|
GIỚI THIỆU VỀ CÁC GIÁ
TRỊ CỦA KHU PHỐ CỔ HÀ NỘI
1. Giá trị
lịch sử
Khu “36
phố phường” Hà Nội nằm ở phía đông bắc thành cổ
trong gần 10 thế kỷ đã chứng kiến biết bao sự kiện lịch
sử hào hùng của dân tộc trong sự nghiệp chống ngoại xâm
giữ nền độc lập cho nước nhà. Khu Phố Cổ này, cùng với
sông Hồng, là khu bảo vệ vòng ngoài cho thành cổ
trong thời chiến, là khu vực buôn bán sầm uất nuôi sống
thành cổ trong thời bình, là gương mặt của đất
nước trong quân hệ đối ngoại.
2.
Giá trị văn hoá
Khu 36 phố phường xưa
nổi tiếng là đất “ngàn năm văn vật”; “Thứ nhất kinh kỳ,
thứ nhì phố Hiến”, với nhiều hoạt động sôi nổi cả ngày
lẫn đêm; “dập dìu tài tử giai nhân, ngựa xe như nước, áo
quần như nêm”. Nơi đây, không chỉ đã từng là một trung
tâm kinh tế mà còn là một trung tâm văn hoá đa dạng; văn
hoá ẩm thực phong phú với nhiều tiệm cao lâu nổi tiếng
của người Hoa, tiệm ăn của người Việt... Sau này là các
hoạt động biểu diễn của các đoàn Quảng Lạc, Chuông Vàng,
Kim Chung, Kim Phụng, hoạt động sôi nổi của các rạp
chiếu phimv.v.
Do vậy nhìn nhận khu 36
phố phường không nên chỉ đơn thuần là khía cạnh văn hoá
vật thể (đánh giá đơn thuần về công trình kiến trúc), mà
còn là khía cạnh văn hoá phi vật thể, đó chính là cái
hồn của phố cổ.
Nếu vật thể là những
cái nhìn thấy được như: đình, đền, chùa, miếu...thì phi
vật thể là những cái không có hình hài vật chất: ca dao,
truyện cổ, tín ngưỡng, tâm linh, cách sống, phong cách
làm ăn, buôn bán...Song thực tế không có sự khác biệt
rành rọt như vậy. Ca dao tục ngữ là truyền miệng, là vô
hình nhưng sách sưu tầm và in ra các ca dao tục ngữ lại
là vật hữu hình. Hay tín ngưỡng, lễ nghi, thờ phụng,
cúng bái, là vô thể, song chúng diễn ra ở nhà thờ, đình,
đền, miếu một cách hữu hình. Như vậy văn hoá phi vật thể
phải dựa vào vật thể để lưu hành và lưu truyền cho các
thế hệ.
Phong cách buôn bán cổ
thể hiện đầy đủ tính chất chợ, tức là thị, của đô thị
một nước mới thoát khỏi chế độ phong kiến chưa lâu, có
nền sản xuất manh múm chưa được công nghiệp hoá và sự
lưu thông hàng hoá còng nhỏ lẻ.
Hà Nội là đất Kinh Đô
ngàn năm văn hiến, nơi hội tụ kết tinh, tinh tuý của mọi
miền. Di sản văn hoá phi vật thể Hà Nội có trữ lượng khá
lớn, nó đã phản ánh một cách phong phú, đa dạng và chân
thực truyền thống sinh hoạt văn hoá của người Hà Nội.
Một số loại hình của bộ phận di sản này trong những năm
qua đã được sưu tầm, nghiên cứu như làng nghề phố nghề,
sinh hoạt lễ hội, nghề, phong cách sống, ẩm thực...Văn
hoá phi vật thể Hà Nội là tổng hoà các yếu tố giao lưu,
hội nhập, dung hoà, tiếp biến, cởi mở, linh hoạt, để tạo
nên bản sắc Thăng Long - Hà Nội, một vùng đất “hội thuỷ,
hội nhân và hội tụ văn hoá vô cùng phong phú và đa dạng”.
Nghề thủ công:
Chỉ cần đọc những tên
phố có chữ hàng ở đầu, ta đã khẳng định được phố cổ Hà
nội là khu vực tập trung nhiều nghề thủ công nhất. Những
người ở đó có thể là thợ thủ công kiêm thương nhân, vừa
sản xuất theo kiểu gia công đặt hàng cho khách vừa bày
bán một số hàng làm sẵn tại cửa hiệu. Đó là các loại thợ
thêu (làng Quất Động - Thường Tín - Hà Tây), thợ làm
trống (gốc làng Đọi Tam - Hà Nam), thợ tiện (làng Nhị
Khê - Hà Tây), thợ làm mành (làng Giới Tế - Bắc Ninh),
thợ làm quạt (làng Đào Xá - Hưng Yên), đúc đồng (làng
Đại Bái), vàng bạc (làng Định Công)...
Những người thợ thủ công ở khắp nơi
mang nghề độc đáo của quê hương mình lên Hà Nội làm ăn,
họ lập ra những phố riêng bán sản phẩm của quê huơng
mình. Họ thành lập và liên kết với nhau trong các
phường hội để giúp nhau trong cuộc sống cũng như trong
việc giữ dìn nghề tổ. Giữa những người ở Thăng Long - Hà
Nội với những người ở quê luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ
với nhau. Khá nhiều những phường nghề ở Hà Nội đã cùng
nhau đóng góp xây đình để thờ vọng Thành Hoàng hay tổ
nghề của làng mình. Trong nhiều năm qua có khá nhiều hội
đồng hương của các làng nghề tập trung tại Hà Nội đã
hoạt động rất hiệu quả. Tiêu biểu là hội đồng hương làng
gò đồng Đại Bái. Hầu hết những người buôn bán và sản
xuất ở phố Hàng Đồng hiện nay là dân làng Đại Bái thuộc
huyện Gia Lương tỉnh Bắc Ninh. Có thể nói những phường
hội như thế đã giúp cho nghề nghiệp ở quê hương cũng như
ở Hà Nội phát triển đồng thời mọi người gắn kết với nhau
cùng nhau giữ gìn và phát huy lối sống, nhưng phong tục
tập quán tốt đẹp của quê hương mình.
Văn hoá ẩm thực của người Hà Nội
Hà nội là đất kinh đô
ngàn năm văn hiến, nơi hội tụ kết tinh, tinh tuý của mọi
miền. Ngoài văn hoá Vật thể, di sản văn hoá phi vật
thể Hà Nội có trữ lượng khá lớn. Nó đã phản ánh một cách
phong phú, đa dạng và chân thực truyền thống sinh hoạt
văn hoá của người Hà Nội. Một số loại hình của bộ phận
di sản này trong những năm qua đã được sư tầm, nghiên
cứu đã khẳng định văn hoá phi vật thể Hà Nội là tổng hoà
các yếu tố giao lưu, hội nhập, dung hoà, tiếp biến, cởi
mở, linh hoạt, để tạo nên bản sắc Thăng Long - Hà Nội
một vùng đất “hội thuỷ, hội nhân, và hội tụ văn hoá vô
cùng phong phú và đa dạng”
Trong kho tàng văn hoá
phi vật thể Hà Nội các giá trị về văn hoá ẩm thực chiếm
một vị trí đáng kể.Chính những giá trị này đã góp phần
sâu sắc để định hình nên bản sắc văn hoá Hà Nội, phong
vị Hà Nội như đã được nhắc đến khá nhiều.
Những món ăn đặc sản
như chả cá Lã Vọng, Xôi lúa Tương Mai, cốm Vòng, bánh
cuốn Thanh Trì, rượu Mơ...Những quán ăn với cách bài trí
thanh lịch, những tiếng rao đêm đầy ấn tượng của Hà Nội
xưa, những thói quen trong cách ăn uống...tất cả đã góp
phần làm cho Hà Nội trở thành khó quên đối với những ai
đã từng một lần đặt chân tới Hà Nội, nhà văn Thạch lam
đã từng viết: “muốn biết rõ một thành phố không cần phải
biết những lâu đài mỹ thuật, những bảo tàng, những tờ
báo, hay những nhà văn, nhưng cần phải biết những chốn
mà dan thành phố ấy ăn chơi. ăn và chơi đó là hai điểm
hành động mà trong ấy người ta tỏ rõ cái tâm tính cái
linh hồn mình một cách chân thực nhất”.
Riêng nói về món quà
ngon của Hà Nội thì ông đã ca ngợi hết lời: “Người Hà
Nội ăn thì ngày nào cũng ăn nhưng thường không để ý.
Nếu chúng ta về ở các tỉnh nhỏ ít lâu, hay ngay ở Hải
Phòng, Nam Định nữa, chúng ta mới biết
quà ở Hà Nội là ngon chừng nào”
Tìm hiểu về những món
ăn, nhất là các món ăn “cổ truyền” của Hà Nội không chỉ
là để nhận biết, thưởng thức cái thú vị đến lạ lùng, cái
ngon lành bổ béo của những thức ăn “cổ truyền” của nguời
Hà Nội. Mà còn là những chuyện thuộc các lĩnh vực sản
xuất, kinh doanh, cung cấp và tiêu thụ,kỹ thuật và thị
trường của các món ăn đó.
Muốn bảo tồn và phát
huy văn hoá ẩm thực thanh lịch của người Hà Nội trước
hết phải làm cho mọi người hiểu về các món ăn của người
Hà nội. Phong cách ăn của người Hà Nội: ăn vì lý do gì,
ăn ở đâu, ăn với ai, ăn những món gì?...
Từ xa xưa khu phố cổ
vẫn là nơi tập trung những hàng ăn có tiếng, những món
ăn cổ truyền đặc sắc của người Hà Nội.
Lễ hội
Trong một phần rất quan
trọng của văn hoá phi vật thể mảng truyền thuyết cũng
được đánh giá là vô cùng quan trọng. ở đây đã hình thành
những mảng truyền thuyết già đời như truyền thuyết cổ
đại của cả nước ta. Từ thời Hùng Vương thứ VI, trước cả
ông Thánh Gióng của làng Phù Đổng quá ư nổi tiếng, tại
trung tâm khu Phố cổ Hà nội, tại bến Tiên Ngư (Cá tươi)
trên bờ sông Tô Lịch đã hình thành câu truyện của ông
Lý Tiến chống giặc Ân khi chúng xâm lược nước Văn Lang
đã bị tử thương trong chiến đấu. Lý Tiến đã hy sinh khi
về đến làng quê Tiên Ngư trên bờ sông Tô Lịch này. Sau
khi mất, ông đã báo mộng vua Hùng khuyên vua rao mõ cầu
hiền, do đó đã phát hiện Thánh Gióng. Sự tích Lý Tiến
được ghi trong Thần phả và trong sách Tây Hồ Chí. Có thể
nói đây là một trong những vị anh hùng chống ngoại xâm
đầu tiên của dân tộc và đã hy sinh anh dũng ngay trên
địa phận khu Phố Cổ. Đền thờ nay còn dấu vết ở phố Hàng
Cá, số nhà 27.
Lễ hội dân gian Hà Nội
cổ truyền trước cách mạng tháng Tám nhất là từ thế kỷ 19
trở về trước không những có một quá trình lịch sử lâu
dài mà còn phát triển mạnh mẽ và giữ vai trò của một
loại hình sinh hoạt văn hoá cộng đồng quan trọng ở Kinh
Đô.
Hạt nhân của lễ hội Hà
Nội là nghi thức, lễ tiết nông nghiệp, thờ nước, thờ lúa
cùng các sản phẩm của cây lúa. Điều này không chỉ diễn
ra ngay ở nội thành (nhất là khu phố cổ hiện nay), giữa
vùng tụ cư thị dân đông đúc với những lễ tiết nông
nghiệp điển hình như “lễ tế xuân ngựu” với tục “Đả xuân
ngưu” của phường Đông Hà xưa mà không gian của lễ hội
trải dài trên các phố từ Hàng Chiếu đến tận Hàng Gai bây
giờ.
Hà nội xưa tuy giữ vị
trí đô thị hàng đầu nhưng vẫn không thoát khỏi sự phát
triển yếu ớt và chậm chạp của các đô thị cổ Việt Nam
cũng như các đô thị cuả Phương Đông. Vì thế không có văn
hoá đô thị rạch ròi mạnh mẽ và tất yếu lễ hội cổ truyền
Hà Nội phải mang đậm tính chất nông thôn nông nghiệp,
bên cạnh chất nông thôn nông nghiệp, lễ hội cổ truyền
Hà Nội còn đậm đà màu sắc lịch sử, bởi không đâu khác Hà
Nội là trung tâm, là nơi tập trung các nhân vật lịch sử
và những sự kiện lịch sử, những dấu ấn lịch sử của môi
trường văn hoá đô thành.
Tuy Hà Nội xưa kém phát
triển theo kiểu một đô thị trung cổ phương Đông nhưng
kgông ở đâu có điều kiện phát triển văn hoá qua lễ hội
bằng Hà Nội. Bởi vì lễ hội phải được xây dựng trên một
tổ chức cao, có được phương tiện, điều kiện vật chất và
có xã hội phát triển. Với những điều kiện như thế, Hà
Nội xưa đã đáp ứng tót hơn tất cả mọi nơi. Vì Hà Nội là
Kinh Đô của cả nước; Hà Nội có vua, có triều đình, có
văn hoá bác học, coi trọng văn hoá lễ hội. Đặc biệt Hà
Nội có các phố phường thủ công, thương nghiệp dịch vụ
tạo được những điều kiện vật chất cao cho lễ hội. Có lẽ
bởi vậy điều ta rất dễ thấy ở nhiều lễ hội cổ truyền Hà
Nội là quy mô lớn và đồ sộ, Song lại rất thanh lịch.
Lễ hội dân gian xưa của
Hà Nội chiếm vị trí rất lớn và có tác động tích cực, sâu
sắc đến đời sồng tinh thần, đời sống văn hoá của người
Hà Nội. Thông qua lễ hội và trong lễ hội mọi hành động
đều chứa đựng ý nghĩa thiêng liêng đặc biệt. Nó là thời
điểm gắn bó các thành viên của cộng đồng lại với nhau.
Nó là thời điểm mà đời sống văn hoá của mọi người được
tổ chức chặt chẽ và có quy mô, do đó được nâng lên một
trình độ ao hơn so với những ngày thường, và đó còn là
thời điểm hội tụ các khả năng sàng tạo hội tụ các thể
loại văn nghệ, đưa lại niểm phấn khởi hào hứng cho mọi
người.
Qua điều tra về các lễ
hội Hà Nội, riêng ở nội thành thì lễ hội ở “Thăng Long
tứ trấn” là đền Bạch Mã, đền Voi Phục, đền Kim Liên và
Quán (hay Đền) Trấn Vũ đều diễn ra hàng năm với nghi
thức ngày một trang trọng.
Trong khu Phố Cổ còn có
một số đình đền như đình Đồng Lạc số 38 Hàng Đào, đình
Đại Lợi số 50 Gia Ngư, đình Trang Lâu số 77 Nguyễn Hữu
Huân, đình Đông Hà số 46 Hàng Gai...các truyền thuyết đó
đã hàng bao đời in sâu vào trí óc, tình cảm của nhân dân
và do đó đã có một sức sống mạnh mẽ. Vừa có thể coi như
một tư liệu bổ sung cho chính sử và nhất là đã trở
thành một thế giới tâm linh mà mọi người có thể tìm
được ở đó một nguồn năng lượng vô hình nhưng đầy tin
tưởng.
Một di tích nữa chứng
minh lịch sử lâu đời và đồng thời cũng là một khía cạnh
của tâm linh người Hà Nội thời cổ sơ là ddền Hương Nghĩa,
số 13B phố Dào Duy Từ. Đền thờ Cao Tử, em con chú ruột
ông Cao Thông, tức Cao Lỗ, người đã chế tạo ra chiếc nỏ
thần kỳ giúp vua Thục An Dương Vươngđánh quân xâm lược
Triệu Đà. Cao Tử có tài võ nghệ, từng thi diễn tại thành
Cổ Loa và được vua Thục gả công chúa Phương Minh là con
gái thứ ba, em của Mỵ Châu. Ông chỉ huy quân Thuỷ và đã
đánh bại Triệu Đà nhiều lần, sau khi Trọng Thuỷ đánh lừa
Mỵ Châu lấy cắp được bí mật nỏ thần và phản bội đem quân
xâm lấn. Cao Tử dàn bày thế trận ở Khu Kiên Nghĩa trên
bờ sông Tô, ngồi trên voi chửi mằng Trọng Thuỷ và thúc
quân tiến đánh. Vì lực lượng chênh lệch nên bị thua. Cao
Tử đã hy sinh ở trong dòng sông “Tô Lịch cùng voi chiến”.
Sau khi mất, ông được thờ ở Hương Nghĩa và đình Ngũ Đằng,
phố Hàng Bè. Đền Ngũ đằng có cả tượng voi đá và trước
đây còn giữ được đôi câu đối khá tiêu biểu:
“Tô chữ mô ba đào, nhất
phiến tinh trung truyền Thục sử
Lao thành huyền nhật
nguyệt, cửu trùng hoa cổn tự Đinh triều”
Dịch là:
“ Sông Tô nổi dậy sóng
căm hờn, tấc dạ tinh trung truyền sử Thục
Thành Loa treo cao vầng
nhật nguyệt, áo hoa phong tặng vi triều Đinh”
(Đền Hương Nghĩa nay còn
giữ được tương đối tốt, còn đền Ngũ Đằng rất tiếc đã bị
biến ...thành cửa hàng!)
Trong khu phố cổ còn có một đình đền khác thờ Tản Viên
và hai anh em là Cao Sơn và Quý Minh, tượng trưng cho
núi Ba Vì, từ xưa vẫn còn là núi thiêng của cả nước,
đồng thời cũng được coi là bức chắn phía Bắc của kinh
thành Thăng Long. Như đinhg Đồng Lạc ở 38 Hàng Đào ,
đình Đại Lợi ở số 50 Gia Ngư, đình Trang Lâu số 77
Nguyễn Hữu Huân, đình Đông Hà số 46 Hàng Gai... các
truyền thuyết đó đã hàng bao đời in sâu vào trí óc, tình
cảm của nhân dân và do đó đã có một sức sống mạnh mẽ.
Vừa có thể coi như tư liệu bổ sung cho chính sử và nhất
là đã trở thành một thế giới tâm linh mà mọi người có
thể tìm được ở đó một nguồn năng lượng vô hình nhưng đầy
tin tưởng.
Ngoài ra khu phố cổ còn
là nơi phát nguồn của sông Tô Lịch, nơi mà sau này thành
phường khương Giang Khẩu nổi tiếng. Có thể tin chắc rằng
chỗ ngã ba sông Cái và sông Tô là một địa điểm dân cư
khá lâu đời.
Của sông Tô lần đầu
tiên được ghi trong sử như một vị trí chống ngoại sâm
hiểm yếu vào năm 545 khi Lý Bí dựng thành luỹ tại đây
để chống quân xâm lược Trần Bá Tiên. Bọn đô hộ sau đó đã
nhận thấy vị trí chiến lược xung yếu của khu vực này nên
đến năm 607, chúng đã dời đô sở đô hộ từ Long Biên (Bắc
Ninh) sang nơi đây, mà chúng đặt tên là Tống Bình. để đề
phòng những cuộc tấn công của người bản địa, chúng bắt
dân chúng xây dựng những thành kiên cố, bắt đầu từ Khâu
Hoà năm 621 sau đến Trương Bá Nghi và cuối cùng là Cao
Biền (Thế kỷ thứ 9). Thời gian này đã hình thành một tín
ngưỡng thờ thần Long Đỗ, tương truyền đã hiện ra trên
không, khi Cao Biền, viên đô hộ đã đắp thành Đại La -
Một buổi trưa ra chơi Cửa Đông ngoài thành, y đã sợ hãi,
vội tìm đồng và sắt làm bùa yểm chôn xuống đất với hy
vọng chế ngự được thần. Cao Biền phải than: “Đất nơi đây
thật anh linh, ta phải mau về phương Bắc”. Và y đã dựng
đền, đắp tượng thờ.
Trong khu Phố Cổ còn có
một truyền thuyết khá nổi tiếng kể rằng Lý Công Uẩn khi
chuyển kinh đô từ Hoa Lư ra đây nhiều lần xây đắp thành
không xong, đã cầu đảo và thấy hiện ra một con ngựa
trắng đi vòng quanh khu vực định làm thành rồi vào trong
đền biến mất. Lý Công Uẩn đã dựa theo dấu vết chân ngựa
để xây thành và công trình đã thành công nhanh chóng.
Đó là thần Long Đỗ đã hiện lên giúp vua Lý, được vua đặt
tên là Bạch Mã.
Hiện nay thần Long Đỗ
tức Bạch Mã được thờ tại đền Bạch Mã ở Hàng Buồm. Tín
ngưỡng Long Đỗ - Bạch Mã đã cùng tín ngưỡng các thiên
thần, thiên thần thời Hùng Vương, nói lên tâm hồn người
Thăng Long - Hà Nội yêu nước, yêu đồng bào thắm thiết.
Một khía cạnh văn hiến trong khu Phố cổ Hà nội của Thăng
Long là tâm linh hướng tổ, tức lòng ngưỡng mộ tổ tiên;
hướng vào cội nguồn, không “xanh như lá bạc như vôi”. Dù
ở bốn phương, tứ trấn qui tụ về đây dân chúng vẫn luôn
nhớ về làng quê gốc cũ. Sự hiện diện của khá nhiều đình
đền gọi là “vọng từ, vọng đình” đã chứng minh điều đó:
Nhị Khê vọng từ phố Hàng Hành, Trâu Khê vọng đình phố
Hàng Giày, hai đình Hàng Bạc ở phố Hàng Bạc(42 và 50),
hai đình Hàng Giày ở ngõ Hài Tượng và ở phố Hàng Hành,
đình Hàng Quạt (Hàng Quạt), đình thợ thêu (ngõ Tạm
Thương), đình Thợ Nhuộm (phố Hàng Đào), hai đình thợ Rèn
(phố Lò Rèn và Lò Sũ) v.v...
Ngoài làng nghề lại có
cả làng văn (thực ra văn cũng là một nghề). ở phố Hàng
Bông, số 68 là đình Lương Ngọc do dân làng này vốn ở
huyện Bình Giang (hải Dương) ra đây sinh sống và xây nên.
Lương Ngọc là quê của nhà thơ nổi tiếng Phạm Quý Thích
từng mở một trường dạy học đào tạo rất nhiều danh sĩ: Vũ
Tông Phan, Nguyễn Văn Siêu...có lẽ trường học ngay đình
này, vì tại đây có một câu đối khá tiêu biểu:
“ Giáp khoa tạc vọng truyền kinh quốc
Văn hiến danh hương ngưỡng đẩu
sơn”
Dịch là:
“ Tiếng đức lớn giáp
khoa, truyền khắp kinh đô đất nước,
Chốn danh thơm văn hiến ngửa
trông Bắc Đẩu Thái Sơn”
(Bắc Đẩu Thái Sơn là tượng trưng cho thầy dạy đáng kính
trọng)
Ngõ phất lộc có ngôi
đình Tiên Hạ của dân làng Phất Lộc. Phất Lộc thuộc huyện
Đông Quan, tỉnh Thái Bình có ông tổ họ Bùi ra Thăng Long
học ở trương Giám rồi định cư ra đây. Họ này vừa buôn
bán, vừa có nhiều người nổi tiếng về văn học như Bùi Tú
Lĩnh, Bùi Khánh Diễn. Chính họ này đã bỏ tiền tậu đất,
làm nhà dựng văn chỉ huyện Thọ Xương tại phố Bạch Mai.
Không chỉ họ Bùi, trong
ngõ này còn có nhà thờ họ Đinh, họ Lê cả ba nhà thờ họ
này là những dấu tích của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
của người Việt.
Những di tích trên,
không những cho thấy sức hút của kinh đô Thăng Long và
chủ yếu là trung tầm kinh tế của Thủ đô, tức khu phố cổ,
đối với các tỉnh khác của cả nước, mà mặt khác còn thể
hiện một khía cạnh đáng yêu, đnág quí của tâm hồn dân
tộc, tình lưu luyến quê hương xứ sở, trước sau như một,
tình làng nước, đoàn kết giữa những người cùng một quê
hương.
Khu Phố Cổ chính là nơi
đã lưu giữ - ngoài những công trình văn hoá còn có nhiều
giá trị tinh thần mà ngày hôm nay có thể giúp chúng ta
nhìn ra những khía cạnh khác nhau của tâm hồn người
Thăng Long xưa để lựa chọn, thừa kế, xây dựng một khu
Phố Cổ trong lòng thành phố Hà Nội.
Các dòng họ Hà Nội
“Uống nước nhớ nguồn”
từ lâu đã là một đạo lý Việt Nam, từ vô thức, tiềm thức
đến ý thức. Vì thế nguyên lý cùng dòng nguồn khi tiểm ẩn,
lúc bộc phát đang và sẽ còn đóng vai trò làm mền dẻo đi
các nguyên lý xã hội khác như nguyên lý láng riềng,
nguyên lý giai cấp...phải chăng vì thế CHủ tịch Hồ Chí
Minh sinh thời hay nói đến : “ Đại gia đình các dân tộc
Việt Nam”, “bốn phương vô sản đều là anh em”...
Con người ta luôn có
nhu cầu muốn biết về cội nguồn của mình. Đó là gốc rễ
tình cảm - tính người về sự trở lại cội nguồn. Đồng thời
nó còn có nguyên nhân xã hội - tâm linh sâu rộng hơn.
Nói đến những dòng họ ở
Hà Nội thì rất nhiều, qua kết quả đièu tra hiện có tới
hơn 200 họ khác nhau ở Hà Nội và những vùng phụ cận.
Trong đó nổi lên rất nhiều dòng họ tiêu biểu ví như: Họ
Nguyễn - Kim Lũ, Họ Vũ - Đan Loan với nghề nhuộm nổi
tiếng cùng sáu họ khác ở Xứ Đông sáng lập khu ngõ Phất
Lộc và rất thạo kinh doanh. Ai cũng biết ngõ Phất Lộc là
nơi gợi hứng bất tuyệt góp phần hình thành một phong
cách nghệ thuật “Phố Phái” (Bùi Xuân Phái).
Tục lệ hương ước Hà Nội
Thăng Long Hà Nội tuy là
Kinh Đô, là đô thị lớn nhất của cả nước nhưng vẫn là “Kẻ
Chợ” của “Kẻ Quê”, ở đó có các thôn làng phố phường đan
xen và cùng nhau tồn tại qua trường kỳ lịch sử. Trong
xã hội Việt Nam xưa các tổ chức đó thường đặt ra những
điều ước để ràng buộc chế ngữ lẫn nhau, đièu hoà giả
quyết các tranh chấp va chạm. Những điều ước ấy được gọi
bằng nhiều cái tên khác nhau như Hương ước, hương khoán,
quy ước, lệ định, tục lệ...nhưng tất cả được xây dựng
tại địa phương, với yêu cầu cụ thể của từng địa phương.
Cho đến đầu thế kỷ XX do yêu cầu của chính quền đương
thời, các thôn làng phường phố của Hà Nội cũng như cả
nước cũng phải tự kê khai hưiơng ước của địa phương mình
theo khuôn mẫu qui định. Hiện nay theo số liệu điều tra,
Hà Nội còn lưu giữ được hàng trăm bản hương ước bằng chữ
Hán và chữ Nôm.Dân gian ta đã có câu “Phép vua thua lệ
làng” điều đó nói lên sức mạnh và tác dụng gắn kết của
hương ước đối với từng cộng đồng nhỏ.
Tìm hiểu, nghiên cứu
những bản hương ước, tục lệ của Hà Nội chúng ta có thể
hình dung được các mặt sinh hoạt xã hội rất đa dạng thời
xưa. Và cũng từ đó ta dễ dàng nhận thấy những mặtu tích
cực, những điểm còn hạn chế của hương ước xưa.
Tích cực
ở chỗ các bản hương ước đều bao gồm những điều lệ
rất chặt chẽ. Ai vi phạm hương ước là vi phạm đến cả
cộng đồng, sẽ bị sử phạt theo mức độ nặng nhẹ khác nhau.
Đó chính là cơ sở để giữ yên kỷ cương phép nước. Mã duy trì được kỷ cương
phép nước. Mã duy trì được kỷ cương phép nước chính là
để xây dựng một xã hội có luật pháp, thì có lẽ một chính
thể nào, một xã hội nào cũng cần đạt tới.
3.
Giá trị kiến trúc và cảnh quan
Với một diện tích khoảng 100ha,
nhưng đã tích tụ rất nhiều những yếu tố kinh tế, xã hội,
tập quán, truyền thống...nhưng nổi bật hơn cả là các yếu
tố, những vẻ đẹp vừa rất giản dị, mộc mạc, vừa rất đặc
thù về bản sắc của một dân tộc có nền văn hoá, kiến trúc,
tâm linh...rất riêng thông qua một không gian tổng thể
với cái tên rất ẩn tượng: “Khu Phố cổ Hà nội”. Đó là cái
tên mà ngày nay, mỗi khi nhắc đến, dù là người trong
nước hay người nước ngoài đều nghĩ đến một cái gì đó rất
đáng trân trọng. Bởi lẽ, tại đây đã chứa đựng và phản
ảnh khá đầy đủ về các loại hình kiến trúc như nhà ở,
đình, chùa, chợ búa, đường đi lối lại, đại diện cho một
thời kỳ hình thành và xây dựng của Thủ đô chúng ta, Thủ
đô Hà Nội.
Kiến trúc đô thị là
biểu hiện văn hoá vật chất của cộng đồng được hình thành
qua quá trình phát triển liên tục và tuân theo qui luật
tiếp biến văn hoá. Vì vậy, nhận diện bản sắc văn hoá đô
thị, có một phần quan trọng thông qua các giá trị của
kiến trúc đô thị.
Khu Phố Cổ là thành
phần quan trọng trong hệ thống trung tâm lịch sử của Hà
Nội - nơi tập trung cao nhất mọi hoạt động của đô thị,
là hình ảnh đại diện các giá trị văn hoá đô thị của Hà
Nội.
Các giá trị văn hoá của
khu Phố cổ Hà nội được nhận biết đồng thời qua các đặc
trưng hình thái kiến trúc, cảnh quan đô thị và qua ý
nghĩa tượng trưng của kiến trúc đô thị vốn được tạo
thành bởi phương thức tổ chức, đặc thù về hoạt động kinh
tế xã hội và văn hoá của cộng đồng dân cư. Hai yếu tố
này luôn đi cùng nhau và kết hợp hữu cơ với nhau để tạo
nên giá trị thống nhất của kiến trúc đô thị. Giá trị
hình thái và ý nghĩa tượng trưng của kiến trúc đô thị
vừa tác động, vừa bị chi phối bởi trạng thái tâm lý của
con người khi sử dụng và nhân thức về không gian kiến
trúc đô thị. Rõ ràng, yếu tố tượng trưng hay cao hơn là
yếu tố biểu tượng của kiến trúc liên hệ chủ yếu đến di
sản văn hoá và kiến trúc, tạo nên ấn tượng sâu sắc trong
cảm nhận các giá trị của kiến trúc.
Do đó có thể nói, đặc
trưng văn hoá đô thị Hà Nội dễ dàng được cảm nhận trong
cấu trúc chức năng và không gian 36 phố phường, trước
hết thông qua các công trình kiến trúc có giá trị lịch
sử cùng những huyền thoại lối sống và nhiều biểu thị văn
hoá vốn trải thời gian đã được định hình.
Đặc điểm dân gian thể
hiện rất rõ trong cách tổ chức khu phố trên cơ sở đơn vị
phường nghề với phương thức sản xuất, tổ chức xã hội và
các thiết chế văn hoá, tín ngưỡng và đương nhiên là cả
cách thức xây dựng có nguồn gốc từ nông thôn.
Phố xuất hiện sau
phường do nhu cầu trao đổi thương nghiệp tăng dần. Phố
là bộ phận của phường, thuộc về phường và là bộ mặt của
phường. Đồng thời phố là thành phần liên kết các phường
khác nhau trong mối quan hệ hỗ tương và tạo nên một mạng
lưới. Đó là cấu trúc đô thị.
Sự hình thành tuyến phố quyết định sự
hình thành ô phố. Sở dĩ mạng lưới đường phố và ô phố
trong khu 36 phố phường có kích thức nhỏ và không đồng
đều về hình dạng bởi vì quá trình hình thành và phát
triển phường, phố là quá trình mang tính tự phát, phát
triển theo nhu cầu, dường như không dự kiến trước và
hoàn toàn bị chi phối bởi điều kiện địa hình tự nhiên.
Các tuyến phố hình thành từ chính những con đường nhỏ
vốn kiêm chức năng thuỷ lợi thường có hình dáng tự nhiên,
quanh co.
Việc hình thành các đơn
vị phường đã tác động tới kiến trúc của khu Phố Cổ.
Chúng ta có thể thấy điều này qua sự phát triển của các
nhà hình ống đó là nhà dài có mặt tiền hẹp gọi là nhà ở
hàng phố, phòng quay ra phố dùng làm cửa hàng và làm
hàng.
Nhà ở trong khu “36 phố
phường”có đặc trưng mặt tiền hẹp và chiều sâu nhà rất
dài vì thế có tên gọi phổ biến là “nhà hình ống”. Chúng
cũng còn được gọi là “nhà ở hàng phố”. Phần lớn các kiểu
nhà truyền thống mà ngày nay chúng ta vẫn có thể thấy
trong khu vực phố cổ được xây từ cuối thế kỷ XIX hoặc
được xây lại vào đầu thế kỷ XX.
Nhà hình ống quay mặt
ra mặt phố, chiều rộng trung bình của mặt tiền từ 2m tới
4m, trong khi đó chiều dài có thể từ 20m tới 60m và có
một số trường hợp lên tới 150m.
Nhà có nhiều lớp và
cách nhau bằng những sân trong, các sân trong thông
thoáng để lấy ánh sáng tự nhiên. Sân trong còn là nơi
diễn ra các hoạt động đa năng của nhà. Ngoài sân trong,
trong các ngôi nhà này trước đây còn có các mảnh vườn
nhỏ.
Trong khu phố cổ ngoài
nhà ở buôn bán của dân cư hiện còn 54 ngôi đình, 6 chùa,
22 đền, 3 miếu tổng cổng là 85 công trình tôn giáo tín
ngưỡng trên khu vực khoảng 100ha, có thể nói mật độ công
trình tôn giáo tín ngưỡng trong khu Phố Cổ thuộc loại
cao. Phần lớn các công trình này có lịch sử khởi dựng
cũng đã lâu mang dấu ấn của các thời xưa. Với lối kiến
trúc truyền thống dựng từ gỗ, gạch với các hệ kết cấu vì
kèo gỗ của nhiều thời kỳ, các không gian đình, đền,
chùav.v... này là các không gian tâm linh mang tính cộng
đồng, nó có mối quan hệ vô hình với các không gian tâm
linh riêng của từng ngôi nhà, trong khu 36 phố phường.
Các không gian văn hoá cổ này từ khi khởi dựng đến nay
vẫn đang hoạt động, và ngày nay với xu thế quay về với
triết học phương Đông, coi trọng tâm linh, các không
gian văn hoá cổ đã góp phần tạo nên đặc trưng của khu 36
phố phường.
|