|
A. TÊN CÁC ĐƯỜNG PHỐ, LÀNG XÃ HÀ NỘI
THẾ KỶ 19 - 20 QUA NHỮNG LẦN THAY ĐỔI
Tên cũ : T cũ
Pháp thuộc: Pth
Đầu cách mạng: cm
Tạm chiếm: tch
A
Ancien canal
- Tên cũ phố Đào Duy Từ; Ancien canal nghĩa là Sông đào
cũ.
An Sơn
- Ngõ ở Đường Đại La, gần ngã tư Trung Hiền (tên có vào
khoảng năm 1930).
An Thành
- Ngõ ở đường Yên Phụ (phía Bắc) đi
xuống bãi cát bờ sông Hồng. Khoảng năm 1940 có nhiều
người các tỉnh đến lập nghiệp trồng trọt sinh sống ở bãi
cát bồi sông Hồng.
Án Sát Siêu
- Tên cũ phố Nguyễn Văn Siêu.
Anh Quốc
- Tên phố Hàng Khay đặt trong thời
tạm chiếm 1947 - 1954.
An Xá Châu
- Tên cũ làng Cơ Xá về thời Hậu Lê (trước kia thuộc trấn
Kinh Bắc).
Ấu Triệu - Phố ở cạnh Nhà Thờ Lớn, đất cũ
thôn Châu Sơn và Minh Cầm (chỗ này là đất huyện lỵ cũ
Thọ Xương về thời Tự Đức). Thời Pháp có tên là Ruelle
Père Lecornu.
Ấu Triệu
nghĩa là Bà Triệu nhỏ, tên là Lê Thị
Đàn người làng Thế Lại (Quảng Trị) tham gia phong trào
Đông Du của Phan Bội Châu (năm 1903); bà bị Pháp bắt,
tra khảo và đã tự tử năm 1928. Tên Ấu Triệu do Phan Bội
Châu đặt trong tập Truyện Nghĩa liệt.
Autigeon (Madame) - Tên cũ phố Đặng Tất (P.th).
Madame Autigeon
là người có sáng kiến mở lớp dạy nghề làm đăng ten, thuê
ren (khoảng những năm 10 đầu thế kỷ), đào tạo nhiều thợ
giỏi và truyền nghề cho nhiều người làng ở Hà Đông, Sơn
Tây; là chủ khu nhà trông ra đường Quan Thành, giáp với
phố Autigeon (Đặng Tất).
Antoine
(Soeur) - Rue Soeur Antoine- Tên cũ -
phố Hàng Bột (P.th).
Soeur Antoine,
tên là Félicie Vacheron (1866-1925), nữ tu sĩ thuộc dòng
Dames de Saint Paul de Chartres. Đến Bắc Kỳ năm 1889,
làm trong Quân y viện. Thành lập ra Phòng phát thuốc Phủ
Doãn, phòng này bị sung công năm 1904 để đổi thành Nhà
thương Bảo hộ. Bà lại lập ra Trại Tế Bần Hàng Bột và
bệnh viện Saint Paul Hàng Đẫy. Bà mất ở Hà Nội năm 1925.
B
Ba Đình:
Quảng trường. Thời Pháp thuộc là Rond point Puginier. Năm 1945 đổi là
Quảng trường Ba Đình. Thời tam chiếm gọi là Vườn Hồng
Bàng. Là đất cũ chỗ cửa Chính Tây thành trì Hà Nội.
Tại Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập và tuyên bố sự ra đời của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Cũng tại
đây đã dựng Lăng và nhà Bảo tàng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cuộc
khởi nghĩa chống Pháp năm 1886-1887 do Đinh Công Tráng,
Hà Văn Mao, Cầm Bác Thước tổ chức tại Nga Sơn (Thanh
Hoá), lấy ba làng Mỹ Khê, Thượng Thọ và Mậu Thình làm
căn cứ; nơi đây có ba ngôi đình của ba làng được bố trí
làm pháo đài cầm cự với địch, nên có tên là Ba Đình.
Ba Lê
- Tên vườn hoa cạnh Nhà Hát lớn đặt
trong thời tạm chiếm 1947-1954 (Ba Lê phiên âm tên
Paris).
Ba Sao
- Ngõ Ba Sao, tên cũ ngõ 151 Khâm
Thiên. Ba Sao là tên của hàng làm nến; chủ hãng làm một
dãy nhà cho thuê trong ngõ.
Bà Huyện Thanh Quan
- Tên phố ở chỗ đất cũ Cửa Tây thành Hà Nội. Thời Pháp
thuộc gọi là Rue Résident Morel; năm 1946 gọi là phố Mạc
Đĩnh Chi.
Bà Huyện Thanh Quan,
tên là Nguyễn Thị Hinh, vợ Lưu Nguyên Ôn (1804-1847)
người làng Nghi Tàm. Bà là một nhà thơ, tác giả bài
"Thăng Long hoài cổ"
Bà Triệu -
Đường phố có tên cũ nhân dân thường gọi là Phố Hàng Giò
(đoạn phía bắc gần Hàng Khay); thời Pháp thuộc là hai
phố boulevard Gia Long (từ Hàng Khay đến Rue Riquier tức
Nguyễn Du bây giờ) và Rue Lê Lợi (đoạn phía Nam). Năm
1945, phố Bà Triệu chỉ có đoạn phố Bà Triệu đi từ Bờ Hồ
đến tận đường Đại Cồ Việt. Phố Bà Triệu chạy dài trên
đất các phường thôn cũ: Vũ Thạch - Phúc Lâm - Thể Giao -
Vân Hồ.
Ngõ Bà Triệu
- ở đoạn dưới phố Bà Triệu, trước kia nhân dân quen gọi
là Ngõ Trường Bắn (chỗ binh lính tập bắn).
Bà Triệu:
sử cũ gọi là Triệu ẨU, thần phả chép là Triệu Thị Trinh,
người quận Cửu Chân (Nông Cống - Thanh Hoá). Bà cùng với
anh là Triệu Quốc Đạt khởi nghĩa đánh quân đô hộ Giao
Châu nhà Ngô (Mậu Thìn 248), cầm cự với địch được mấy
năm. Có đền thờ ở xã Phú Điền (Thanh Hoá).
Bắc Ninh -
Tên cũ phố Nguyễn Hữu Huân thời Pháp thuộc có tên là Rue
Bắc Ninh (người Pháp ghi trận đánh chiếm Bắc Ninh năm
1884). Đến 1940, đổi gọi là Rue Maréchal Pétain; thời kỳ
Cách mạng và tạm chiếm gọi là phố Phan Thanh Giản.
Bắc Sơn - Tên cũ con đường đi cạnh Lăng Chủ
tịch Hồ Chí Minh, sau Quảng trường Ba Đình.
Vườn Bắc Sơn:
tên cũ Vườn Bach Việt (tên đặt năm 1945).
- Khởi
nghĩa Bắc Sơn năm 1940 của nhân dân Võ Nhai và Tràng
Định (Thái Nguyên) nhân khi quân Nhật đánh vào Lạng Sơn
và quân Pháp thua chạy. Bị đàn áp cuối năm đó.
Bách Thảo
- Công viên rộng 18 hecta, lập ra năm 1890 ở trên đất cũ
mấy làng Thanh Bảo, Ngọc Hà, Khán Xuân; giữa công viên
có Núi Sưa trên có một toà miếu cổ cạnh công viên có
Miếu Hội Đồng dựng từ giữa thế kỷ 19.
Vườn
Bách Thảo trồng các loại cây nhập của nước ngoài, trồng
thí nghiệm và gây giống (có hàng trăm loại cây công
nghiệp). Trong vườn có nuôi thú nên còn có tên gọi là
Vườn Bách Thú. Tên Pháp là Jardin Botanique.
Bách Việt
- Tên vườn hoa Cửa
Nam.
Thời Pháp gọi là Place Neyret, ta thường gọi là Vườn hoa
Bà Đàm Xoè vì có dựng bức tượng Thần Tự do, đúc theo mẫu
Thần Tự do của nhà điêu khắc Bartholdi dựng ở lối vào
cảng New York nước Mỹ.
Bách Việt
là tên chung của các bộ lạc người Việt thời nguyên thủy,
cư trú tại phía Nam sông Dương Tử đến lưu vực sông Hồng,
sông Mã.
Bạch Mai -
Tên cũ phường Hồng Mai, đến đời Tự Đức đổi là Bạch Mai
(vì kiêng chưc Hồng tên huý nhà vua). Làng Bạch Mai
thuộc tổng Kim Liên huyện Thọ Xương có 6 giáp: Tô -
Hoàng - Mật - Nội - Nhất - Nhị. Phố Bạch Mai kể từ Ô Cầu
Dền đến chợ Mơ ngã tư Trung Hiền. Có nhiều ngõ thông phố
Bạch Mai với các xóm bên trong mang tên giáp và xóm.
Bạch Thái Bưởi -
Tên một phố nhỏ thông phố Nguyễn Hữu Huân với Bờ Sông,
tên có từ 1945 hồi đầu cách mạng, nay đổi là Ngõ Nguyễn
Hữu Huân. Thời Pháp thuộc gọi là Rue Hillaret.
Bạch Thái Bưởi
là một nhà kinh doanh đầu thế kỷ XX, có tàu chạy đường
sông và khai mỏ than, một nhà tư sản dân tộc cạnh tranh
được với tư sản người Hoa và người Pháp.
Badens (général) - Tên phố thời Pháp thuộc,
nay là phố Tôn Thất Thiệp, ở chỗ đất cũ múi khế góc đông
nam thành trì.
Pierre
de Bades (1847-1897 ) sĩ quan cấp tướng người Pháp ở
trong đội quân viễn chinh Pháp những năm đầu đánh chiếm
Bắc Kỳ 1884 - 1886.
Balny
- Rue Balny là tên cũ phố Trần Nguyên
Hãn thời Pháp thuộc.
-
Balny d' Avricourt Paul (1849-1873) là sĩ quan tuỳ
tùng của Francis Garnier đã bị giết ở trận Cầu Giấy 1873
tại cổng đền Voi Phục.
Bảng Nhãn Đông -
Tên cũ phố Hàng Cháo thời Pháp thuộc. Bảng Nhãn Đôn là
Lê Quý Đôn.
Bảo Anh
- Phố Bảo Anh thời Pháp thuộc gọi là
Voie 206 bis ở góc phố Hàng Cháo; nay đổi là
Ngõ Nguyễn Thái Học.
Bảo Anh là Trại nuôi trẻ mồ côi do một nhóm
nhà từ thiện lập ra vào khoảng những năm 30 có các bà
phước trông coi. Sau năm 1954, nơi đây là Trường Thương
binh hỏng mắt.
Bảo Hưng
- Cité Bảo Hưng là tên cũ ngõ Lê Văn
Hưu I. Bảo Hưng là tên chủ đất có dãy nhà cho thuê ở
trong ngõ.
Báo Khánh
- Tên phố ở phía tây Hồ Gươm, thời Pháp thuộc gọi là Rue
Pottier; Báo Khánh là tên thôn do hai làng Khánh Thụy và
Báo Thiên hợp nhất (giữa thế kỷ 19).
Ngõ Bảo Khánh
là ngõ thông Báo Khánh với phố Hàng Hành.
Bảo Linh
- Tên thôn cũ thuộc khu vực phố Hàng
Tre.
Báo Thiên
- Phường Báo Thiên là tên đất cũ ở phía tây Hồ Gươm. Năm
1057 Lý Thánh Tông dựng chùa Sùng Khánh ở trên bờ hồ Lục
Thuỷ (Hồ Gươm); chùa có một cây tháp cao gọi là Đại
Thắng Tư Thiên Báo Tháp, tên thông thường là tháp Báo
Thiên. Tháp và chùa bị phá huỷ từ hồi giặc Minh (thế kỷ
15). Năm 1884 nhà Chung mưu mô chiếm khu đất chân tháp
cũ xây Nhà Thờ Lớn Hà Nội.
Barona - Rue Barona tên cũ phố Liên Trì
thời Pháp thuộc (đoạn phía bắc).
- Barona: Đại uý người Pháp, chết ở Lạng Sơn
năm1930.
Bình Than
- Vườn Bình Than: đất cũ thông Nhân Chiêu, thời Pháp là
Square Gambetta (ngã tư Trần Thánh Tông và Trần Hưng
Đạo).
Hội nghị Bình Than
(năm 1282) là một hội nghị quân sự vua tôi nhà Trần bàn
và quyết định phương lược chống giặc Nguyên Mông Cổ xâm
lược.
Blane
- Rue Julien Balanc: tên cũ phố phủ
Doãn (P. th)
Blanc - Julien, chủ hiệu thuốc tây Blanc
phố Tràng Tiền và hội viên Hội đồng thành phố.
Blockhaus Nord
- Route Blockhaus Nord (đường Lô Cốt Bắc) tên cũ phố Phó
Đức Chính (P. th).
Khi quân
Pháp mới đánh chiếm Hà Nội (1883) chúng có xây ở trên
dốc đê Yên Phụ Cổ Ngư chỗ cửa ô cũ, một pháo đài để
phòng thủ mặt tây bắc thành phố, trên con đường vào nội
thành.
Bobillot - Boulevard Bobillot , tên cũ phố Lê
Thánh Tông thời Pháp thuộc.
Bobillot Jules
(1860 - 1885) là một trung sĩ trong quân đội viễn chinh
Pháp được ghi công trong trận đánh nhau với quân Cờ Đen
ở Tuyên Quang năm 1885.
Boissiè,
tên cũ phố Nguyễn Xí (P. th).
Boissi? Jules (1863 - 1897 ) là một
công chức nhỏ đồng thời là một nhà văn thuộc địa, tác
giả cuốn Fumeurs d'opium. Chết ở Hà Nội 1897.
Bôn Be
- Phố Bôn Be -Vườn hoa Bôn Be. Tên phiên âm của Paul
Bert (xem chữ này).
Bonhour
- Rue Bonhour, tên cũ phố Lê Lai (P.
th), phần phía đông.
-
Louis Alphonse Bonhur (1864 - 1909). Toàn quyền
Đông Dương (1908). Là một nhà sinh vật học. Tự tử ở Sài
Gòn 1909.
Bonifacy
- Rue Antoine Bonnet, tên cũ phố Nguyễn Gia Thiều thời
Pháp thuộc.
Louis Marie Bonifacy
( 1850 - 19...), đến Bắc Kỳ năm 1894. Sĩ quan Pháp, công
sứ Hà Giang 1911. Cộng tác viên của Viện Bác Cổ Viễn
Đông (1902-1903), tác giả của nhiều sách nghiên cứu lịch
sử, dân tộc học miền núi Bắc Kỳ.
Bonifacy - Rue Antoine Bonnet, tên cũ phố Châu Long (P. th)
đoạn phía bắc.
Borgnis Desbordes
- Rue Borgnis Desbordes, tên cũ phố Tràng Thi (P. th).
Gustave Borgnis
Desbordes
(1839-1900, sĩ quan Pháp cấp tướng, đã tham gia nhiều
cuộc chiến tranh thuộc địa. Đến
Nam Kỳ năm 1868. Ra Bắc Kỳ
năm 1884.
Bourret - Rue Bourret, tên cũ phố Ngõ Trạm
(P. th).
Bát Tơ
- (Phiên âm tiếng Pháp của Pasteur).
Vườn Bát Tơ là công viên ở trước mặt Viện vi trùng học
Pasteur, đất cũ thôn Yên Xá (xem chữ Pastuer).
Beau
- Rue Bernard de Beau, tên cũ phố Nguyễn Chế Nghĩa thời
Pháp thuộc.
Beauchamp - Avenue Beâuchamp là tên cũ phố
Nguyễn Chế Nghĩa thời Pháp thuộc, từ dưới dốc Hàng Đào
đến nhà Khai Trí Tiến Đức.
De Beauchamp:
tên một viên quan cai trị làm Đốc lý Hà Nội vào khoảng
năm 1890.
Bert (Paul)- Rue Paul Bert
là tên cũ phố Tràng Tiền thời Pháp thuộc, đi từ Quảng
trường Nhà Hát Lớn đến hết phố Hàng Khay.
Square Paul Bert:
tên cũ Vườn hoa Chí Linh, có tượng Paul Bert (đã bị gỡ
bỏ năm 1945).
Paul Bert (1838-1886) là một nhà sinh vật học
kiêm làm chính trị; được cử sang Việt
Nam làm Tổng sứ Trung Bắc Kỳ (Rðsident Général) năm
1885, chết ở Hà Nội cuối năm 1886.
Berthe de Vilers
- Rue Berthe de Vilers là tên cũ phố Đinh Công Tráng
thời Pháp thuộc.
Berth de Vilers
- Vincent (1844-1883) sĩ quan Pháp theo Henri Rivière
ra Bắc đánh thành Hà Nội, bị giết ở trận Cầu Giấy năm
1883.
Beyliè
- Rue Gènéral Beylié là tên cũ phố
Hàng Chuối thời Pháp thuộc.
Beylié Eugène de
( 1849-1910) sĩ quan cấp tướng đồng thời là một nhà khảo
cổ học, có công trình nghiên cứu văn hoá Khmer. Ở Bắc Kỳ
những năm 1885 - 1896; chết ở Luang Prabang năm 1910.
Bích Câu
- Phố Bích Câu thuộc đất hai thôn cũ
Yên Trạch và Cát Linh. Tên cũ thời Pháp thuộc là Rue
Graffeuil.
Phường Bích Câu
có tên từ rất xưa, ở phía tây nam thành Thăng Long. Làng
Bích Câu đạo quán, một ngôi đền có tính chất Đạo giáo.
Đền được dựng lên do truyền thuyết Tú Uyên - Giáng Kiều
(đề tài cho cuốn truyện Bích Câu kỳ ngộ củaVũ
Quốc Trân). Đền bị phá huỷ năm 1947 vì chiến tranh, làm
lại năm 1952.
Bích Lưu
- Tên làng xưa ở đầu phố Thợ Nhuộm;
còn tích ngôi chùa Bích Lưu ở số nhà 64 Hai Bà Trưng và
đình Bích Lưu ở cạnh chùa Bích Lưu.
Bichot
- Avenue Gðnéral Bichot, tên cũ phố
Cửa Đông (P. th).
Bichot Justin
(1835-1908) tướng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Bắc
Kỳ những năm 1883-1886.
Bình Chuẩn
- Phố Bình Chuẩn: tên phố Hàng Thùng đặt năm 1945.
Bình Chuẩn
là tên một chiếc tàu thuỷ của hãng Bạch Thái Bưởi đóng
năm 1921 (chiếc tàu đầu tiên của người Việt
Nam
ở Bắc Kỳ).
Bourrin
- Rue Bourrin, tên cũ phố Yên Ninh
(P. th).
Claude Bourrin
- Công chức Pháp, sống nhiều năm ở Hà Nội, là người hoạt
động sân khấu (kịch Pháp) và tác giả hai cuốn Le
Vieux
Tonkin
- Choses et gens d' Indochine.
Bovet - Rue Bovet, tên cũ phố Yết Kiêu (P.
th),
Cité
Bovet, tên cũ ngõ Yết Kiêu.
Brière de l'Isle -
Avenue Brière de I' Isle, tên cũ phố Hùng Vương (P.th).
Louis Brière de I' Isele
(1827 - 1896) sĩ quan cấp tướng trong quân đội viễn
chinh Pháp, cầm quân ở Bắc Kỳ trong những năm 1884 -
1886.
Bruisseau - Rue Capitaine Bruisseau, tên cũ
phố Tống Duy Tân (P. th).
Bùi Bá Ký
- Phố Bùi Bá Ký, tên phố Tống Duy Tân thời kỳ đầu cách
mạng 1945 - 1946.
Bùi Bá Ký
(thế kỷ 15), người Viên Nội (Chương Mỹ Hà Đông). Đỗ
Hoàng Giáp năm 1448. Tác giả một số bài thơ chép trong
Việt thi lục.
Bùi Huy Bích
- Phố Bùi Huy Bích, tên cũ phố Nguyễn Khắc Cần thời kỳ
đầu cách mạng 1945-1946.
Bùi Huy Bích
(1744 - 1802), tự Tồn Am, người Định Công, huyện Thanh
Trì, đỗ hoàng giáp năm 1769, làm quan đời Hậu Lê đến
chức Tham tụng. Tác giả nhiều sách: Hoàng Việt thi
văn tuyển, Tồn Am thi văn tập, Quốc triều chính điển....
Bùi Quang Trinh
- Phố Bùi Quang Trinh, tên cũ phố Triệu Việt Vương năm
1946.
Bùi Thị Xuân
- Phố đi dọc theo đất các thôn cũ Phục Cổ - Giáo phường
và Phúc Lâm Tiểu. Thời Pháp thuộc là phố Duvigneau; thời
tạm chiếm là phố Huyền Trân Công chúa; năm 1964 đổi là
phố Bùi Thị Xuân.
Bùi Thị Xuân,
người đất Quy Nhơn, vợ Trần Quang Diệu, hai vợ chồng đều
là dũng tướng của quân đội Tây Sơn. Phong trào Tây Sơn
thất bại, bà bị bắt, bị Gia Long xử tử 1802.
Bùi Viện
- Phố Bùi Viện là tên cũ phố Phan Huy Ích từ năm 1947
đến 1964.
Bùi Viện
(1847 - 1878) người Trình phố - Trực
Ninh - Thái Bình; đỗ cử nhân khoa Tự Đức 20 (1868);
không làm quan, hoạt động chấn hưng kinh tế và cải cách
chính trị, quân sự, đã đi ra nước ngoài (Mỹ).
Bưởi
- (Xem chữ Đường Bưởi)
Bảo Toàn
- Ngõ Bảo Toàn, cạnh số nhà 295 phố
Khâm Thiên.
Bãi Bóng
- Ngõ ở đường phố Bạch Mai, đi vào khu Nhà tập thể lao động Mai Hương,
cạnh số nhà 419. Chỗ đó là bãi bóng cũ nay là xóm nhà ở.
Ngõ còn có tên là Mai Hương mới.
Bãi Cát
- Ngõ ở trong đầu phố Khâm Thiên (số
1b) đi vào khu nhà ở trước kia là bãi cát rộng.
C
Calmêtt
- Rue Docteur Calmette, sau đổi là phố Yersin.
Albert Calmette
( 1863-1933) là thày thuốc đã từng làm việc ở Đông
Dương; ông cùng với bác sĩ Guérin tìm ra thuốc BCG phòng
bệnh lao cho trẻ sơ sinh.
Cambanère
- Rue Cambanère, tên cũ phố Hàng Bút (P.th)
Cambanère tên một nạn nhân chiến tranh có tính
chất thời sự hơn là lịch sử.
Cấm Chỉ
- Phố Cấm Chỉ, tên một phố nhỏ sát
góc thành đông nam cũ; thời Pháp là Rue Londe; năm 1954
gọi là Ngõ Hàng Bông L?; năm 1964 đổi tên là Ngõ Hàng
Bông.
Cấm Chỉ
do con đường đi bên ngoài của Đại
Hưng, mỗi khi có vua quan trảy qua, thường ngăn cấm giao
thông từ chỗ này.
Cantonnais
- Rue des Cantonnais, tên cũ phố Hàng Ngang thời thuộc
Pháp, nghĩa là phố của người Hoa kiều gốc Quảng Đông.
Cao Bá Nhạ
- Phố Cao Bá Nhạ, tên Ngõ Cầu Gỗ đặt trong thời tạm
chiếm 1948-1954 (thời Pháp thuộc gọi là Rue Nguyễn Trọng
Hợp).
Cao Bá Nhạ
(sinh năm 1808), anh em sinh đôi với Cao Bá Quát, quê ở
làng Phú Thị (Huyện Gia Lâm).Bị liên luỵ vì vụ án chính
trị Cao Bá Quát, phải đi trốn, sống với nghề dạy học,
sau cũng bị bắt và bị hành tội. Tác giả Tự tình khúc.
Cao Bá Quát
- Phố Cao Bá Quát, đất cũ trong thành nội, chỗ hào Cửa
Nam bị lấp. Tên cũ thời Pháp là Rue Tuyên Quang.
Cao Bá Quát
(18081855) người làng Phú Thị (Gia Lâm), nhà văn nổi
tiếng hay chữ, tác giả
Chu
Thần thi tập. Làm huấn đạo, tham gia phong trào "giặc châu chấu" chống lại triều đình
ở Mỹ Lương (Quốc Oai), bị tử trận. Nhà cũ của gia đình
Cao Bá Quát ở gần phố này, chỗ Đình Ngang.
Cao Đắc Minh -
Rue Cao Đắc Minh, tên cũ phố Văn Miếu thời Pháp thuộc.
Cao Đắc Minh
người tỉnh Sơn Tây, phi công trong quân đội Pháp trong
Chiến tranh thế giới I, chết vì tai nạn máy bay.
Cao Đạt
- Phố Cao Đạt, đất thôn cũ Hậu Phong
Vân (Vân Hồ); thời thuộc Pháp là Voie H1.
Cao Đạt, em Cao Thắng người làng Lễ Đường
(Hương Sơn, Hà Tĩnh), tham gia cuộc khởi nghĩa Phan Đình
Phùng chống quân xâm lược Pháp. Bị bắt và bị xử tử năm
1891.
Cao Thắng
- Phố Cao Thắng, đất thôn Huyền Thiên cũ, thời thuộc
Pháp gọi là Rue Grappin; năm 1945 gọi là phố Nguyễn Cảnh
Chân.
Cao
ThắngC, người làng Lễ Đường (Hương Sơn - Hà Tĩnh) hai
anh em theo nghĩa quân Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh
đạo, giỏi nghề chế tạo súng. Tử trận năm 1839.
Carnot -
Boulevard Carnot, tên cũ phố Phan Đình Phùng thời thuộc
Pháp.
Square
Carnot, tên cũ Vườn hoa Vạn Xuân ở đầu Hàng Đậu.
Sadi
Carnot (1837-1894), kỹ sư và chính trị gia. Được bầu làm
Tổng thống Pháp năm 1887; bị ám sát năm 1894.
Carreau
- Boulevard Carreau, tên cũ phố Lý
Thường Kiệt thời Pháp thuộc.
Pierre
Paul Carreau (1836-1883) người Pháp gốc Martinique sĩ
quan quân đội Pháp, đến Hà Nội với. H. Rivière; chết ở
Hà Nội năm 1883.
Cát Linh
- Phố Cát Linh là đất cũ hai thôn Yên
Trạch và Cát Linh (tổng Yên Thành).
Phường
Cát Linh ở phía Tây nam Thành Hà Nội, có nhiều hồ đầm,
tại đây có Đền Bích Câu.
Cầu Đất
- Đường Cầu Đất năm 1965 đổi tên là
Đường Hàm Tử Quan.
Một con
đường từ trên đê ra bến sông Hồng, trước đây là đường
đất lầy lội khi có mưa, bụi cát khi hanh khô.
Cầu Giấy
- Phố Cầu Giấy, đất cũ thôn Thủ Lệ;
phố mới có nhà những năm 50 từ ngã ba đường Giảng Võ đến
đầu Đường Láng.
Ô Cầu Giấy,
tên gọi thông thường Cửa ô Thanh Bảo cuối thế kỷ 19, chỗ
có những quán họp chợ bán giấy /
Cầu Giấy
là chiếc cầu nhỏ bằng gạch bắc qua sông Tô Lịch, lối đi
Sơn Tây. Tại khu vực này đã diễn ra hai trận đánh quân
Pháp năm 1873, quân ta đã giết Fr. Garnier, và năm 1883
giết H. Rivière.
Cầu Gỗ
- Phố Cầu Gỗ, đất cũ thôn Gia Ngư và
phường Đông Hà; tên cũ thời Pháp là Rue du Pont en bois.
Có tên Cầu Gỗ là vì phố đó có chiếc cầu bằng gỗ bắc qua
một lạch nước thông hồ Hàng Đào với Hồ Gươm, đầu thế kỷ
20, cầu đó hãy còn.
Champ de courses
- Route du Champ de courses, tên cũ phố Đội Cận thời
thuộc Pháp.
Đường
này đi đến Bãi Đua Ngựa ở thôn Vạn Phúc.
Chân Cầm
- Phố Chân Cầm thời Pháp thuộc có tên
là Rue Lagisquet.
Thôn
Chân Cầm tên cũ là Minh Cầm, tương truyền ngày xưa có
nghề sản xuất ra các loại đàn dùng cho âm nhạc cổ truyền.
Chanceaulme
- Rue Chanceaulme, tên cũ phố Triệu Việt Vương thời
thuộc Pháp.
Chân Hưng
- Cité Chân Hưng, tên cũ Ngõ Hàng Cỏ. Chân Hưng là tên
chủ đất xây nhà cho thuê trong xóm này.
Chapuis
- Rue Chapuis, tên cũ đoạn phố Trần
Bình Trọng bên bờ phía đông hồ Thiền Quang (P.th).
Chapuis
là tên viên sĩ quan Pháp bị chết
trong vụ nổ bom ở khách sạn Coq d' Or Hà Nội năm 1916.
Charron
- Rue Charron, tên cũ phố Mai Hắc Đế
thời thuộc Pháp.
Châu Long
- Phố Châu Long ở trên đất thôn Châu Yên cũ. Phố mới mở
vào những năm 20; trong phố có chùa Châu Long.
Chavassieux
- Avenue Chavassieux, tên cũ phố Lê Thạch thời thuộc
Pháp.
Square Chavassieux,
tên cũ của Vườn hoa Diên Hồng (Người Hà Nội quen gọi là
Vườn hoa Cóc Phun).
Chavassieux
là tên một viên thống sứ tại chức ở Bắc Kỳ vào những năm
1893-1894, và làm toàn quền Đông Dương năm 1894.
Cléon
- Ru Cléon, tên cũ Phạm Đình Hổ thời
thuộc Pháp.
Jean
Nicolas Cléon (1857-191....) - Đến Nam Kỳ dạy học ở
Trường Thông Ngôn, ra Bắc Kỳ năm 1887, làm phiên dịch ở
Phủ Toàn quyền. Tác giả nhiều cuốn sách nghiên cứu về
ngôn ngữ Việt Nam: Argot annamite - Lðgendes Tonkionses.
Chi Lăng
- Vườn hoa Chi Lăng, tên vườn hoa
cạnh Cột Cờ. Trước đây chỗ này là một hồ rộng gọi là Hồ
Voi; năm 1927, lấp hồ làm vườn hoa dựng đài kỷ niệm lính
tử trận trong chiến tranh thế giới 1914 - 1918. Nhân
dân quen gọi là Vườn hoa Canh Nông vì phía trước bệ
tượng đài có hình người nông dân dắt trâu đi cày. Chi
Lăng là một địa điểm hiểm trở thuộc tỉnh Lạng Sơn, nơi
đã diễn ra mấy trận thắng lớn diệt quân giặc xâm lược:
năm 1288 Phạm Ngũ Lão diệt quân Nguyên; năm 1406 quân
nhà Hồ chặn đánh quân Minh; năm 1427 tướng Lê Sát chém
Liễu Thăng diệt quân cứu viện của Minh.
Chí Linh C
- Vườn hoa Chí Linh, tên vườn hoa ở bên bờ phía đông Hồ
Gươm, tên cũ thời Pháp thuộc là Vườn hoa Bôn Be, có nhà
kèn, có tượng Paul Bert, nơi hàng năm ngày Hội Tây có
duyệt binh.
Chí Linh là một địa điểm hiểm yếu thuộc đất
Thường Xuân, huyện Lang Chánh, Thanh Hoá: Lê Lợi những
năm đầu cuộc khởi nghĩa chống quân đô hộ nhà Minh
(1418-1419 và 1423) đã đặt căn cứ ở đây.
Chợ Đồng Xuân
- ngõ Chợ Đồng Xuân: một ngõ nhỏ ở cuối phố Hàng Chiếu
đi vào phía bên cạnh Chợ Đồng Xuân. Nơi đây trước kia là
chỗ giới thiệu người đi ở cho các gia đình.
Chợ Đuổi
- phố Chợ Đuổi là tên thường gọi của
phố Tuệ Tĩnh; thời Pháp thuộc là Rue Goussard, trong
thời tạm chiếm 1948 - 1954, Chợ Đuổi thành tên chính
thức đến 1954.
Gọi là
Chợ Đuổi vì nơi đây chiều chiều tập trung các
hàng rong sau giờ đóng cửa chợ Hôm.
Chợ Gạo
- Phố Chợ Gạo ở trên mấy thôn cũ
Hương Bài, Hướng Nghĩa; thời Pháp thuộc gọi là Place du
Commerce. Chỗ này xưa là nơi họp các người buôn bán gạo
từ nông thôn vào thành phố.
Chợ Khâm Thiên
- Phố Chợ Khâm Thiên, đất cũ thôn Khâm Đức, đầu phố có
chợ Khâm Thiên. Phố dài, nhiều ngõ.
Chợ Mơ
- Ngõ Chợ Mơ cũ: ngõ phố Bạch Mai
cạnh số nhà 295. Trước kia Chợ Mơ họp ở đây, sau di
xuống cuối phố, tại ngã tư Trung Hiền.
Chợ Mới Mơ:
chợ ở cuối phố Bạch Mai sát ngã tư Trung Hiền.
Chùa
Hương Tuyết - Ngõ chùa Hương Tuyết: ngõ phố Bạch Mai
cạnh số nhà 205.
Chùa Hương Tuyết
thuộc xã Bạch Mai, thôn Mật.
Chùa Liên Phái
- Phố Chùa Liên Phái: ngõ phố Bạch Mai cạnh số nhà 182.
Chùa Liên Phái
là một ngôi chùa cổ dựng năm 1623, có Tháp Cửu Phẩm 11
tầng; chùa thuộc sơn môn Lâm Tế. Còn tên gọi là chùa
Liên Tông.
Chùa Một Cột
- Phố Chùa Một Cột: đường phố ở trên đất giáp bên trong
Cửa Tây thành cũ, thời thuộc Pháp có tên là Rue Elie
Groleau.
Chùa Một Cột:
Chùa Cổ dựng từ thời Lý Thái Tông năm 1049, tên chữ là
Diên Hựu Tự, ở thôn Thanh Bảo.
Chùa Quan Thượng
- phố Chùa Quan Thượng là tên đặt thay cho phố Jules
Boissière có trong thời Pháp, ngày cách mạng 1945 mới
thành công, nay là phố Nguyễn Xí.
Chùa Quan Thượng
tên chữ là Sùng Hưng Tự, Báo Ân Tự, xây năm 1848 ở thôn
Cựu Lân; bị phá hoại khi quân Pháp đánh chiếm Hà Nội
1883-1884, chỉ còn sót lại ngọn tháp Hoà Phong trên bờ
Hồ Gươm.
Chùa Vua
- Phố Chùa Vua ở đất làng Thịnh Yên,
tên cũ thời Pháp thuộc là Voie 233 b
Tại đây
có đền thờ Vua Đế Thích, tương truyền là cao cờ. Đền
dựng vào khoảng thế kỷ 15-16. Mở hội hàng năm vào ngày 9
tháng giêng âm lịch, có đánh cờ người.
Chu Mạnh Trinh
- Phố Chu Mạnh Trinh, năm 1945 - 1946 có tên
là phố Đinh Công Tráng; thời tạm chiếm là Voie 163 (con
đường ở phía sau Viện Pasteur).
Chu Mạnh Trinh
(1826-1905) người làng Phú Thị (Hưng Yên) đỗ
tiến sĩ năm 1892. Là một nhà thơ lãng mạn, tác giả nhiều
bài ca trù và Trúc Vân thi tập.
Chương Dương Độ
- Phố Chương Dương Độ, đất thôn cũ thuỷ cơ Đông Trạch,
thuỷ cơ Kiếm Hồ; phố mới mở sau năm 1954.
Chương Dương Độ
ở trên sông Hồng thuộc huyện Thường Tín - Hà Đông nơi
diễn ra trận đánh thắng quân Nguyên do Trần Quang Khải,
Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Toản hiệp lực đánh giặc năm
1285.
Chu Văn An
- Phố Chu Văn An ở trên đất gần Cửa Tây bên
trong thành cũ; thời thuộc Pháp là phố Van Vollenhoven.
Chu Văn An người đời Trần quê ở làng Quang Liệt đỗ
Thái học sinh, làm quan nổi tiếng là trung thực; can vua
không nghe, ông lui về quê dạy học. Ông mất năm 1370,
được tùng tự ở Văn Miếu Thăng Long.Tác giả nhiều tập thơ
văn và cuốn triết học Tứ thư thuyết ước.
Cité Imobilière
- Khu nhà trong khu vực Nhà Thờ Lớn.
Clémenceau
- Quai Clémenceau; tên cũ thời Pháp của Phố Trần Nhật
Duật.
Georges
Clémenceau (1841-1929) là một chính khách của Pháp rất
hùng biện; là Thủ tướng nổi tiếng trong thời kỳ Chiến
tranh thế giới 1914-1918.
Colomb - Tên cũ phố Phan Bội Châu thời
thuộc Pháp.
Commerce
- Place du Commerce, tên tiếng Pháp
phố Chợ Gạo.
Cổ Am
- Ngõ Cổ Am tên ngõ số 3 phố Lê Văn
Hưu, đặt hồi đầu cách mạng 1945.
Cổ Am
là tên xã thuộc huyện Vĩnh Bảo Hải
Dương, nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc
dân Đảng năm 1930, sau đó làng bị máy bay Pháp đến triệt
hạ.
Cổ Ngư
- Đường Cổ Ngư: Thời thuộc Pháp gọi
là Route Maréchal Lyautey, nay gọi là Đường Thanh Niên.
Cổ Ngư là con đê ngăn đôi Hồ Tây, phần hồ
bên phía đông thành hồ Trúc Bạch đắp từ thời Hậu Lê đến
thế kỷ 17.
Concession
- Rue de Concession : tên cũ thời Pháp thuộc phố Phạm
Ngũ Lão.
Concession
nghĩa là đất nhượng địa, triều đình Huế cắt cho Pháp xây
dựng khu Lãnh sự quán năm 1874.
Cống Chéo Hàng Lược
- Tên gọi thông thường của phố Hàng Lược; chỗ đó là lòng
sông Tô Lịch đang bị lấp dở có một cái cống chảy qua phố
ngang chỗ đề Phủ Từ, thời Pháp thuộc gọi là Rue Sông Tô
Lịch.
Cống Trắng
- Ngõ Cống Trắng, ngõ thông ra phố Khâm Thiên.
Cống Trắng
là đoạn cống của một con ngòi lớn dẫn nước thải của
thành phố nối hai hồ Văn Chương và Mỹ Đức; cống được cải
tạo cho hợp vệ sinh năm 1954.
Cổng Đục
- Phố Cổng Đục thuộc đất thôn cũ Đông
Thành; thời thuộc Pháp gọi là Ruelle des Etoffes.
Tương
truyền là khi con tường thành Hà Nội, đoạn này có chỗ
tường bị đục thông vào trong thành là chỗ đi tắt thông
qua cửa Chính Đông.
Cổ Tân
- Phố Cổ Tân, chỗ đất cuối thôn Cổ
Tân xưa; thời thuộc Pháp gọi là Rue Maréchal Foch; thời
tạm chiếm gọi là phố Trương Định; năm 1964 đổi là Cổ Tân.
Cổ Tân
có nghĩa là Bến cũ; bến đó năm 1592 có tên là Thảo Tân,
Trịnh Tùng đem quân ra Thăng Long đánh họ Mạc, đã đổ bộ
lên bến này. Năm 1595, triều đình Hậu Lê mở khoa thi Hội
tại đây.
Constan
- Rue Gouverneur Gðnéral Constan, tên cũ phố Đoàn Trần
Nghiệp thời thuộc Pháp.
J. Ernest Constan
(1833-1913), toàn quyền Đông Dương đầu tiên, tại chức
năm 1887- 1888, một nhà ngoại giao và chính trị của Pháp.
Cột Cờ
- Phố Cột cờ, tên thông thường của
đường phố từ Quảng trường Tròn chỗ Cửa Chính Đông cũ đến
Cửa Nam qua chỗ chân Cột Cờ. Thời Pháp thuộc gọi là
Avenue Puginier; sau Cách mạng tháng 8/1945 gọi là Đường
Cột Cờ. Năm 1970 đổi tên là Đường Điện Biên Phủ. Cột Cờ
thành Hà Nội xây năm 1808.
Cột Đồng Hồ
- Khoảng đất rộng chỗ ngã sáu mấy phố đi ra Bờ Sông, tại
đầu đường Trần Nhật Duật. Chỗ đó trồng một cột sắt lớn
trên đặt chiếc đồng hồ điện. Ngoài đê dưới mé sông là
Bến Tàu thuỷ cũ của Hà Nội.
Coulier - Rue Charles Courbet, tên cũ phố
Khúc Hạo (P. th).
Courbet
- Boulevard Amiral Courbet, tên cũ
phố Lý Thái Tổ thời thuộc Pháp.
Prosper Courbet
(1827-1885), Thuỷ sư đô đốc hải quân Pháp tham gia cuộc
đánh chiếm Việt Nam năm 1883.
Crévost
- Rue Crévost, tên cũ thời Pháp thuộc
của phố Hàn Thuyên.
Crévost, viên chức Sở Nông lâm Đông Dương,
năm 1919 làm giám đốc nhà Bảo tàng Maurice Long ở trong
khu Đấu Xảo; có sáng kiến mở lớp dạy nhiều nghề thủ công
làm hàng xuất khẩu bằng nguyên liệu địa phương và phổ
biến cho dân nhiều làng ở Hà Đông - Hà Nam - Bắc Ninh.
Cửa Bắc
- Phố Cửa Bắc, đường phố từ cửa Chính
Bắc cũ lên đê sông Hồng, chỗ cửa ô, phố đi qua đất các
thôn Yên Duyên - Yên Ninh. Thời Pháp thuộc có tên là
phố Đỗ Hữu Vy.
Cửa Bắc thành
Thăng Long thời Lý - Trần gọi là Cửa Diệu Đức; đời
Nguyễn đắp lại thành, xây Cửa Chính Bắc cùng với bốn cửa
thành khác. Tây phá thành Hà Nội, chỉ để lại có Cửa Bắc,
còn các cửa khác thì không còn.
Cửa Đông C
- Phố Cửa Đông: phố đi từ thẳng cửa Chính Đông ra, qua
đất các thôn Đông Thành, Đông Thành Thị. Thời thuộc Pháp
gọi là Avenue Gðnéral Bichot. Cửa Đông thời Lý Trần gọi
là cửa Tường Phù; đời Hậu Lê là Đông Tràng An; thời
Nguyễn đây là Cửa Chính Đông thành Hà Nội.
Cửa
Nam
- Phố Cửa
Nam ở trên đất hai thôn cũ Vĩnh Xương và Yên Trung Hạ.
Tên cũ thời thuộc Pháp là Rue Neyret.
Vườn hoa Cửa Nam,
trước cũng có tên là Place Neyret nhưng nhân dân thường
gọi là Vườn hoa Bàđầm xoè vì có đặt pho tượng đồng Thần
Tự do.
Cửa Nam: Thời Lý - Trần và Hậu Lê, thành
Thăng Long chỉ mở một cửa ở tường thành phía nam với cái
tên là cửa Đại Hưng; nhà Nguyễn cho đắp lại thành Thăng
Long, phía nam mở ra hai cửa Đông Nam và Tây Nam. Cửa
Nam bị bịt kín năm Minh Mạng 1831.
Bên
ngoài Cửa
Nam
có đình Quảng Văn (sau gọi là Quảng Minh) là nơi yết
những chiếu chỉ của triều đình.
Cổng Bách Khoa
- Ngõ trên đường phố Bạch Mai đi vào khu trường Đại học
Bách Khoa (cổng sau), cạnh số nhà 350.
Cổng Gạch
- Ngõ trên đường phố Bạch Mai, cạnh số nhà 335, trước
kia có chiếc cổng xây bằng gạch; còn có tên là ngõ Mai
Hương cũ.
Chả Cá
- Phố Chả Cá, đất thôn cũ Đồng Thuận.
Trước kia phố này gọi là phố Hàng Sơn (tên chữ Pháp là
Rue de la laque)
Sau đầu
thế kỷ 20, trong phố không còn gia đình nào buôn sơn Phú
Thọ nữa, mà lại có cửa hàng của họ Đoàn làm món đặc sản
là chả cá (hiệu Lã Vọng) nên người ta quen gọi là Phố
Chả Cá và thành tên chính thức.
D
Daurelle - Rue René Daurelle, tên cũ phố
Nguyễn Bỉnh Khiêm thời thuộc Pháp, đất thôn cũ Thiền
Quang.
Daurelle: Tên một đại biểu Hội đồng thành phố
(1888 - 1906) và là một nhà kinh doanh lâu năm.
Dã Tượng
- Phố Dã Tượng, phố ở trên đất thôn
cũ Phụ Khánh. Tên thời thuộc Pháp là Rue Lambert.
Dã Tượng
là gia nô của Hưng Đạo Vương Trần
Quốc Tuấn, có sức khoẻ (như voi rừng), lập được nhiều
chiến công trong cuộc chiến tranh chống quân Nguyên
1285-1288.
Dân Chủ Cộng Hoà
- Phố Dân Chủ Cộng Hoà, tên phố Cột Cờ sau Cách mạng
tháng Tám 1945; tên cũ thời Pháp thuộc là Avenue
Puginier.
Dân
Quyền - Phố Dân Quyền, tên phố Hoàng Văn Thụ. Sau Cách
mạng tháng Tám 1945; tên cũ thời thuộc Pháp là Avenue de
la Rðpublique.
Delorme - Rue Delorme, tên phố Trần Bình
Trọng (P. th).
Destenay - Rue Destenay tên cũ phố Nguyễn
Cảnh Chân thời thuộc Pháp.
Destenay
- Tên một Đốc lý Hà Nội (1901-1903),
sau làm Thống sứ Bắc Kỳ (tại chức vào những năm
1913-1914)
Deux Soeurs
- Rue Deux Soeurs (Nghĩa là Hai chị em tức Hai Bà
Trưng), tên cũ thời thuộc Pháp của một đoạn phố Trúc
Bạch (hai đoạn khác là Voie 95 - Voie 96),
Deydier
- Rue Monseigneur Deydier, tên cũ phố
Phan Huy Ích (P. th)
Diên Hồng
- Vườn hoa Diên Hồng, đất thôn cũ Cựu Súng ở bên bờ phía
đông Hồ Gươm.Thời thuộc Pháp gọi là Square Chavassieux,
nhân dân ta thường chỉ biết đến tên thông thường đó là
Vườn hoa Cóc phun, vì giữa vườn có một đài tưởng niệm
bằng đá, bốn phía có một bầy cóc bằng đồng phun nước máy
vào bể ở chân đài.
Diên HồngD
là tên một cung điện trong Hoàng thành Thăng Long, tại
đây vua Trần Nhân Tông đã mời các đại biểu bô lão trong
nước đến bàn quyết tâm chống lại dã tâm xâm lược của
giặc Nguyên ( 1284).
Dieulefils
- Rue Dieulefils , tên cũ phố Đặng Dung thời Pháp thuộc.
Dieulefils
là nhà nhiếp ảnh đã chụp rất nhiều ảnh bưu thiếp về
phong cảnh, di tích lịch sử và cảnh sinh hoạt phố xá của
Hà Nội và Việt
Nam
những năm đầu thế kỷ 20.
Digue nouvelle
- Tên phố Nguyễn Khoái thời thuộc Pháp (Digue nouvelle)
nghĩa là đê mới đắp.
Dominé
- Anvenue Donminé, tên cũ phố Lê Lai
thời thuộc Pháp.
More Dominé
(1848-1921) đại uý trong quân đội viễn chinh Pháp ở Bắc
Kỳ được tuyên dương có công chúng giữ thành Tuyên Quang
trước sự tấn công của quân Cờ Đen năm 1885.
Doudra de Lagrée
- Boulevard Doudard de Lagrée, tên cũ phố Hàm Long thời
thuộc Pháp.
Ernest Doudard de Lagrée
là sĩ quan hải quân Pháp đã từng thám hiểm sông MêKông,
đi từ Nam Kỳ ngược lên đất Lào năm 1870.
Doumer
- Avenue Paul Doumer, tên cũ phố Bắc
Sơn thời Pháp thuộc; thời tạm chiếm gọi là phố Nguyễn
Lâm.
Paul
Doumer, tên cũ cầu Long Biên.
Paul
Doumer ( 1857-1932), nhà chính trị Pháp, làm Toàn quyền
Đông Dương năm 1896, đặt kế hoạch làm đường xe lửa và
bắc cầu sông Cái. Sau làm Tổng thống nước Pháp và bị ám
sát năm 1932. Tác giả cuốn Souvenirs về Việt Nam.
Dronet - Ruelle Pỡre Dronet, tên cũ phố
Thọ Xương thời Pháp.
Père
Dronet: một cố đạo nhiều năm giữ chức cha xứ ở Nhà thờ
Lớn Hà Nội.
Dofourcq - Rue Dufourcq, tên cũ đoạn cuối phố
Nguyễn Du (giáp đường Nam Bộ), thời thuộc Pháp.
Dufourq: một công chức nhỏ kiêm nghề làm
vườn trồng hoa và rau.Có khu vườn ươm ở chỗ nghĩa địa
công giáo cũ phía sau Đấu Xảo, sát Đường Nam Bộ.
Dupuis
- Rue Jean Dupuis, tên cũ phố Hàng
Chiếu thời thuộc Pháp; nhân dân ta chỉ gọi phố đó là Phố
Mới.
Jean Dupuis
là tên lái buôn phiêu lưu người Pháp; năm 1872 đến Bắc
Kỳ, gây chuyện với quan tỉnh Hà Nội, tạo điều kiện để
quân Pháp đánh chiếm Hà Nội năm 1873.
Duranton - Rue Duranton, tên cũ phố Nguyễn
Thiếp ( P. th)
Duranton, là quan cai trị Pháp, đã từng làm
Hiệp lý Hà Nội và Công sứ Cầu Đơ (Hà Đông) vào năm
1903-1906.
Dutreuil des Rhins
-Rue Dutreuil des Rhins, tên cũ phố Nguyễn Khắc Cần
thời thuộc Pháp.
Jules Lé on Dutreuil des Rhins
( 1846-1894), sĩ quan hải quân Pháp, đã từng thám hiểm
nhiều nước Đông Dương, Tây Tạng, Trung Quốc. Đã vẽ tập
bản đồ bờ biển Việt Nam ( 1870),.
Duvigneau - Rue Duvigneau , tên cũ phố Bùi Thị
Xuân thời Pháp thuộc.
Duvillier - Rue Duvigneau, tên cũ phố Nguyễn
Thái Học (tên thông thường là Hàng Đẫy t) thời thuộc
Pháp.
Duvillier, viên quan cai trị Pháp, đã từng làm
Công sứ
Nam
Định và Đốc lý Hà Nội. 1945.
Ngõ Duy Tân,
bây giờ là Ngõ Huế.
Duy Tân, tên là Vĩnh San, lên ngôi vua năm
1907, ông tham gia cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Trần
Cao Vân năm 1916. Bị Pháp đày sang đảo Rðunion. Chết vì
tai nạn máy bay năm 1948.
Dương Thị Ái
- Phố Dương Thị ÁI, tên đặt cho Đường Lương Yên sau Cách
mạng tháng Tám 1945; thời Pháp thuộc được đánh số là
Voie 159 Lò Lợn.
Dương Văn Đôn
- Phố Dương Văn Đôn, tên đặt cho đường phố cũ thời Pháp
Voie 158 b (Lò Lợn) sau ngày Cách mạng tháng
Tám 1945.
Đ
Đại Cồ Việt
- Đường Đại Cồ Việt, đất cũ phường Yên Thọ và thôn Kim
Liên; thời Pháp thuộc đó là những đoạn đường đánh số
Voie 164-Voie 202 -Voie 222. |