|
GIỚI THIỆU GIÁ TRỊ KIẾN TRÚC - LỊCH SỬ ĐÌNH ĐỒNG LẠC
38 HÀNG ĐÀO
I.Tên gọi:
+ Đình Đồng Lạc là tên gọi theo địa danh xưa.
+ Đình chợ bán yếm lụa là tên gọi gắn với
một nghề truyền thống của kinh thành Thăng Long.
+ Đình Đồng Lạc - Trụ sở Ban quản lý Phố cổ
Hà Nội là tên gọi theo chức năng sử dụng hiện nay của
đình.
II. ĐỊA ĐIỂM PHÂN BỐ - ĐƯỜNG ĐẾN DI TÍCH:
1. Địa điểm phân bố:
Đình Đồng Lạc thuộc số nhà 38,
phố Hàng Đào, phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, Thành phố
Hà Nội.
Trước kia, đây nguyên là đất của 2 phường Đồng Lạc (phía
giáp Hàng Ngang) và Đại Lợi (phía giáp Bờ Hồ), thuộc
tổng Tiền Túc (sau đổi tổng Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương.
Hiện nay đình nằm ở thửa đất số 210 ô 7H-II-34 trên bản
đồ địa chính Thành phố Hà Nội.
2. Đường đi đến di tích:
Ngôi đình 38 phố Hàng Đào có mặt đứng chính hướng về
phía Đông khu Phố cổ Hà Nội. Có thể đi tới di tích bằng
nhiều đường khác nhau. Nếu đi từ bưu điện thành phố (bưu
điện Bờ Hồ) ngược lên phía Bắc, đi thẳng phố Hàng Đào
thì ngôi đình nằm bên phía tay trái.
Phương tiện đi lại thuận lợi nhất trong khu
vực phố cổ hiện nay là xe đạp, xe máy hoặc đi bộ.
III. SỰ KIỆN NHÂN VẬT LỊCH SỬ:
Phố Hàng Đào vào đầu thế kỷ XV đã được
Nguyễn Trãi ghi tên trong sách “Dư địa chí” của ông:
“Phường Hàng Đào nhuộm điều” Thế nghĩa là từ thời đó dân
phường này đã có làm nghề nhuộm màu đỏ, màu hồng, màu
hoa đào... Nhưng đến thế kỷ XVIII, thì phố này nhận
nhuộm thêm nhiều màu khác, còn nhận cả “chuội” tơ lụa
cho trắng nõn ra. Sách “Thượng kinh phong vật chí” (một
tác phẩm trong cùng thế kỷ) còn ghi: “Phường Hàng Đào
làm nghề nhuộm mầu, mầu trắng, như tuyết, mầu đỏ, như
tiết, mầu đen, đen như nhuộm mực, mầu vàng là mầu chính,
mầu tạp thì có màu huyền, thiên thanh, hoa đào, cánh cả,
quan lục, không màu nào giống màu nào....” Cũng vậy
trong “Vũ trung tùy bút”, Phạm Đình Hổ đã nhận xét:
“Phường Diên Hưng (Hàng Ngang), phường Đồng Lạc (Hàng
Đào)” là nơi phố hàng aoa, bán cac thứ tơ lụa, vóc nhiễu
rất nhiều”
Thời Pháp thuộc, phố Hàng Đào vẫn là nơi tập trung bán
tơ lụa. Hai bên phố là những cửa hàng bán đủ các loại
mặt hàng dệt bằng tơ tằm, the, lĩnh, lụa lượt, là, cấp,
vải, kỳ cầu, nhẽo, gấm, vóc, sa, xuyến v.v...
Cũng tại đây mỗi tháng có họp tới 6 phiên chợ và các
ngày 1 và ngày 6, gọi là chợ hàng tơ. Người các làng La
Khê, La Cả ra bán the, người làng Mỗ ra bán cấp, đũi,
người Vạn Phúc, kẻ Bưởi đem lĩnh tới. Trừ gấm, vóc là
dệt bằng tơ đã nhuộm, các thứ khác để mộc, dân Hàng Đào
mua về đem nhuộm điều, nhuộm đỏ, hoặc giao cho người chợ
Dầu (Đình Bảng), người làng Tây Hồ, hàng thợ nhuộm đen,
nhuộm thảm, hoặc đem nhờ bên Cầu Gỗ chuội trắng...
Ở Hàng Đào có vài hiệu bán vải, mặc dù những thứ hàng
này đã có một phố riêng là phố Hàng Vải.
Tới đầu thế kỷ XX, một số người? n Độ tới mở hiệu bán
các thứ vải vóc len dạ nhập từ phương tây, cũng vào thời
kỳ này mọc lên một số hiệu tạp hoá vàng, bạc, làm mũ ...
Cho nên thực dân Pháp đã đặt tên cho phố này là “Phố
hàng tơ lụa”. Cũng vào thời kỳ này mọc lên một số hiệu
tạp hoá.
Sau thời kỳ này số cửa hàng chuyên bán tơ lụa cũng hẹp
lại dần. Nhiều nhà bán lụa quay sang kiêm bán cả hàng
vải bông như hiệu Tây đen, có tủ kính bầy hàng, biển
hiệu bằng chữ quốc ngữ, chữ tây. Phố Hàng Đào không còn
chuyên bán tơ, lụa, vải tấm. Các cửa hiệu tạp hoá bắt
đầu chen vào giữa đám cửa hàng vải. Tạp hoá bán ở Hàng
Đào phải là những thứ hàng mới có, hàng mốt mới nhập từ
Pari, đó là những cửa hàng bán mũ da, khăn quàng, cà vạt,
mùi xoa, phấn sáp, nước hoa, các đồ trang sức vàng bạc,
vài cửa hàng giầy da, cửa hàng dệt kim, cửa hàng quần áo
may sẵn v.v... và hiện nay thì cũng đủ chủng loại hàng
hoá trên thị trường chung của khu vực, chủ yếu vẫn là
quần áo may sẵn.
Đối với lịch sử cách mạng cận đại, Hàng Đào có một ngôi
nhà đáng lưu ý - nhà số 10 trong thời gian từ tháng 3
đến tháng 12 năm 1907 là trường Đông Kinh Nghĩa Thục -
nhà trường do các sĩ phu yêu nước, tiến bộ lập ra để đào
tạo những con người hữu dụng cho đất nước.
Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc, phố
Hàng Đào là chiến luỹ phía nam của Liên khu I.
Ngày giải phóng Thủ đô (10/10/1954)
một mũi của đội quân ta từ bên Gia Lâm qua cầu Long Biên,
tiến vào thành phố, qua phố Hàng Đào giữa một rừng hoa.
Đình Đồng Lạc nằm ở phố Hàng Đào, theo nhiều nguồn tư
liệu dân gian và thành văn thì đình thờ Cao Sơn, Linh
Lang, Bạch Mã, còn là nơi bán các sản phẩm yếm lụa từ
thời Lê. Tuy nhiên do nhiều biến động của lịch sử, do
chiến tranh, do xâm thực của thiên nhiên, do tác động
của con người, ngôi đình đã bị tàn phá và hư hỏng nhiều.
Năm 1941, một gia đình đã xây dựng lại ngôi đình, quy
mô hai tầng, dùng để bán hàng và để ở. Năm 1956 ngôi
đình được sử dụng làm cửa hàng bách hoá. Đến năm 2000,
cùng với sự hợp tác giữa thành phố Hà Nội và thành phố
Toulouse
(CH Pháp) ngôi nhà được chọn để cải tạo, bảo tồn.
Hiện nay nhà số 38 phố Hàng Đào là trụ sở của Ban quản
lý Phố cổ Hà Nội, đồng thời để nhân dân và khách nước
ngoài tham quan công trình.
·
Lịch sử thần thờ:
Thần Bạch Mã (hay còn gọilà thần Long Đỗ), hiệu là “Long
Đỗ Thần Quân Quảng Lợi Bạch Mã Đại Vương”:Tương truyền
rằng, vào thế kỷ IX, viên quan đô hộ nhà Đường (Trung
Quốc) là Cao Biền đắp La Thành. Khi ra ngoài Cửa Đông,
thấy một người lạ trong đám mây ngũ sắc. Biền vốn là đạo
sỹ có ý muốn trấn áp. Đêm, Biền nằm mộng thấy người đã
gặp. Người đó tự xưng là Long Đỗ. Cao Biền đem chiếc búa
bằng đồng đi chôn yểm. Đêm sau nổi mưa gió. Sáng ra thấy
chiếc búa đồng bị đánh tan như cát bụi. Biền sợ và lập
đền thờ. Năm 1010, khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra
Thăng Long, định đắp thành, thành mới đứng vững. Thần
được Lý Thái Tổ phong làm Thành hoàng của kinh thành
Thăng Long. Thần Long Đỗ, tức Thần núi “Rốn Rồng” cũng
gọi là núi Nùng (hiện nay nằm trong Thành cổ Hà nội)
Tương truyền núi có khe thông sâu xuống đất, tiếp nhận
khí thiêng sông núi. Trong văn bia “Trùng tu Bạch Mã
miếu bi ký” có niên đại Minh Mệnh nguyên niên (1820) cho
biết: “ Ngài là vị Thành hoàn cả kinh thành Thăng
Long... Thần một môn, một ấp đều được tôn kính, huống
đây là vị thần chủ tể một khu vực ngàn dặm, được hàng
trăm đời vua cúng tế. Các công lao ban phúc cho đất nước,
giúp đỡ nhân dân, trong đó, cả đô thành và lân ấp được
nhờ cậy.
Thần Linh Lang
...Vào đời Lý Thánh Tông trị vì, ngài là bậc đức rộng
tài cao, có đức độ của bậc minh quân. Vì thế thiên đế
cho bậc kỳ tài giáng sinh, hoàng gia sinh ra bậc thánh
nhân. Truyền rằng bấy giờ ở giáp Đông Đoài, xã Bồng Lai,
huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, xứ Sơn Tây, có một gia đình
họ Nguyễn tên là Thực lấy bà họ lê tên là Năng. Vợ chồng
ông Nguyễn vốn là gia đình hào phú, ông bà hiền lành
chất phác. Một hôm bà nằm ở phòng lan, mơ màng ngủ thiếp
đi bỗng nhiên trông thấy một con rắn mây đuổi theo mặt
trăng.
Bà nằm ngửa lên nhìn, bỗng nhiên thấy mặt trăng sa vào
vào đúng miệng. Bà bàng hoàng tỉnh giấc đem những điều
thấy trong mộng mị đến nói lại cho ông nghe. Ông Nguyễn
nói: điềm lành thấy trong giấc mộng, chắc hẳn trời cho
ta sinh quý nữ.
Được một trăm ngày sau quả nhiên bà có thai. Sau đó bà
sinh được một người con gái (sinh ngày 18 tháng 3 năm
Quý Sửu) phong tư yểu điệu, mắt phượng long lanh, mặt
ngọc phương phi, sắc đẹp có thể sánh với Hằng Nga, môi
son má phấn, thân hình rất đượm sắc xuân, tên nàng là
Hạo. Năm nàng lên 3 tuổi cha nàng mắc bệnh hiểm nghèo
rồi mất, hôm ấy là ngày mồng 5 tháng 9. Bà mẹ làm lễ
chôn cất, rồi cư tang vừa đủ ba năm. Bà mẹ nàng có một
người dì lấy chồng ở phường Thị Trại, Thành Thăng Long (phường
này nằm trong địa giới huyện Vĩnh Thuận, sau phường đổi
tên là trại Thủ Lệ), gia đình bà dì là người hào phú,
sống về nghề buôn bán tơ lụa, vải vóc. Hai mẹ con bà
liền dắt nhau đến ở cùng với bà dì ở phường Thị Trại,
cùng buôn bán sinh sống ở đấy.
Được hơn 10 năm, bấy giờ nàng Hạo vừa đầy mười bảy tuổi,
một đóa hoa đào mười phần xuân sắc. Nàng có vẻ đẹp khiến
chim sa cá lặn ngọc thẹn hoa hờn. Công dung ngôn hạnh,
tứ đức kiêm toàn, song cung thềm còn đương khoá, ngọc
nhuỵ chính đương phong kín. Một hôm vua Lý Thánh Tông
ngự giá tuần du ra vùng ngoại thành nhân dân náo nức đến
xem. Bấy giờ nàng Hạo cũng đến xem đứng ở bên trái đường.
Nhà vua thấy có dung nghi nhan sắc tốt tươi, nghĩ rằng
người thường không thể như thế được. Nhà vua rất quý mến
liền sai sứ thần đến hỏi, rồi đón về cung, ban thưởng
cho bà mẹ 100 nén vàng. Vua Lý Thánh Tông cho đón nàng
về phủ, lập làm đệ cửu cung phi. Vua vô cùng yêu quý
nàng, lại cho lập một cung điện ở ngay tại đất phường
Thị Trại (vùng đất này là phần phải của mảnh đất Thăng
Long, một phiến rồng uốn lượn chầu về tổ đứng ở chỗ đất
này. Nhà vua cho phép vùng này là đất Thủ Lệ sở tại. Từ
đó họ hàng quý hiển hương ấp vinh hoa. Được ba bốn năm
bà mẹ mắc bệnh rồi mất ở phường Thị Trại.
Hơn hai năm sau, một hôm bà ra bờ Hồ Tây giặt lụa và tắm
rửa để chuẩn bị vào cung hầu vua, bỗng nhiên một con
giao long từ ngoài hồ sâu lao thẳng vào chỗ bà cung phi
đang tắm, giao long quấn chặt lấy thân bà ba vòng, phun
rớt rãi ra đầy người, có mùi thơm nức. Lát sau giao long
lao ra giữa hồ phun nước thành mây ngũ sắc bay thẳng lên
không trung, giao long lặn biến mất. Bà cung phi bàng
hoàng sợ hãi vội vã quay trở về, khiếp sợ đến sáu ngày
sau không dậy nổi. Từ đó bà có mang. Khi bà mang thai
được 14 tháng, một hôm bà ngồi chơi ở vườn hoa, bỗng
nhiên mơ màng ngủ thiếp đi chợt mơ thấy một bậc đại
trượng phu, mình dài chín thước, đầu đội mũ rồng sáng
chói, mình mặc áo bào đai ngọc rõ ràng cưỡi mây đạp mưa
đến thẳng trước mặt bà cung phi thưa rằng: “Thần vốn là
con trai Long Vương tên là Hoàng Lang, có lệnh cho xuất
thế thác sinh làm con vua”. Nói chưa hết lời cung phi tự
nhiên tỉnh giấc, hôm ấy là ngày 13 tháng 12 năm Giáp
Thìn, bỗng nhiên thấy một trận cuồng phong nổi lên, trời
đất tối tăm mù mịt, gió thơm ngào ngạt ở trong phòng lan
khí lành rực rỡ ở buồng sản cho đến giờ ấy cung phi sinh
ra một cậu con trai. Đứa bé mắt phượng, cổ rồng, mày hùm,
hàm én, hình dung to lớn, thể mạo khôi kỳ, sau lưng có
28 tinh tú, giống hệt như vẩy kỳ lân, ước bụng có ngôi
sao bắc đẩu, có chuỗi ngọc phân ra như hình diệu, sinh
được 7 ngày nhà vua dựa theo mộng - triệu mà đặt tên là
Hoàng Lang. Sau đó một tháng, bỗng nhiên có giặc Trinh
Vĩnh ở phương Bắc nổi loạn kéo đến ngàn vạn hùng binh âm
mưu xâm chiếm đất nước. Quân giặc kéo đến như sấm động,
làm rối loạn cả kinh sư, thế nước nghiêng ngả. Quần thần
đều bó tay, ai nghe thấy tin đều khiếp sợ. Nhà vua rất
lo sợ, bèn cho lập đàn trai giới cáo tế thiên địa, lại
truyền cho các quan đi cầu đảo bách thần ở các đền thờ
thượng đẳng tối linh (Bây giờ ở xã Bồng Lai có hai đền
là Linh Hựu và Yến Minh) để xin các thần âm phù giúp
nước đáng giặc. Lập đàn cầu tế vừa được ba ngày, trời
đất tối tăm mù mịt, đêm hôm ấy nhà vua ngự ở cung Thái
Hoà. Bấy giờ gió mưa nổi lên, nhà vua mơ màng ngủ thiếp
đi, bỗng nhiên nghe thấy tiếng đọc thơ rõ ràng như rót
vào tai.
Thế nước gieo neo có thánh tài
Vận trời đã định há lo hoài
Nếu cầu người giỏi nơi phường
Trại
Giặc Vĩnh Trinh kia chết chẳng
sai.
Nghe xong tiếng ngâm tụng, nhà vua chợt tỉnh giấc, biết
đó là giấc mộng. Nhà vua nghĩ rằng những điều thấy trong
giấc mộng chắc là thiên địa quỷ thần báo cho biết, bèn
sai quan đi cầu cứu anh hùng hào kiệt trong thiên hạ,
xem ai là người tài giỏi có mưu lược phá được giặc, ắt
sẽ trọng thưởng. Khi ấy Hoàng Lang ở đất Thị Trại nghe
tiếng quan rao, Hoàng Lang nhổm dậy tự nhiên cất tiếng
gọi mẹ: “-xá nhân đi rao có việc gì vậyx?”. Bà mẹ rất
đỗi ngạc nhiên liền nói:
“Nay nước nhà có giặc Vĩnh Trinh đến xâm chiếm kinh đô,
sinh dân lầm than, triều đình bó tay, thế nước nghiêng
ngả. Do vậy nhà vua sai xá nhân đi rao cầu tìm người tài
giỏi trong thiên hạ về giúp nước. Con còn thơ dại chả
nhẽ lại muốn đi đánh giặc để đền báo nghĩa vua tôi hay
sao mà lại hỏi thế? Hoàng Lang lại giục mẹ mau mau mời
xá nhân vào nhà. Bà cung phi lây slàm lạ liền sai gia
nhân mời xá nhân vào cung phủ. Hoàng Lang nói với xá
nhân rằng:
Ngươi hãy mau mau về báo với nhà vua xin sắm sửa cho ta
một lá cờ
lớn
dài 10 thước và một con voi rồi mang lại cho ta ngay đủ để
một mình ta phá giặc, xin nhà vua đừng có lo ngại gì cả.
Xá nhân nghe nói bàng hoàng quay trở về, tâu lại với nhà
vua. Nhà vua hết sức vui mừng, ngay ngày hôm ấy liền sai
làm một lá cờ dài mười thước. con voi lớn cùng 5 ngàn
binh lính chiêu mộ được đưa đến phường Thị trại làm gia
thần”.
Ở Thủ Lệ tuyển chọn được 12 người. Bấy giờ ở phường Thủ
Lệ có Lê Công Bảo làm tì tướng hành khiển luôn ở hai bên
tả hữu đốc thúc gia thần để tử ở Thủ Lệ theo giúp Hoàng
Lang hai bên tả hữu. Các họ Đinh, Nguyễn, Đặng, Trương
cùng đều theo giúp.
Thế là Hoàng Lang liền nghiêng mình lắc mạnh, thân hình
bỗng nhiên cao lớn đến chừng chín thước tay cầm lá cờ
lớn 10 thước nhảy lên lưng voi con voi liền qùy xuống đỡ
lên. Hoàng Lang liền vung cờ thét lớn:
- Ta là thiên tướng.
Con voi lồng lên chạy như bay vút một cái lao như tên
bắn đến thẳng đồn giặc, đánh một trận lớn, trời đất tối
tăm mù mịt. Hoàng Lang cưỡi trên mình voi, tay phải cầm
cờ vẫy mạnh, chỉ vào đám giặc. Tướng giặc Vĩnh Trinh sợ
hãi ngã lăn ra.
Dẹp yên giặc giã, Hoàng Lang trở về triều báo tin thắng
trận, ngày hôm ấy tức ngày 12 tháng 9 cho mở yến tiệc
lớn ăn mừng. Sau đó nhà vua thưởng công cho các tướng sĩ
công thần.
Sau đó nhà vua có ý muốn nhường ngôi cho Hoàng Lang.
Hoàng Lang một mực từ chối không chịu nhận. Bấy giờ
Hoàng Lang bỗng mắc phải bệnh đậu mùa, suốt ba tháng
không sao chữa khỏi được. Tất cả các bậc lương y trong
cả nước hễ người có phương thuốc hay đều được mời đến,
song ai nấy đều bó tay nhìn nhau không có cách nào cứu
chữa được. Nhà vua ngự tới cung của Hoàng Lang, đến tận
nơi ngài nằm thấy bệnh đậu mùa rất nặng biết khó lòng
qua khỏi bèn nói:
Nếu như khanh phải là con ta thì bệnh đậu mùa dù nguy
nan tới đâu cũng có thể tự khỏi được cần gì phải đi cầu
các bậc lương y thuốc tốt.
Hoàng Lang nghe thấy nhà vua nói như vậy bèn nói rằng:
Thần vốn không phải con nhà vua mà là con của Long Quân
thác sinh vào làm Hoàng Tử do thấy thế nước gian nguy.
Vậy vâng theo thiên mệnh, thần thác sinh vào hoàng gia
để giúp nước dẹp giặc, nay giặc giã đã dẹp yên, thần xin
được về thuỷ quốc. Hoàng Lang xin được phong thưởng ở
đất Bồng Lai là quê hương mẹ thần, xin cho dựng một đền
thờ để sau này thần và mẹ thần đều được hưởng phúc một
nơi. Sau khi ngài hoá nhà vua lệnh cho bách quan và đất
Thủ Lệ tu sửa lại hai nơi, nơi thờ chính ở Thị Trại (Thủ
Lệ T), một đền thờ ở quê mẹ ở Bồng Lai. Truyền cho nhân
dân các nơi, hễ nơi nào có lá cờ bay đến là phải lập đền
thờ cúng, tất cả 269 nơi thờ.
Người đời có thơ rằng:
Sinh làm Hoàng tử, chết làm thần
Thờ cúng rõ ràng lại cách tân
Thị Trại ngàn năm danh tích đó
Tây Hồ muôn thủa nước trong
xanh.
Các đời Trần, Lê đức thánh Hoàng Lang đều rất linh ứng,
phò nước, giúp dân dẹp giặc ngoại xâm nên đều được bao
phong mỹ tự, sánh cùng trời đất, muôn thủa lưu truyền.
Các ngày lễ, tết sinh, hoá, khánh hạ và tên huý, tên
hiệu cùng với tên huý của cha mẹ các màu sắc tế lễ cần
phải nghiêm cấm. Ngày sinh của thần 13 tháng 12, ngày
hoá 10 tháng 2. Thánh mẫu sinh ngày15 tháng 3, hoá ngày
12 tháng 8, ba chữ: Linh, Lang, Hạo đều cấm kỵ. Các màu
sắc vàng, tía, trắng khi làm lễ không được dùng. Một số
tài liệu khác cho biết Hoàng tử Linh Lang là thái tử
Hoằng Chân có công giúp vua Lý dẹp giặc Tống. Một số
sách sử cũ của Trung Quốc có viết về thái tử Hoằng Chân
cùng Chiêu Văn trong một trận phục binh quân Tống đã hy
sinh. Như vậy có thể coi Linh Lang Vương là một người có
thật, người có công dẹp giặc cứu nước.
Thần Cao Sơn:
Sơn thần Cao Sơn Đại Vương, một nhân vật quan trọng
trong hệ thống thần điện của người Việt cổ. Thần Cao Sơn
Đại Vương được thờ rất nhiều trong khu vực đồng bằng Bắc
Bộ, nơi tụ cư của người Việt cổ, từ Hải Dương, Sơn Tây,
Hưng Yên, Hà Nội đến Bắc Ninh... Vùng đất này là địa bàn
khai sáng của Đức Lạc Long Quân từ mấy nghìn năm nay.
Nằm trong hệ thống thần thoại về thời dựng nước và giữ
nước đầu tiên, truyền thuyết về Cao Sơn Đại Vương rất
phong phú và ngày càng được lịch sử hoá. Sớm nhất có lẽ
là truyền thuyết cho rằng thần Cao Sơn là con Lạc Long
Quân và bà Âu Cơ và là một trong 50 người con theo cha
lên núi. Sau đó Cao Sơn trở thành bộ tướng thân cận của
Sơn Tinh (tức Thánh Tản Viên), và đã từng cùng Sơn Tinh
chống lại Thuỷ Tinh và thủ lĩnh của tộc người Âu khi họ
tấn công nhà nước Văn Lang. Do có công với nước nên về
sau, Cao Sơn được thờ là vị thần thứ hai trong đền Núi
Tản. Sang thời Lê khi nhà nước phong kiến coi việc ban
sắc phong cho các thần hoàng là một việc quan trọng,
thường xuyên để quản lý tư tưởng của cộng đồng làng xã,
thì các bản thần tích của làng thần cao Sơn đã được nhân
cách hoá với tên gọi và quê quán cụ thể. Đó là xu hướng
lịch sử hoá các nhân vật huyền thoại được diễn ra rất
phổ biến dưới thời Lê. Đa số các truyền thuyết cho rằng:
Cao Sơn có tên là Nguyễn Hiền và người em ruột là Nguyễn
Sùng (tức thần Quý Minh) đều là con người cháu ruột của
thần Sơn Tinh. Họ là người trang Thanh Uyên, huyện Tam
Nông, tỉnh Vĩnh Phú. Khi Thuỷ Tinh đem quân đánh Sơn
Tinh và Tộc Âu vây đánh nhà nước Văn Lang của Hùng
Vương, thần Cao Sơn đã có công lớn cùng với Sơn Tinh
chiến thắng thuỷ tặc, bảo vệ nhà Hùng.
Đầu thời Lê Trung Hưng, thần Cao Sơn Đại Vương được nhà
nước phong kiến đặc biệt đề cao. Nguyên do của sự kiện
này là bởi thần đã có công phù trợ vua Lê giành lại ngai
vàng, dẹp yên nạn chuyên quyền của ngoại thích. Sự kiện
lịch sử trên đã được quan Quang Tiến Thân Lộc Đại phu,
Thiếu bảo, Thượng thư Bộ Lễ, Đông các Đại học sĩ trông
nom việc kinh điển của nhà Lê là Lê Tung soạn vào năm
Canh Ngọ niên hiệu Hồng Thuận thứ 33 (1772) dựng tại
đình Kim Liên - một trong tứ trấn của Kinh thành Thăng
Long (đình Kim Liên nay thuộc phường Phương Liên, quận
Đống Đa, Hà Nội).
Theo tấm bia “Cao Sơn Đại vương thần từ bi minh tích tự”
thì lúc bấy giờ Lê Mẫn (tức Uy Mục Đế) thất đức, hung
bạo, càn rỡ. Kẻ ngoại thích chuyên quyền, bọn nội gián
can dự vào chính sự khiến cho hàng triệu thường dân bị
khốn khổ, tông thất và phiên thần bị giết hại, thần oán,
người giận mà không biết. Tháng 11 năm Kỷ Tỵ, đức vua Lê
Tương Dực lánh nạn vào Tây Đô, dấy nghĩa binh khôi phục
cơ nghiệp của vua Cao Tổ (Lê Lợi) cứu vớt triệu dân.
Bấy giờ có các vị thân thuộc của Trường Lạc điện (chỉ vợ
của Lê Thánh Tông) phụng mệnh đem quân đi chinh phạt,
khi đến huyện Phụng Hoá, thấy giữa cảnh núi rừng rậm rạp
có ngôi đền cổ có 4 chữ “Cao Sơn Đại Vương”. Bon Văn Lữ
bèn cầu khấn mong thần trợ giúp để hoàn thành nghiệp
lớn. Do được thần Cao Sơn ngầm giúp nên chỉ trong 10
ngày việc lớn đã thành. Sau khi lên ngôi Hoàng đế, Lê
Tương Dực đã cho xây lại đền thờ và thần Cao Sơn được
triều đình nhà Lê đặc biệt coi trọng.
Kết quả nghiên cứu khoa học gần đây cho thấy ý nghĩa
nguyên mẫu của Cao Sơn Đại Vương là tục thờ Thần Núi rất
phổ biến ở nước ta. Với sự phát triển của từng giai đoạn
lịch sử dân tộc, nhân vật huyền thoại: Thần Núi được
lịch sử hoá để phù hợp với cuộc sống hiện đại. Tuy sự
tích vị anh hùng văn hoá Cao Sơn đã được các sử gia
phong kiến cố định vào cuốn thần phả cấp cho các làng,
song ở mỗi vùng quê ở vào từng thời điểm lịch sử cụ thể
và có một cơ sở văn hoá, xã hội làm nền cho một mô típ
thần thoại ra đời có khác nhau nên sự khác biệt trong
truyền thuyết Cao Sơn ở các địa phương cũng là điều dễ
hiểu.
IV. LOẠI DI TÍCH:
1.
Loại di tích:
Dựa vào nội dung, tính chất của công trình; căn cứ vào
cách phân loại hiện nay, công trình thuộc loại hình
di tích lịch sử văn hoá.
2.
Niên đại xây dựng:
Căn cứ vào nội dung lịch sử ngôi đình, căn cứ vào những
dấu tích hiện còn và đặc biệt căn cứ vào tấm bia đá hiện
còn ở đình đã ghi chép ta có thể xác định niên đại khởi
dựng của ngôi đình là từ thời Lê (thế kỷ thứ XVII).
Nội dung được khắc trên bia đá như sau:
Phiên âm:
Quyến yếm thị đình sáng thỉ ư cố Lê hiện chủ Nguyễn Công
Trung hoà nhụ nhân Nguyễn Thị từ Thiết, quy chế khai
hoằng. Huỷ ư binh hoả, hậu nhân Hà Đình Nguyễn Cảnh Thê
mưu trùng tu chi, uỷ Trần Hợp Tài, Nguyễn Bá Lân đổng kỳ
sự. Đồng Lạc phường nhân Dương Nghĩa Hợp, hỷ trợ duyên
tiền nhất bách quan, nản thị nhân tư đầu đào chi nghĩa
hợp bảo kỳ thứ tử Lương Văn Tín tự Doãn Tái hiện Nhã
giản tòng tự dĩ chiêu hậu đạo. Viên khắc vu thạch dĩ thọ
kỳ truyền.
Tự Đức Bính Thìn quế nguyệt ký vọng.
Nguyên Khoái Châu phủ phân phủ cử nhân Phạm Đình, Viên
soạn.
Dịch nghĩa:
Đình chợ bán yếm lụa do Hiệu chủ Nguyễn Công Trung và vợ
là Nguyễn Thị Từ Khiết xây dựng từ đời Lê, quy mô rộng
rãi. Nhưng vì chiến tranh, đình bị phá huỷ. Về sau ông
Hà Đình Nguyễn Cảnh Thê đứng ra lo việc trùng tu lại
ngôi đình, trao cho ông Trần Hợp Tài và Nguyễn Bá Lân
trông nom xây dựng. Người ở phường Đồng Lạc là Dương
Nghĩa hợp vốn thích làm việc công đức đã cúng 100 quan
tiền kẽm để chi dùng vào việc chung. Bản chợ nghĩ đến
tình nghĩa “biếu đào tặng mận” đã cùng nhau hội họp bầu
con thứ của ông là Lương Văn Tín tên tự là Doãn Tái tên
hiệu là Nhã Giản được tòng tự lại đình để tỏ rõ đạo
trung hậu.
Bèn khắc vào bia đá để truyền lại mãi cho đời sau.
Sau rằm tháng 8 niên hiệu Tự Đức Bính Thìn (1856)
Nguyên phân phủ Khoái Châu cử nhân Phạm Đình Viên soạn
văn bia.
3.
Những lần trùng tu - sửa chữa đình:
Đình
được xây dựng từ đời vua Lê (thế kỷ thứ XVII) với quy mô
rộng rãi. Trong thời gian chiến tranh, đình bị phá huỷ.
Khoảng năm 1856 (niên hiệu Tự Đức Bính Thìn) ngôi đình
đã được trùng tu lại.
Năm 1941
(niên hiệu Bảo Đại 15), đình đã được xây dựng lại với
quy mô 2 tầng. Tầng một gia đình ông...sử dụng để ở,
điện thờ được đưa lên tầng 2. Ngôi nhà còn được giữ lại
tấm bia đá cách đây hơn 150 năm (hiếm có ở các đình Hà
Nội) và một số chi tiết trang trí đầu rồng của ngôi đình
còn lại ở các thanh dầm trên cửa.
Từ năm
1956 đến năm 2000 ngôi đình này được sử dụng làm cửa
hàng Bách hoá.
Năm 2000
ngôi nhà được chọn bảo tồn trong khuôn khổ dự án hợp tác
giữa thành phố Hà Nội và thành phố
Toulouse
(CH Pháp) về “”Bảo tồn- Tôn tạo phố cổ Hà Nội theo quyết
định của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội.
V. KHẢO TẢ DI TÍCH:
Đình Đồng Lạc hiện nằm trong hệ thống kiến trúc tôn giáo
tín ngưỡng trong khu Phố cổ Hà Nội vì vậy trước khi đi
vào khảo tả cụ thể di tích, chúng ta tìm hiểu hệ thống
kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng trong khu Phố cổ Hà Nội.
-
Vài nét khái quát về hệ thống kiến trúc tôn giáo tín
ngưỡng trong khu Phố cổ Hà Nội:
Kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng trong khu Phố cổ rất phong
phú; đó là các: đình, đền, chùa... theo kiểu kiến trúc
truyền thống của người Việt (hiện còn 67 công trình).
Ngoài ra còn có nhà thờ đạo Hồi (quen gọi là chùa Tây
Đen). Nhà thờ Tin lành (cạnh chợ Hàng Da)... các đạo
quán người Hoa, chùa Tầu... Các thể loại công trình kiến
trúc này đều có những đặc trưng riêng của mình.
Các di tích thuộc lọại hình này đa số có kết cấu gỗ, mặt
bằng kiến trúc theo kiểu chữ công, chữ tam, chữ quốc,...
Bộ khung nhà do các vì gỗ kết cấu thường là theo kiểu chồng
rường giá chiêng, vì kèo, vì vỏ cua. Trên một số kiến
trúc gỗ được trạm khắc và gắn các mảng trang trí đẹp.
Một số di tích đình tổ nghề thì có mặt bằng và kết cấu
xây dựng đơn giản hơn. Mặt bằng tại các di tích này thường
ảnh hưởng của hình thức nhà ống hoặc tương tự.
+ Những di tích thờ tổ nghề:
Ngoài hai di tích là đình Kim Ngân (42 Hàng
Bạc - xem hồ sơ) và đình Trương Thị (50 Hàng Bạc) có bố
cục không gian và kết cấu kiến trúc truyền thống, thì
các di tích thờ tổ nghề như đình Hoa Lộc, đình Lò Rèn,
đình Tú Thị, đình Hà Vĩ đều có bố cục mặt bằng đơn giản,
kết cấu kiến trúc mang dáng dấp như một kiến trúc dân
dụng, thậm trí được xây hai tầng, với ý thức tôn vinh tổ
nghề, đồng thời cũng tận dụng diện tích để mở mang sản
xuất hoặc trao đổi hàng hoá như đình Hoa Lộc, đình Lò
Rèn, đình Tú Thị, đình Kim Ngân, đình Hà Vĩ.
+ Chùa:
Chùa chính có mặt bằng hình chữ “công” với
bộ khung nhà bằng gỗ, có các vì được kết cầu kiểu “chồng
rường, giá chiêng”, “vì kèo”, vì ván mê (xem phần V hồ
sơ chùa Cầu Đông); Mặt bằng hình chữ “đinh” với bộ khung
nhà làm bằng vật liệu hiện đại, kết cấu giả các thức
truyền thống (xem phần V hồ sơ chùa Thái Cam.
Các kiến trúc phụ bao gồm nhà mẫu, nhà tổ (chùa
Thái Cam), hoặc thêm cả hành lang (chùa Cầu Đông). Có
chùa chỉ có kiến trúc chùa chính (chùa Vĩnh Trù). Chùa
nào cũng có tam quan.
Các trang trí trên kiến trúc không nhiều,
tập trung ở chùa Cầu Đông và nhà mẫu chùa Thái Cam. Đề
tài trang trí là các linh vật, hoa, lá, quả. Nghệ thuật
trang trí mang phong cách thời Nguyễn.
+ Đình, đền:
Phần lớn không gian trải theo chiều sâu, gồm
ba lớp nhà. Những di tích có phương đình: Đền Bạch Mã,
đình Thanh Hà, đền Hoả Thần. Bộ khung nhà đều làm bằng
gỗ, với các bộ vì được kết cấu theo kiểu “chồng rường
con nhị”, “chồng rường hai hàng chân” (đền Bạch Mã, đình
Thanh Hà), kiểu “vì kèo” (đình Đức Môn). Trong một số
kiến trúc có vòm “vỏ cua” nối các nếp nhà (đền Bạch Mã,
đình Hương Tượng, đình Đức Môn).
Trang trí trên kiến trúc rất phong phú, đặc
biệt tại nhà phương đình. Đề tài trang trí là các linh
vật, văn thực vật, văn triện và tượng nghê trên kiến
trúc phương đình. Những mảng trang trí này mang tính
thẩm mỹ cao, đều thuộc nghệ thuật thời Nguyễn.
+ Hội quán:
Hai hội quán có hai phong cách riêng biệt.
Hội quán Phúc Kiến (40 - Lãn Ông) được xây
dựng kết hợp cả hai phong cách kiến trúc - nghệ thuật
Trung Hoa - Việt Nam. Bộ khung nhà cũng được làm bằng gỗ
với các thức vì “chồng rường”, ”, “chồng rường giá
chiêng hai hàng chân”, đặc biệt là hệ “củng tam phương”
được sử dụng tại nhà phương đình, hệ thống dép dỡ hoành
vươn dài tại tam quan và nhà phương đình. Đây là một di
tích kiến trúc đẹp, độc đáo (xem hồ sơ phần V hồ sơ hội
quán Phúc Kiến).
Trái lại, hội quán Quảng Đông (22 Hàng Buồm)
được xây dựng với kiểu thức, chất liệu khác. Mặt bằng
xây dựng lớn bao gồm nhiều nếp nhà tạo thành. Sảnh chính
được làm như kiểu hội trường mang kiểu dáng phương tây.
Cung thờ chính có bộ khung gỗ, nhà được xây cao, vì
“thượng giá chiêng hạ kẻ”, các hoạ tiết trang trí trên
kiến trúc mang phong cách nghệ thuật Quảng Đông (Trung
Quốc). Hai bên kiến trúc chính là các kiến trúc phụ cũng
có quy mô đồ sộ.
+ Quán:
Được xây dựng trên mặt bằng lớn, kiến trúc kết hợp cả
nguyên liệu, kết cấu hiện đại và nguyên liệu, kết cấu
truyền thống. Kiến trúc, trang trí ở đây được tập trung
ở nghi môn, gác chuông (xem phần V hồ sơ di tích quán
Huyền Thiên).
2. Khảo tả di tích đình Đồng Lạc:
Đình
Đồng Lạc đã bị phá huỷ trong thời gian chiến tranh, bên
cạnh đó ngôi đình cũng đã được tu sửa nhiều lần vì vậy
kiến trúc của ngôi đình không còn nguyên vẹn như thời
kỳ đầu xây dựng mà chỉ được nhìn thấy qua những dấu tích
còn lại hiện nay. Xin miêu tả kiến trúc hiện nay của
đình Đồng Lạc.
Nhìn
tổng thể đình Đồng Lạc (đình chợ bán yếm lụa), số 38
Hàng Đào là một trong những ngôi đình đặc trưng trong hệ
thống kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của khu Phố cổ Hà
Nội.
Thửa đất
có dạng hình ống “đuôi chuột” vì mặt bằng dạng “thót
hậu”, mặt tiền có chiều rộng 6m và phần trong cùng thót
lại còn có 1, 1m. Diện tích khu đất là 188, 9 m2. Chiều
sâu là 51,65m.
Mặt bằng
bố cục theo nguyên tắc nhà ống truyền thống phố cổ Hà
nội:

Như vậy,
không gian kiến trúc của ngôi nhà được phân chia bởi
từng lớp nhà, giữa các lớp nhà có sân trong. Các sân
trong có ý nghĩa để cải tạo sự tiện nghi cho ngôi nhà về
thông gió là lấy sáng. Đây là một trong những ưu điểm
lớn trong việc bố cục không gian nhà truyền thống Việt
nam nói chung và của khu Phố cổ Hà Nội nói riêng trong
việc thích nghi và phù hợp với điều kiện khí hậu địa
phương.
*Cổng
ngoài của ngôi đình được xây bằng gạch cao 6, 1 mét,
rộng 6 mét. Mặt trước và mặt sau cổng đắp nổi chữ Hán
tên của ngôi đình (Đồng Lạc đình). Thân trụ hai bên đắp
gờ nổi, đỉnh trụ xây trang trí hình bông sen. Mái cổng
được gia cố và sửa chữa trên cơ sở hiện trạng.
- Lớp
nhà 1 và 3: qui mô xây dựng 2 tầng, là phần nhà được xây
dựng cải tạo mới, hình thức kiến trúc mặt đứng hài hoà
với không gian cổ về chiều cao, chi tiết trang trí kiến
trúc cũng như về mầu sắc và chất liệu của vật liệu xây
dựng. Kết cấu của 2 lớp nhà này sử dụng là kết cấu bê
tông cốt thép, sàn lát gỗ. Kết cấu mái vẫn được sử dụng
kết cấu vì kèo gỗ, mái lợp ngói ta. Cửa đi và cửa sổ gỗ
được thiết kế theo hình thức kiến trúc phỏng cổ.
Chiều
cao của 2 nhà mới xây thấp hơn so với nhà hiện có (phần
đình), vừa để tạo hình ảnh “mái ngói lô xô” cũng như thể
hiện tính tôn linh với ngôi đình hiện có.
-
Lớp nhà 2: đây là phần thờ chính của ngôi đình được cải tạo
nguyên trạng trên cơ sở ngôi đình đã được cải tạo lần
cuối cùng năm 1941. Diện tích là 27,6 m2; qui mô 2 tầng.
Tầng 1 trước khi cải tạo là nơi ở của gia đình sinh sống
tại đây. Hiện nay được sử dụng là phòng làm việc của Ban
quản lý Phố cổ Hà Nội. Tầng 2 của lớp nhà này là gian
thờ còn lại của ngôi đình.
Kết cấu của ngôi nhà này là kết cấu gạch
chịu lực, các trụ cột tầng 1 được trang trí hình thức
ảnh hưởng kiểu kiến trúc thuộc địa Pháp. Tầng 2 là
cột, dầm và sàn gỗ với hệ thống kết cấu mái là vì kèo gỗ
Trên
thân trụ tường gạch ở tầng 1 và tầng 2 đắp nổi bằng vôi
vữa câu đối chữ Hán. Đặc biệt trên dầm cột tầng 2 có
trang trí 2 đầu rồng, đây là dấu tích còn sót lại của
kiến trúc xưa của ngôi đình.
Đốc mái
đình khắc hàng chữ Hán năm trùng tu ngôi đình “Ngày mùng
10 tháng 7 năm Tân Tỵ niên hiệu Bảo Đại 15 (1941)”
Từ lớp
nhà 1 đi theo hành lang nhìn sang bên phải là tấm bia đá
khắc chữ Hán có niên đại hiệu Tự Đức Bính Thìn (1856)
ghi việc đình được xây dựng từ thời Lê (thế kỷ thứ XVII)
được gắn trên tường. Đây là dấu tích còn lại để minh
chứng cho sự tồn tại của ngôi đình trong lịch sử phát
triển của khu Phố cổ Hà Nội.
Không
gian của phần thờ chính ngôi đình trên tầng 2 được chia
làm 2 không gian nhỏ ngăn cách bởi vách ngăn gỗ 3 cửa
với hình thức trang trí cửa được tìm thấy trong ngôi
đình cũ, kiểu thượng song hạ bản. Phía trên là ô thoáng
trang trí bằng các con tiện gỗ chạy suốt chiều rộng cửa.
Gian ngoài được gọi là hiên dùng làm nơi tiếp khách,
uống trà có đặt một bộ trường kỷ. Gian trong (phía sau
lớp cửa gỗ) là gian thờ chính. Sát tường hậu của gian
thờ đặt một hương án gỗ, trên đặt đồ thờ tự gồm bát
hương, khay đài, quả nước.
Nhìn chung, do nhiều tác động của yếu
tố lịch sử, xã hội nên kiến trúc đình Đồng Lạc không
còn nhiều, song lại thuộc đặc trưng chung của hệ thống
đình thờ trong khu vực Phố cổ Hà Nội. Các di vật và nghệ
thuật trạm khắc không nhiều, nhưng đều là sản phẩm đặc
trưng của nghệ thuật thời Lê.
VI. CÁC HIỆN VẬT TRONG DI TÍCH
Trải qua một thời gian dài tồn
tại, vì những lý do riêng mà đình Đồng Lạc hiện nay còn
lưu giữ được không nhiều các hiện vật có từ ngày khởi
dựng. Vì vậy, những gì còn lại liên quan đến gốc cũ của
di tích như một số chi tiết trang trí đầu rồng ở các
thanh dầm trên cửa, ban thờ sơn son và đặc biệt là tấm
bia đá thời Lê có niên hiệu Tự Đức Bính Thìn (1856) đều
rất đáng trân trọng giữ gìn.
+ Tấm bia này hiện trạng còn tốt, nguyên vẹn được làm
bằng đá màu xám, hình thức đơn giản; trán bia và diềm
bia không trang trí. Có kích thước 44cm x 54 cm, mặt bia
được khắc 8 dòng chữ Hán.
Ngoài tấm bia đá, hiện nay ở đình còn lưu giữ được một
hệ thống hoành phi, câu đối được đắp nổi bằng vôi vữa
bao gồm:
+Hoành phi mặt trước và mặt sau cổng tam quan:
1.
Đồng Lạc quyên yếm đình.
Đình phường Đồng Lạc bán yếm lụa.

2.
Đồng Lạc đình.
Đình Đồng Lạc.

+Câu đối:
1. Nhất thánh hiển linh thử thổ thử nhân dân tứ vọng lâu
đài tân vũ trụ,
Lịch triều phong tặng tại thượng tại tả hữu ức niên
hương hoả cựu giang sơn.
Đức thánh hiển linh ở đất này với dân này, bốn phía lâu
dài đều xây dựng mới.
Các đời đều được phong tặng, ở trên cao hay tả hữu, ức
năm vẫn thờ phụng cùng núi sông.

2.
Thử địa chung anh hoa thảo đình tiền chiêm vũ lộ,
Dữ dân
gian lạc gia gia hội thượng mộc thần lưu.

Đất này chung đúc tinh anh hoa cỏ trước sân được thấm
hơn mưa móc,
Cùng dân vui vẻ nhà nhà dự hội đều tắm phúc thần ban.
3. Thuần túy dĩ tinh Hồng Lạc chí kim truyền thánh tích,
U minh hợp tán giang sơn tự cổ trọng thần công.
Thuần phác mà tinh tuý từ đời Hồng Lạc đến nay vẫn lưu
truyền sự tích thánh,
ở cõi u minh luôn phù giúp sông núi này tự cổ mang nặng
công lao
thần.
+ Đốc đình ghi năm trùng tu:

Bảo Đại Tân Tỵ thất nguyệt thập nhật.
Ngày mùng 10 tháng 7 năm Tân Tỵ niên hiệu Bảo Đại 15
(1941).
+Ban
thờ:
Mặt đứng ban thờ hình thang có chiều rộng trung bình 1,
65 mét, chiều cao là 1, 3 mét, chiều sâu là 74cm. Ban
thờ được sơn son, trang trí trạm trổ hình hoa mai, ở
giữa trạm trổ tứ quý long, ly, quy, phượng.
Hiện nay Ban quản lý Phố cổ Hà Nội đang có kế hoạch sưu
tầm thêm những tư liệu, hiện vật về nguồn gốc cũ kiến
trúc ngôi đình, về đồ thờ tự đặc biệt là những sản phẩm
gắn với tên gọi “đình phường Đông Lạc bán yếm lụa” để
giới thiệu cho khách tham quan được biết thêm về một
trong những nghề thủ công truyền thống cũng như về trang
phục cổ Thăng Long xưa.
VII. Đánh giá giá trị lịch sử- văn hóa nghệ thuật
1/ Giá trị lịch sử- văn hóa:
Khu 36 phố phường” khu đô thị cổ Hà Nội ra đời cùng với
thành cổ Hà Nội từ thế kỷ XI. Khu “thị ” này nằm về phía
Đông thành cổ trong gần 10 thế kỷ đã chứng kiến biết bao
sự kiện lịch sử của dân tộc trong sự nghiệp chống ngoại
xâm, giữ nền độc lập và phát triển cho nước nhà. Khu Phố
cổ cùng với sông Hồng là khu bảo vệ vòng ngoài cho thành
cổ trong thời chiến là khu vực buôn bán sầm uất nuôi
sống thành cổ trong thời bình, là gương mặt của đất nước
trong quan hệ đối ngoại.
Khu 36 phố phường trước 1954 theo thống kê có 115 công
trình tôn giáo tín ngưỡng, tới nay hiện còn 54 ngôi đình,
6 chùa, 22 đền, 3 miếu, tổng cộng là 85 công trình tín
ngưỡng phân bố trên khu vực gần 100 ha.
Có thể nói mật độ phân bố các công trình tôn giáo tín
ngưỡng ở khu Phố cổ là khu vực cao nhất trong Thành phố
. Nhiều công trình có niên đại khởi dựng từ thế kỷ XI
cùng thời đặt móng xây dựng thành Thăng Long như đền
Bạch Mã Trấn phía Đông Kinh thành (một trong tứ trấn của
thành Thăng Long). Các công trình tôn giáo tín ngưỡng
này là không gian tâm linh mang tính cộng đồng, nó có
mối quan hệ vô hình chặt chẽ với các không gian tâm linh
riêng của từng ngôi nhà trong khu “36 phố phường”. Các
không gian văn hoá thiêng liêng này vẫn đang tồn tại góp
phần tạo hồn cho khu Phố cổ Hà Nội.
Đình Đồng Lạc - 38 Hàng Đào là một trong những công
trình tôn giáo hạt nhân trong hệ thống các công trình
tông giáo tín ngưỡng khu Phố cổ Hà Nội. Tuy không còn
quy mô như buổi đầu khởi dựng: không còn nhiều di vật
như các di tích tôn giáo cùng loại khác, nhưng nó chứa
đựng giá trị lớn lao đối với giá trị lịch sử văn hoá
cũng như về kiến trúc đô thị của khu Phố cổ Hà Nội.
Sự tồn tại của di tích trên mặt bằng khởi dựng ban đầu
có niên đại thời Lê góp phần làm sáng tỏ lịch sử khu phố
cổ và lịch sử hình thành và phát triển các vùng phía
đông và phía tây của khu vực này.
Tài liệu văn bia hiện còn không chỉ xác định niên đại
khởi dựng, trung tu của di tích mà còn cho biết vào thời
Lê, nơi đây là “chợ bán yếum lụa” Cùng với đình Tú Thị (chợ
đình thợ thêu), đình Đồng Lạc là những di tích hiện tồn
minh chứng cho các hoạt động thương mại, hoạt động sản
xuất thủ công truyền thống của Thăng long - Hà Nội. Nơi
đây cũng sẽ là một trong những địa chỉ cho việc tìm hiểu
trang phục cổ Thăng Long - Hà Nội của nhiều nhà nghiên
cứu.
1.
Giá trị về kiến trúc nghệ thuật:
Đình Đồng Lạc là một trong không nhiều di tích được phục
hồi trong khu phố cổ Hà nội, nó được bảo tồn nguyên vẹn
cả về mặt bằng không gian cũng như các chi tiết kiến
trúc. Cùng các di tích khác trong khu vực này, đình Đồng
Lạc có bố cục nhà hình ống với cấu trúc không gian chia
thành các lớp nhà bằng các sân trong (bố cục mặt bằng
đặc trưng nhà phố cổ Hà Nội). Bên cạnh đó qui mô nhà 2
tầng và đưa hệ thống thờ tự lên tầng 2 cũng là một trong
các yếu tố cơ bản tạo nên đặc điểm chung của hệ thống di
tích trong môi trường đô thị.
Với cách thức xây dựng đơn giản với nghệ kỹ thuật
xây dựng cổ truyền với các hệ vì kèo gỗ
trang trí trạm khắc, kỹ thuật xây tường gạch chịu
lực , cũng như hệ thống dẫm sàn gỗ cùng với sự kết
hợp của công nghệ và vật liệu xây dựng ngày nay.
Có thể nói, giá trị về kỹ thuật xây dựng ở giai
đoạn lịch sử này đã được gìn giữ cùng với hình
thức kiến trúc đã được sáng tạo ra trên cốt cách của kỹ
thuật đã được sử dụng
Bên cạnh đó các mảng trang trí khắc nổi hoa văn trên ban
thờ, các chữ viết trên hoành phi câu đối, trên tấm bia
đá đã mang lại giá trị nghệ thuật đặc trưng và đánh dấu
hình thức nghệ thuật văn hoá và trang trí thời nhà Lê
thế kỷ XVII.
VIII. LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HOÁ
Ngôi đình vẫn được gìn giữ và bảo tồn là nơi thờ cúng
cũng như thường xuyên tổ chức các cuộc triển lãm về kiến
trúc,
văn hoá và các cuộc hội thảo nhỏ trong và ngoài nước.
Mở cửa cho khách trong nước và ngoài nước đến tham quan.
VIX. TÌNH TRẠNG BẢO QUẢN CỦA DI TÍCH
Hiện nay ngôi nhà 38 Hàng Đào do Ban quản lý Phố cổ Hà Nội
trực tiếp quản lý và sử dụng là trụ sở làm việc của Ban
quản lý Phố cổ Hà Nội (ngoài gian thờ chính).
Tình trạng thực tế hiện nay của công trình được bảo tồn
tốt sau lần cải tạo năm 2000 trong khuôn khổ dự án hợp
tác giữa thành phố Hà Nội và thành phố Toulouse (CH Pháp)
về
²Bảo
tồn, tôn tạo Phố cổ Hà Nội
².
X. CÁC PHƯƠNG ÁN BẢO VỆ VÀ SỬ DỤNG DI TÍCH:
Thành phố đã giao cho Ban Quản lý phố cổ quản lý ngôi
nhà này. Ban quản lý Phố cổ Hà Nội đã và sẽ triển khai
các hoạt động:
- Đưa công trình vào sử dụng như một mẫu công trình kiến
trúc lịch sử để cho khách tham quan du lịch trong và
ngoài nước cũng như để tuyên truyền cho người dân về
cách tôn tạo và bảo tồn kiến trúc trong khu Phố cổ Hà
Nội.
- Đã có một số văn bản để quản lý về mặt Nhà nước như :
+ Quyết định 70/BXD/KT-QH ngày 30/3/1995 của Bộ trưởng Bộ
xây dựng phê duyệt quy hoạch bảo vệ tôn tạo và phát triển
khu Phố cổ Hà Nội
+ Quyết định số 45/1999/QĐ-UB ngày 04/6/1999 của Uỷ ban
nhân dân Thành phố Hà Nội về việc ban hành “Điều lệ tạm
thời về quản lý xây dựng, bảo tồn và tôn tạo khu Phố cổ
Hà Nội”.
.- Phối hợp với cơ quan chuyên môn tiến hành lập hồ sơ
khoa học và hồ sơ pháp lý để bảo vệ.
|