng Yên), giữ chức Tân lương quân vụ nên còn gọi là
Tán Thuật. Khởi nghĩa chống Pháp ở Bãi Sậy (huyện Khoái
Châu - Hưng Yên), trong những năm 1885-1888. Bị thua,
lưu vong sang Trung Quốc và mất ở Nam Ninh.
Nguyễn Thiếp
- Phố Nguyễn Thiếp, đất cũ thôn Phúc Lâm.
Thời Pháp gọi là Rue Duranton; năm đầu Cách mạng 1945
gọi là phố Nguyễn Mậu Kiến.
Nguyễn Thiếp
(1723-1804), được tôn là La Sơn phu tử,
người làng Nguyệt Áo (huyện La Sơn - Hà Tĩnh) đỗ Hương
cống (1744), không làm quan, mở trường dạy học. Vua Tây
Sơn Quang Trung mời ra làm mưu sĩ, giúp việc tổ chức
giáo dục. Tác giả La Sơn thi tập - Lạp Phóng văn cảo.
Nguyễn Thượng Hiền
- Phố Nguyễn Thượng Hiền, đất thôn cũ
Tiên Mỹ. Thời Pháp gọi là Rue Mongrand.
Nguyễn Thượng Hiền (1868-1925)
người Liên Bạt (huyện? ng Hoà - Hà Đông), đỗ Hoàng giáp
năm 1892. Xuất ngoại 1908, tham gia phong trào Đông Du
chống Pháp. Mất ở Hàng Châu (Trung Quốc).
Nguyễn Trãi -
Đường Nguyễn Trãi, tên mới có từ năm 1980,
đặt cho đoạn đường quốc lộ từ Ngã Tư Sở vào Hà Đông, qua
các xã Nhân Mục, Phùng Khoang, Triều Khúc...
Rue Nguyễn Trãi,
tên cũ thời Pháp thuộc của phố Nguyễn
Văn Tố.
Nguyễn Trãi
(1380-1442), người làng Chi Ngại (huyện Chí
Linh - Hải Dương), đỗ Thái học sinh đời Trần 1400. Tham
gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, lập công lớn về sách lược,
về ngoại giao. Bị ám hại và chu di cả gia đình. Tác
giả Bình Ngô đại cáo - Lam Sơn thực lực -?c Trai thi văn
tập - Quân trung từ mệnh tập.
Nguyễn Tri Phương -
Phố Nguyễn Tri Phương, đất trong nội
thành cũ, con đường từ Cửa Bắc đi xuống theo hướng Nam.
Thời Pháp gọi là Route Porte du Sud.
Nguyễn Tri Phương (1800-1873), người làng Chi Long
(huyện Phong Điền - Thừa Thiên), từ chức thơ lại nhỏ
được phong dần đến chức vụ cao nhất trong triều. Có tài
thao lược, nhiều lần xung chức thống đốc quân vụ ở Nam
Kỳ, ba lần chống nhau với quân xâm lược Pháp ở Đà Nẵng
(1858), ở Gia Định (1860) và ở Hà Nội (1873). Hà Nội
thất thủ, ông bị thương nặng và bị địch bắt, ông đã nhịn
ăn mà chết.
Nguyễn Trọng Hợp
- Phố Nguyễn Trọng Hợp, đất cũ thôn
Gia Ngư, tên cũ thời thuộc Pháp của Ngõ Cầu Gỗ; thời tạm
chiến gọi là phố Cao Bá Nhạ.
Nguyễn Trọng Hợp
(1834-1902), người Hạ Đình (huyện
Thanh Trì) đỗ Tiến sĩ năm 1865; đã từng làm Kinh lược sứ
Bắc Kỳ thay mặt triều đình Huế giao thiệp với Pháp những
năm 1886-1887.
Nguyễn Trung Ngạn
- Phố Nguyễn Trung Ngạn, đất thôn
Cảm? ng và Cảm Hội; thời Pháp là Voie 172.
Nguyễn Trung Ngạn
(1289-1370) người Thổ Hoàng (huyện Ân
Thi - Hưng Yên) đỗ Hoàng giáp năm 1306 (16 tuổi), có
thời giữ chức Kinh doãn Thăng Long. Tác giả Giới Hiên
thi tập - Hoàng triều đại điển Hình luật thư.
Nguyễn Trung Trực
- Phố Nguyễn Trung Trực, đất thôn Cận
Hàn và Yên Thuật; thời Pháp là Rue Trippenbach.
Nguyễn Trung Trực
(1838-1868) người Tân An (Gò Công -
Định Tường), khởi nghĩa chống Pháp từ 1861 đến 1868l; bị
địch bắt và kết án xử tử.
Nguyễn Trường Tộ
- phố Nguyễn Trường Tộ, đất thôn cũ
Yên Ninh và Yên Thành. Tên thời Pháp là Rue Jambert.
Nguyễn Trường Tộ
(1828-1871), người Bùi Chu (huyện
Hưng Nguyên - Nghệ An), có dịp ra nước ngoài nhiều lần
(đi học và công tác), ông viết tập "Điều trần" gửi triều
đình nhà Nguyễn đòi cải cách duy tân, không được triều
thần, đa số bảo thủ, hưởng ứng.
Nguyễn Văn Tố
- Phố Nguyễn Văn Tố, đất thôn cũ Yên Trung
Thượng thời Pháp gọi là Rue Nguyễn Trãi.
Nguyễn Văn Tố, (1889-1947), sinh ở Hà Nội, công tác ở Viện
Bác cổ Viễn Đông, có nhiều công trình nghiên cứu về lịch
sử và văn hoá Việt Nam. Ông sáng lập và là Hội trưởng
Hội truyền bá quốc ngữ (1938). Hội đặt trụ sở ở số 44
Nguyễn Trãi (Nguyễn Văn Tố bây giờ).
Nguyễn Văn Trạch
- Phố Nguyễn Văn Trạch, tên đặt cho
phố Hoè Nhai hồi đầu Cách mạng 1945-1946.
Nguyễn Văn Trạch, còn gọi là Sư Trạch, đảng viên Việt nam
Quốc dân Đảng, bị bắt cùng với Nguyễn Thái Học năm 1930
trên đường hoạt động.
Nguyễn Xí
- phố Nguyễn Xí, đất thôn Cựu Lâu, Hậu Lâu.
Thời Pháp gọi là Rue Boissière.
Nguyễn Xí
(1396-1445), người láng Thượng Phúc (huyện
Ngi Lộc - Nghệ An), một danh tướng của phong trào nghĩa
quân Lam Sơn, có nhiều chiến công tiêu diệt quân đô hộ
nhà Minh.
Nhà Chung
- Phố Nhà Chung, đất thôn cũ Báo Thiên tự;
thời thuộc Pháp gọi là Rue de la Mission.
La Mission
nghĩa là Hội truyền giáo (còn có tên là Hội
Thừa Sai) một tổ chức tôn giáo của Công giáo Gia Tô, một
tổ chức tôn giáo nhưng kiêm cả kinh doanh ruộng đất ở
nông thôn, nhà cửa ở thành phố, nhưng cơ sở sản xuất thủ
công và ấn loát, làm kinh tế cho Giáo hội.
Khu Nhà Chung ở Hà Nội gồm toàn bộ đất thôn Báo Thiên Tự
bị cắt cho Giáo hội do áp lực của bọn cha cố với quan
lại tỉnh Hà Nội.
Nhà Dầu
- Ngõ ở phố Khâm Thiên cạnh nhà số 1, nơi đó
là khu đất cũ của Công ty dầu hoả Shell, làm kho chứa
dầu.
Nhà Hát Lớn
- Vườn hoa Nhà Hát Lớn, đất cũ thôn Thạch
Tân và Tây Luông; thời Pháp gọi là Square Maréchal Foch.
Nhà Hát Lớn xây dựng năm 1901 (năm 1911 mới hoàn thành)
làm nơi biểu diễn của các đoàn kịch của người Pháp.
Quảng trường trước mặt Nhà hát là nơi đã diễn ra nhiều
sự kiện trọng đại trong những ngày sôi nổi của Cách mạng
Tháng 8 và năm đầu của nước Cộng hoà Dân chủ Việt Nam.
Nhà Giáo
- Ngõ Nhà Giáo ở phố Nam Đồng, cạnh số nhà
139, bên trong có ngôi nhà giảng giáo lý của Nhà thờ Nam
Đồng.
Nhà Hoả -
Phố Nhà Hoả, đất cũ thôn Yên Nội; thời Pháp
thuộc có tên là Rue Feitshamel.
Nhà Hoả là ngôi đền thờ Thần Hoả của thôn Yên Nội;
(đền nay là nhà số 30 phố Hàng Điếu).
Nhà Thương Khách
- Phố Nhà Thương Khách, tên cũ của
phố Hờ Nhai thời thuộc Pháp. Trong phố có bệnh viện Đông
y của Hoa kiều lập ra cho người đồng bang của họ. Tiếng
Pháp dịch là Rue de l'Hôpital Chinois.
O
Ô Quan Chưởng
- Phố Ô Quan Chưởng, đất thôn cũ Thanh Hà. Thời Pháp được đặt tên là Rue
des Nattes en jonc (nghĩa là phố Hàng Chiếu Cói).
Ô quan Chưởng là tên gọi thông thường (không rõ nguồn
gốc) của cửa ô Đông Hà, xây lại năm 1804, một cổng xây
còn sót lại trong số mười sáu cổgn cửa ô của Hà Nội cũ.
O'dendhal - Rue d'O' dendhal, tên cũ thời Pháp của
phố Đinh Liệt.
O'dendhal, một công chức Pháp, đi công tác khảo cổ ở
Tây Nguyên, bị mộ tù trưởng giết chết (1904).
Ollovier - Rue Ollovier, tên cũ thời Pháp của phố
Tôn Thất Đạm.
Ôn Như Hầu -
Phố Ôn Như Hầu, tên của phố Nguyễn Gia Thiều
đặt từ năm 1945-1946, sau được sửa lại như bây giờ.
Ôn Như Hầu
là tước phong của Nguyễn Gia Thiều.
Ông ích Khiêm -
Phố Ông Ích Khiêm, đất cũ trong nội thành
sát với Cửa Tây.
Tên cũ thời Pháp là Rue Mangin.
Ông Ích Khiêm (1829-1884) người Diên Phước (tỉnh Quảng
Nam), đỗ cử nhân năm 1847, chuyển sang nghề võ, làm Tiểu
phủ sứ, thuộc phe chủ chiến trong triều đình Huế thời Tự
Đức, bị hạ ngục và chết trong đó.
Orléans
- Boulevard Henri d' Orléans, tên cũ phố
Phùng Hưng.
Henri d' Orléans, Prince de - Hoàng thân, dòng dõi chính
thống của vua nước Pháp, thích du lịch, qua Đông Dương
(1887) và chết ở Sài Gòn (1901). Tác giả sách viết về
Việt Nam: L' Indochine.
P
Paris -
Vườn Paris (Vườn Ba Lê), tên đặt trong thời tạm chiếm
của Vườn hoa Nhà Hát Lớn. Vườn Paris ở cuối phố Pháp
Quốc.
Parreau - Digue Parreau, tên cũ thời Pháp
của Đường Hoàng Hoa Thám.
Ensèbe Irènée Parreau (1842-19...) sĩ quan cấp tá Pháp,
là Đốc lý đầu tiên của Hà Nội (1883), làm Thống sứ Bắc
Kỳ năm 1888.
Pasquier
- Avenue Pierre Pasquier, tên cũ thời Pháp
phố Hoàng Diệu.
Impasse Pasquier, tên cũ Ngõ Hoàng Diệu.
Pierre Pasquier
(1877-1931), viên quan cai trị Pháp đã làm
Đốc lý Hà Nội (1918-1919), Toàn quyền Đông Dương (1930).
Tác giả L'Annam d'autrefois.
Pasteur - Vườn hoa Pasteur, đất thôn cũ Cơ Xá Hạ và
Hữu Vọng (có tượng Pasteur, đặt ở trước Viện Pasteur,
Viện Vi trùng học của Hà Nội).
Louis Pasteur (1822-1895), nhà bác học Pháp, nổi tiếng
về khám phá ra vi khuẩn, chế tạo ra thuốc phòng chống
bệnh dại.
Pavie - Rue Pavie, tên cũ thời thuộc Pháp của phố
Hàn Thuyên.
Auguste Pavie (1847-1825) nhân viên Bưu điện, thám hiểm
dòng sông Mêkông, góp phần thu phục triều đình Lào nhận
quyền đô hộ của Pháp (1879).
Pavillons Noirs - Rue des Pavillon Noirs, tên cũ thời thuộc
Pháp của phố Mã Mây.
Pavillon Noirs
là quân Cờ Đen; năm 1883 một đơn vị quân Cờ
Đen bao vây quân Pháp ở trong thành phố đã đóng trong
phố này.
Pépinières
- Route des Pépinières (Đường Vườn ươm cây),
tên cũ thời Pháp của con đường nối đường Thuỵ Khuê với
đường Hoàng Hoa Thám, qua Vườn ươm cây.
Pescadores - Rue Pescadores, tên cũ thời Pháp phố Phù
Đổng Thiên vương.
Pescadores là quần dảo Bành Hồ ở Biển Đông gần Đài Loan;
năm 1885 hải quân Pháp tấn công đảo này làm áp lực bắt
Trung Quốc phải công nhận chế độ bảo hộ của Pháp ở Việt
Nam.
Petain - Rue Maréchal Pétain, tên cũ phố Nguyễn
Hữu Huân từ 1940 đến 1945.
Philippe Pétain
(1856-1951) tướng Pháp được phong hàm Thống
chế vì có công trong chiến tranh thế giới I. Làm quốc
trưởng nước Pháp trong thời gian bị Đức chiếm đóng
(1940-1945). Bị kết án phản quốc, tù chung thân.
Phạm Đình Hổ - Phạm Đình Hổ, đất thôn Cảm Hội - Hữu
Vọng. Thời Pháp thuộc gọi là Rue Cléon.
Phạm Đình Hổ
(1768-1839) người làng Đan Loan (h.Bình
Giang - Hải Dương) ngụ ở phường Thái Cực (Hàng Đào). Tác
giả Vũ trung tuỳ bút - Tang thương ngẫu lục...và nhiều
sách nghiên cứu khác (Quần thư tham khảo, Lê triều
hội điển...)
Phạm Hồng Thái
- Phố Phạm Hồng Thái, đất thôn Yên Định;
thời Pháp là Rue Emile Nolly.
Phạm Hồng Thái
(1884-1924) tên thật là Phạm Thành Tích,
người Do Nha (h.Hưng Nguyên - Nghệ An), làm người thợ
máy ở Bến Thuỷ, sang Trung Quốc (1923) tham gia hoạt
động cách mạng. Mưu sát Toàn quyền Đông dương là Merlin
khi y đi qua Quảng Châu (1924) và bị hy sinh, tiếng bom
Phạm Hồng Thái đã làm chấn động tinh thần quốc gia ở
trong nước.
Phạm Ngũ Lão
- Phố Phạm Ngũ Lão, đất thôn cũ Tây Luông và
đồn Thuỷ Quân (sau là khu Đồn Thuỷ).
Thời thuộc Pháp có tên Rue de la Concession (phố Nhượng
địa).
Phạm Ngũ Lão
(1255-1320) người làng Phù?ng (h.Mỹ Hào -
Hưng Yên), danh tướng đời Trần, lập nhiều chiến công
trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên (1286-1288).
Phạm Phú Thứ
- Rue Phạm Phú Thứ, tên cũ thời Pháp thuộc
của phố Nguyễn Quang Bích (cộng cả phố Hội Tin Lành).
Phạm Phú Thứ
(1820-1880) người Đông Dư (h.Tiên Phước -
Quảng
Nam),
đỗ tiến sĩ năm 1843, nhiều lần phụ trách ngoại thương,
một lần đi sứ sang Pháp với Phan Thanh Giản. Tác giả
Tây hành nhật ký - Trúc Đường thi văn tập.
Phạm Sư Mạnh
- Phố Phạm Sư Mạnh, đất cũ trong Cục Bảo
Toàn. Thời Pháp thuộc là Rue de la Sapèquerie.
Phạm Sư Mạnh, người làng Hiệp Thạch (Kinh Môn - Hải
Dương), đỗ Thái học sinh năm 1323, làm quan đời Trần đến
chức nhập nội hành khiển (tể tướng). Tác giả Hiệp
Thạch tập.
Phan Bội Châu
- Phố Phan Bội Châu, đất thôn cũ
Nam Hưng, Yên Tập. Thời Pháp là Rue Colomb (khi chưa
thành đường phố thì con đường này người ta gọi là Phố
Nhi).
Phan Bội Châu
(1867-1941) người làng Đan Nhiễm (h.Nam Đàn
-Nghệ An), đỗ giải nguyên trường Nghệ năm 1900. Sáng lập
ra phong trào Đông Du và Đảng Việt Nam Quang Phục hội.
Bị bắt cóc đưa về nước, vụ án đã làm chấn động dư luận
cả nước; ông bị giam lỏng ở Huế (từ 1926 đến 1941).
Phan Chu Trinh- Phố Phan Chu Trinh, đất Cục Bảo Toàn và
các thôn Hàm Châu - Hữu Vọng, Thời thuộc Pháp gọi là Rue
Rialan.
Phố Phan
Chu Trinh
(1872-1926) người làng Tây Lộc (h.Tam Kỳ -
Quảng
Nam)
đỗ phó bảng năm 1901. Hoạt động cách mạng bị đày ra Côn
Đảo (1908), rồi bị đưa sang Pháp (1910-1925). Về nước và
mất ở Sài Gòn, đám tang ông đã gây thành phong trào yêu
nước 1926 trong giới thanh niên.
Phan Đình Phùng
- Phố Phan Đình Phùng, phố mở trên con hào
cũ bị lấp dọc tường Cửa Bắc. Tên cũ thời Pháp là
Boulevard Carnot.
Phan Đình Phùng
(1847-1895) người Đông Thái (h.La Sơn - Hà
Tĩnh), đỗ Đình nguyên tiến sĩ năm 1877. Lãnh tụ phong
trào Cần Vương Hương Sơn từ 1887 đến 1895. Mất ở chiến
khu. Ông có để lại một số thơ văn đầy tinh thần yêu nước
và tập sách Việt sử địa dư vựng sách.
Phan Huy Chú
- Phố Phan Huy Chú, đất thôn cũ Nhân Chiêu
và Tây Luông Thời Pháp là Rue Général Raffenel.
Ngõ Phan Huy Chú, tên cũ là Impasse Verdun.
Phan Huy Chú
(1782-1840) người ấp Yên Sơn, xã Thuỵ Khuê
(Sài Sơn - Sơn Tây), đỗ thấp làm quan nhỏ, ông cáo quan
về dạy học và viết sách. Tác giả bộ Lịch triều Hiến
chương loại chí.
Phan Huy Ích-
Phố Phan Huy Ích, đất thôn cũ Yên Ninh
Thượng. Thời thuộc Pháp có tên là Rue Monseigneur
Deydier; thời đầu cách mạng 1945-1946, gọi là phố Lê Hữu
Cảnh; từ 1947 đến 1964, có tên là phố Bùi Viện.
Phan Huy Ích
(1750-1822) người làng Thu Hoạch (h.Can Lộc
- Hà Tĩnh) ngụ ở Sài Sơn (Thuỵ Khuê - Sơn Tây), đỗ tiến
sĩ năm 1775; làm quan với triều Lê và triều Tây Sơn, có
nhiều thành tích về bang giao với nhà Thanh. Tác giả
Dụ Am ngâm lục - Dụ Am văn tập - Bang giao tập.
Phan Phu Tiên
- Phố Phan Phu Tiên, đất thôn Cổ Giám - Yên
Trạch. Thời Pháp thuộc là Voie 206.
Phan Phu Tiên, người làng Đông Ngạc (Từ Liêm - Hà Đông) đỗ
Thái học sinh năm 1396, bác sĩ trường Quốc Tử Giám rồi
sang Quốc sử viên. Tác giả Việt âm thi tập -
Việt sử (chép tiếp bộ sử của Lê Văn Hưu)
Phan Thanh- Phố Phan Thanh, tên cũ phố Nguyễn Văn Tố
trong những năm 1945-1946.
Phan Thanh,
người dạy học, viết báo, đóng góp nhiều cho
phong trào truyền bá quốc ngữ.
Phan Thanh Giản
- Phố Phan Thanh Giản, tên cũ phố Nguyễn Hữu
Huân từ 1946 đến 1964.
Phan Thanh Giản (1796-1867)
người làng Bảo Thanh (Vĩnh Long) đỗ tiến sĩ năm 1826;
thay mặt triều đình Huế bang giao với Chính phủ Pháp về
vấn đề Nam Kỳ. Khi quân Pháp đánh úp ba tỉnh miền Tây,
ông tự tử theo thành Vĩnh Long. Tác giả Mộng Khê thi
văn tập.
Phan Văn Trị -
Phố Phan Văn Trị, đất phường cũ Thịnh Hào.
Thời thuộc Pháp là Voie 221; thời kỳ 1945-1946 gọi là
phố Trương Vĩnh Ký; năm 1964 đổi lại tên như bây giờ.
Phan Văn Trị (1830-1910) người Gia Định, đỗ cử nhân 1849
không ra làm quan, ở nhà dạy học. Tác giả nhiều bài thơ
yêu nước thời kỳ đầu thuộc Pháp.
Pháp Quốc
- Phố Pháp Quốc, tên cũ đoạn đầu phía đông
phố Tràng Tiền (thời thuộc Pháp đã có tên là Rue de
France) đặt trong thời tạm chiếm 1948-1954 cùng với hai
phố Anh Quốc và Mỹ Quốc.
Phay Ninh - Ngõ Phay Ninh, ngõ số 58 đường Giảng Võ,
ngõ đi vào Xưởng cơ khí Phay Ninh.
Phất Lộc - Ngõ Phất Lộc, đất phường cũ Hà Khẩu, giáp
Tiên Hạ (thời Pháp cũng gọi là Ruelle Phất Lộc).
Phất Lộc tên làng gốc của họ Bùi người huyện Đông
Quan Thái Bình; họ Bùi có người ra lập nghiệp ở Thăng
Long từ thế kỷ 18 thời Hậu Lê, họ hàng theo ra đông ở
tập trung thành xóm cư dân riêng.
Philharmonique - Rue de la Philharmonique (phố Hội Hoà
Nhạc) tên cũ thời thuộc Pháp của phố Hồ Hoàn Kiếm. Phố
này trước kia có phòng hoà nhạc và diễn kịch của người
Pháp là Philharmonique.
Phó Đức Chính -
Phố Phó Đức Chính, đất các thôn cũ Trúc Bạch
- Yên Ninh - Yên Canh. Thời Pháp gọi là Rue Blockhaus
Nord. Năm 1945 gọi tên mới là phố Nguyễn Thái Học.
Phó Đức Chính, tên đặt cho phố Châu Long năm đầu cách
mạng 1945-1946.
Phó Đức Chính
(1908-1930) người làng Đa Ngưu (h.Văn Giang
- Hưng Yên), sinh viên, nhân vật trọng yếu của Việt Nam
Quốc Dân đảng, chỉ huy đánh Sơn Tây năm 1930. Bị bắt và
kết án xử tử.
Phố Mới
- Tên gọi thông thường của phố Hàng Chiếu;
thời thuộc Pháp, thực dân đặt tên phố đó là Rue Jean
Dupuis, người Hà Nội không dùng mà chỉ gọi là Phố Mới.
Phố Nhị
- Tên thường gọi của đoạn phía đông phố
Colomb (sau là phố Phan Bội Châu) thời kỳ đầu thuộc
Pháp.
Phố Tám - tên thường gọi của đoạn Quốc lộ 1 đi qua
địa phận làng Tám (Giáp Bát).
Phố Vọng
- Tên thường gọi của đoạn quốc lộ 1, đi từ
Ngã Tư Vọng đến Làng Tám.
Phố còn đánh số
|
Phố 203 |
|
|
Phố 204 |
|
|
Phố 214 |
|
|
Phố 215 |
ở thôn Văn Chương |
|
Phố 221 |
|
|
Phố 222 |
|
|
Phố 224 |
ở thôn Ngự Sử |
|
Phố 225 |
ở thôn Tiên Nữ |
|
Phố 226 |
ở thôn Thanh Miến |
|
Phố 251 tên cũ Voie 249 |
ở thôn Văn Chương |
|
Phố 296 tên cũ Voie D |
ở thôn Thể Giao |
|
Phố 325 tên cũ Voie E1 |
ở thôn Vân Hồ |
|
Phố 332 tên cũ Voie 234 |
ở thôn Thịnh Yên |
|
Phố 335 tên cũ Voie 223 |
ở thôn Lương Sử |
|
Phố 336 tên cũ Voie 261 |
đất cũ thôn Thọ Lão |
|
Phố 337 tên cũ Voie 262 |
đất cũ thôn Thọ Lão |
|
Phố 339 tên cũ Voie 229 |
đất cũ thôn Thịnh Yên |
|
Phố 356 |
|
Phổ Giác - Ngõ Phổ Giác, ở phố Ngô Sĩ Liên, lối vào
cạnh chùa Phổ Giác, nhà số 11.
Phủ Doãn
- Phố Phủ Doãn, đất thôn cũ Chân Cầm, Kim
Cổ, thời Pháp gọi là Rue Julien Blanc.
Phủ Doãn
là dinh quan Kinh doãn, chức quan cai trị
đứng đầu kinh thành Thăng Long.
Phù Đổng Thiên Vương
- Phố Phù Đổng Thiên Vương, đất thôn
cũ Hương Viên; thời Pháp gọi là Rue Pescadores.
Thiên Vương làng Phù Đổng,
nhân vật truyền thuyết đời Hùng, có tên gọi là thông
thường là Thánh Gióng, có công phá giặc Ân ngoại xâm.
Phúc Kiến
- Phố Phúc Kiến, tên cũ thời thuộc Pháp của
phố Lãn Ông. Trong phố có nhiều Hoa kiều gốc người Phúc
Kiến và có Hội quán hàng Bang Phúc Kiến.
Phúc Tân
- Phố Phúc Tân, con đường đi dọc bãi cát bờ
sông, bãi Phúc Tân (có từ sau 1954). Tên cũ thời Pháp
bãi cát sông gọi chung là Banc de Sable.
Phúc Thắng
- Ngõ Phúc Thắng ở phố Khâm Thiên, cạnh số
nhà 241. Phúc Thắng là chủ Rạp hát có nhà cho thuê trong
ngõ.
Phúc Xá- Phố Phúc Xá, con đường đi dọc bãi cát Phúc
Xá, có nhiều phố ngang nhỏ.
Phùng Hưng - Phố Phùng Hưng, phố mở trên con
hào và tường thành Cửa Đông cũ sau khi phá thành lấp
hào. Tên cũ thời Pháp là Boulevard Henri d'Orléans.
Phùng Hưng
(761- 802) người làng Đường Lâm (h. Phúc Thọ
- Sơn Tây), khởi nghĩa chống quân đô hộ nhà Đường, chiếm
Phủ đô hộ (Đại La) xưng làm vua; nhân dân tôn là Bố Cái
đại vương.
Phùng Khắc Khoan - Phố Phùng Khắc Khoan, đất thôn Phương
Viên. Thời Pháp gọi là Rue Logerot.
Phùng Khắc Khoan (1528-1613) người làng Phùng Xá (h.
Thạch Thất - Sơn Tây) đỗ Trạng nguyên năm 1580, làm quan
triều Lê, có công cải cách tiến nghề dệt lụa phổ biến
cho người làng (lụa Bùng). Tác giả Nghị Trai thi tập -
Mai Lĩnh sứ Hoa tùng vịnh.
Phương Đình - Phố Phương Đình, tên cũ phố Nguyễn Văn
Siêu đặt năm 1945 - 4946, sau sửa như bây giờ.
Phương Đình là tên trường học của Nguyễn Văn Siêu mở ở
thôn Cổ Lương (số nhà 14-16 phố Nguyễn Văn Siêu).
Portu du Sud - Rue Porte du Sud, tên cũ thời Pháp cổ
Nguyễn Tri Phương (ở trong thành, khu quân sự).
Pottier - Rue Potter, tên cũ thời Pháp phố Báo Khánh.
Potter Edouard (1838-1903) Phó thuỷ sư Đô đốc Pháp, có
tham gia xâm lược Nam Kỳ (1826).
Pouligo - Boulevard Capitaine Pouligo, tên cũ thời Pháp
phố Trầnh Thánh Tông.
Pouyanne -Rue Pouyanne, tên cũ thời Pháp phố Lò Sũ.
Pouyanne, kỹ sư Công chính Pháp, được giao cho thiết kế
công trình trị thuỷ ở Bắc Kỳ những năm mười đầu thế kỷ.
Puginier - Avenue Puginer, tên cũ thời thuộc Pháp Đường
Cột Cờ (Điện Biên phủ bây giờ).
Rond point Puginier,
tên cũ Quảng trường Ba Đình.
Square Puginier
tên cũ Vườn Bãi Sởy (Vườn Canh Nông).
Paul Francis Puginier
(1835-1892), cố đạo người Pháp, âm mưu giúp F.Garnier và
H. Riviere hai lần đánh Hà Nội và chiếm đồng bằng Bắc
Kỳ, mộ nguỵ quân người công giáo đánh phá quân khởi
nghĩa Cần Vương.
Q
Quan Thánh
- Phố Quán Thánh, đất các thôn cũ Châu Yên, Yên Quang,
Yên Ninh. Thời Pháp gọi là Avenue Grand Bouddha (đại lộ
Ông Phật lớn).
Trấn Vũ Quán,
đền thờ thánh Trấn Vũ, phía sau là đền thờ Quang Công
(có phải do vậy mà có tên Quan Thánh không?)
Quan Thổ
- Ngõ Quan Thổ ở phố Hàng Bột đi vào thôn Quan Thổ. Có
ba ngõ Quan Thổ: Quan Thổ 1, cạnh số nhà 242; Quan Thổ
2, cạnh nhà số 256 và Quan Thổ 3, cạnh số nhà 264.
Quan Trạm
- Ngõ của làng Quan Trạm thông ra phố Hàng Bột.
Quang Trung
- Phố Quang Trung, đất các thôn cũ Liên Thủy, Tiên Thị.
Thời Pháp thuộc gọi là Rue Jauréguiberry.
Ngõ Quang Trung
ở phố Bạch Mai cạnh số nhà 105.
Quang Trung
là niên hiệu vua Tây Sơn Nguyễn Huệ (1753-1792) người
anh hùng diệt các tập đoàn phong kiến Nguyễn và Trịnh,
đại phá quân xâm lược Xiêm (1786) và Thanh (1789). Ông
làm vua được ba năm.
Quảng Lạc
- Ngõ Quản Lạc, tên cũ đoạn phía bắc phố Tạ Hiện; đường
phố hẹp đi ngang qua cửa rạp hát Quảng Lạc, trước kia
chuyên diễn tuồng.
Quán Sứ
- Phố Quán Sứ, đất các thôn Hội Vũ, Yên Lập. Thời Pháp
gọi là Rue Richaud.
Trong phố này có chùa Quán Sứ dựng từ đơì Hậu Lê (thế kỷ
15), chùa ở cạnh nhà công quán, chỗ ngụ của các đoàn sứ
giả Chiêm Thành, Chân Lạp, Qua Oa sang công cán nước ta.
Quần Ngựa
- Phố Quần Ngựa, con đường từ trên đê Hoàng Hoa Thám
xuống, đi ngang qua cổng Bãi Quần Ngựa cũ, nối với phố
Đội Cấn. Năm 1980 gọi là phố Quần Ngựa; năm 1986 đổi là
phố Đốc Ngữ.
Quốc Tử Giám
- Phố Quốc Tử Giám, đất các thôn cũ Hữu Giám - Lương Sử.
Thời Pháp con đường đánh số 238.
Quốc Tử Giám
là tên gọi khu Văn Miếu vừa là nơi thờ KhổngTử vừa là
một trường học cao cấp của Nhà nước qua các triều Lý -
Trần - Lê (còn gọi là nhà Quốc học), trường đại học lâu
đơì của nước Việt Nam (có từ thế kỷ 11)
R
Raffenel
- Rue Raffenel, tên cũ thời thuộc Pháp của phố Phan Huy
Chú.
Reinach
- Rue Reinach, tên cũ thời thuộc Pháp của phố Trần Quốc
Toản.
Lucien Joseph Reinach (Baron
de) (1864 - 1909) quan cai trị đến Bắc Kỳ năm
1893, tổ chức các đạo lính địa phương, trông coi việc
làm đường hoả xa Bắc Lệ.
République
- Avenue de la Ré publique (Đại lộ Cộng hoà) tên cũ thời
thuộc Pháp của phố Hoàng Văn Thụ.
Réverony
- Ru Réverony, tên cũ thời thuộc Pháp của một đoạn phố
Tăng Bạt Hổ.
Réverony,
tên một đại biểu Hội đồng Thành phố Hà Nội trong những
năm 1920.
Rheinart
- Quai Rheinart , tên cũ thời Pháp đường Trần Khánh Dư.
Rue Rheinart, tên cũ phố Nguyễn Khoái.
Pierre Pau; Pheinart
(1840-1902) - Đến Nam Kỳ 1865; ra Huế làm lãnh sự
(1874), phụ trách giao thiệp giữa hai nước ta và Pháp, y
đã chuẩn bị cho Pháp đem quân ra Bắc Kỳ 1882.
Rhodes
- Rue Alexandre de Rhodes, tên cũ thời Pháp phố Đặng
Trần Côn.
Alexandre de Rhodes (1591-1660) giáo sĩ người Pháp,
nhiều năm lưu trú ở Việt Nam. Đã góp phần xây dựng ra
chữ quốc ngữ. Tác giả cuốn tự vị tiếng Việt đầu tiên
viết bằng chữ quốc ngữ. Mất ở Ba Tư.
Rilan
- Boulevard Rialan, tên cũ thời Pháp phố Phan Chu Trinh.
Rivière
- Boulevard Henri Rivière, tên cũ thời Pháp phố Quán
Sứ.
Etienne Richaud
- quan cai trị người Pháp, làmTổng sứ Trung Bắc Kỳ
năm1887. Toàn quyền Đông Dương 1888-1898.
Riquier
- Rue Riquier, tên cũ thời Pháp đoạn đầu phía đông phố
Nguyễn Du.
Rivière
- Boulevard Henri Rivière, tên cũ thời Pháp phố Ngô
Quyền.
Henri Rivière (1827-1883) sĩ quan hải quân Pháp; đem
quân ra đánh thành Hà Nội năm 1882; bị giết ở trận Cầu
Giấy.
Riz
- Rue du Riz (Phố Hàng Gạo), tên cũ thời Pháp phố Chợ
Đồng Xuân. Nơi tập trung các hàng trong buôn bán gạo.
Robert
- Rue Robert, tên cũ thời Pháp phố Trương Hán Siêu.
Robin
- Square Robin, tên cũ thời Pháp vườn hoa Chi Lăng.
Hopital René Robin, tên cũ Bệnh viện Bạch Mai.
|