Trang đầu
Điều kiện tự nhiên
Hà Nội nghìn năm văn hiến
Phố cổ
Du lịch quanh TP và Phụ cận
Thư viện Ảnh




 

<Về trước> • Những nét khái quát về phố cổ Hà Nội • Giới thiệu các giá trị của phố cổ Hà Nội • Tên đường phố, làng xã Hà Nội thế kỷ 19-20 qua những lần thay đổi • Hà Nội nửa đầu thế kỷ 20 • Khu phố cũ Cửa Đông • Tham quan, du lịch phố cổ • Giới thiệu giá trị kiến trúc-lịch sử Đình Đồng Lạc • Giới thiệu giá trị kiến trúc-lịch sử nhà 87 Mã Mây
   
 

THAM QUAN PHỐ CỔ HÀ NỘI

 LỘ TRÌNH SỐ 1:

KHU VỰC PHÍA ĐÔNG PHỐ CỔ

 Thời gian tham quan từ 1, 5 đến 2 giờ (Quãng đường 2,3 km)

 Khu 36 phố phường

 Khu phố cổ Hà Nội khu "36 phố phường" được giới hạn bởi đường Hàng Đậu ở phía Bắc, phía Tây là đường Phùng Hưng, phía Đông là đường Trần Nhật Duật và Trần Quang Khải, phía Nam là đường Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ, Hàng Thùng. Xưa kia nơi đây là các làng và xóm thủ công nghiệp.

Vào thế kỷ XIII những người thợ thủ công thường bị vua bắt đi lính sau ra định cư ở đây, tại cửa ngõ của Hoàng Thành để sản xuất và bán các mặt hàng truyền thống gia truyền.

Mỗi phường hội có các thành viên đến từ cùng một làng được tổ chức thành một xóm. Các xóm tách biệt nhau bởi các cổng. Trong phường tên gọi các phố là tên hàng hoá, được sản xuất và bán ở đây.

Ví dụ như: phố Hàng Đường là nơi bán đường, phố Hàng Tre là nơi làm và bán các sản phẩm bằng tre, phố Hàng Trống nơi làm và bán các loại trống.... mỗi phường xóm trước đây đều có đền và đình riêng của mình.

Địa hình khu phố cổ ban đầu được bao bọc bởi các vành đai nước xung quanh (Sông Hồng, Sông Tô Lịch, một số hồ và ao khác), kiến trúc và quy hoạch của khu phố cổ bắt đầu thay đổi khi thực dân Pháp đặt chân lên Hà Nội năm 1883.

Các cửa ô, hệ thống thành luỹ và cổng giữa các phường đã bị phá huỷ, chợ có mái che được xây dựng lên, các đường phố được lát gạch và nhiều ao hồ bị lấp đi. Nhà ở với các đặc trưng truyền thống như mái dốc, các bức tường hồi nhô ra và chiều cao rất thấp của mái đã dần dần được thay thế bằng các kiểu nhà mới kết hợp với các chi tiết của kiến trúc phương Tây. Các nhà cổ nhất mà có thể thấy trong khu vực này có từ cuối thế kỷ XIX.

Ngày nay nhiều vết tích của quá khứ vẫn còn lưu lại nhưng chúng đang bị mất dần đi. Chúng tôi mời bạn khám phá điều này qua việc đi dạo các phố.

 Nhà truyền thống trước thế kỷ XIX.

Nhà ở và bán hàng

 Những ngôi nhà trong khu phố cổ được gọi là nhà ống bởi vì mặt tiền hẹp và chiều dài của các nhà rất dài. Phần lớn những ngôi nhà này được xây vào khoảng cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Chiều rộng trung bình của mặt tiền thay đổi từ 2 tới 4 mét và chiều dài của nhà có thể từ  20 tới 60 mét, và trong một số trường hợp tới tận 150 mét. Nhà cổ là những ngôi nhà một tầng có gác lửng, có thang lên xuống, được dùng làm kho hay làm chỗ ngủ. Luật lệ phong kiến cấm dân xây nhà cao hơn vai kiệu của quan đi tuần. Các cửa sổ trên gác mái cũng bị cấm nhằm ngăn chặn âm mưu ám sát vua và còn bởi vì người dân không được phép nhìn mặt vua.

Phía trong của nhà ống là lối đi dài nối các phòng khác lại với nhau. Các sân trời xen kẽ với các nếp nhà giúp cho thông gió, lấy ánh sáng tự nhiên vào các phòng khác nhau của ngôi nhà được tốt hơn.

Nhà ống được phát triển sau kiểu nhà ở nông thôn và các quầy hàng chợ, điều đó giải thích tại sao các phòng ở và phòng phục vụ nằm ở phía sau nhà. Luật lệ phong kiến đánh thuế cửa hàng theo chiều rộng mặt tiền và việc phân chia thừa kế có thể lý giải sự chật hẹp của mặt tiền.

 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC NHÀ CỔ

 Nhà truyền thống có mái dốc nằm song song với phố và các bức tường chắn hồi được xây bằng gạch theo dáng giật cấp kéo từ mái lên. Kiều nhà này có một hay hai tầng và mặt tiền của nhà làm bằng các tấm gỗ ghép lại được tháo ra và sử dụng làm cửa hàng ban ngày. Các vật liệu địa phương được sử dụng là ngói mái, gạch và gỗ.

         Nhà ở phố cổ chịu ảnh hưởng của kiến trúc phương Tây (Đầu thế kỷ XX)

Từ đầu thế kỷ XX kiến trúc trong khu vực này có xu hướng thay đổi, tiếp nhận các đặc trưng phương Tây như ban công, mái đua, mở cửa sổ hình chữ nhật có cuốn vòm.... Các mái dốc biến mất phía sau, các tường chắn mái.

Trong các ngôi nhà hai tầng này tầng dưới được dùng làm cửa hàng và tầng hai là để ở, lên tầng hai bằng cầu thang gạch hoặc gỗ. Các mái dốc được lợp bằng ngói máy và mái bằng được đổ bằng bê tông.

Sau năm 1930 các mặt tiền mới có các thức cột kiểu Đôrich, lonich hay Coranh. Các sàn được đổ bê tông và tường xây bằng gạch.

 Đình, Đền, Chùa

 Một trong những đặc trưng nổi bật của khu "36 phố phường" là sự kết hợp hài hoà giữa nhà ở, cửa hàng và các công trình tôn giáo tín ngưỡng đình, đền và chùa.

Đình xuất hiện vào khoảng thế kỷ XV là một trong những đặc trưng của mỗi làng xóm ở Việt Nam. Đình là nơi tôn nghiêm thờ vị Thần Hoàng làng sáng lập ra phường hoặc làng hay các vị anh hùng khác.

Đình cũng là nơi hội họp dân làng khi có các hoạt động và công việc của làng. Trong khu vực "36 phố phường" các ngôi đình cho ta hiểu  hơn về quá trình mở rộng khung cảnh đô thị được phát triển dần dần qua sự hợp thành của các phường hội, làng xóm.

Đền là nơi thờ các vị anh hùng dân tộc hay các vị thần khác, còn chùa là nơi để thờ Phật.

 * Bắt dầu chuyến du bộ

 Hồ Hoàn Kiếm

         Hồ này trước là một phần của sông Hồng, nằm ở Trung tâm Hà Nội. Theo truyền thuyết Hồ Hoàn Kiếm là nơi thần Rùa lấy lại Gươm thần từ tay vua Lê Thái Tổ (1428-1433) sau khi ông đánh tan quân Minh.

Trên Hồ Hoàn Kiếm có 2 đảo nhỏ: đảo Rùa ở phía Nam nơi có Tháp Rùa và đảo Ngọc Sơn ở phía Bắc trên đó xây đền  1  Ngọc Sơn thờ 3 vị thần tiêu biểu cho tinh thần quân sự, y học và văn học. Ngôi đền này được xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, trên nền điện Khánh Thuỵ mà Chúa Trịnh xây vào thế kỷ XVIII. Thời đó hồ Hoàn Kiếm là nơi diễn tập thuỷ quân.

Nằm ở phía bên kia của phố là đền Bà Kiệu: Đền này được xây dựng vào thế kỷ XVII thờ 3 bà chúa Liễu Hạnh, Quỳnh Hoa và Quế Nương. Đền Ngọc Sơn và đền Bà Kiệu đã được xếp hạng di tích lịch sử.

 Phố Hàng Đào

         Trước kia phố Hàng Đào là nơi những người thợ nhuộm và bán lụa sinh sống ở đây. Màu nhuộm phổ biến nhất là màu hồng – màu của hoa đào.

Chúng ta có thể thấy trên phố này những nhà truyền thống (số 92, 70, 38, 1820) và những ngôi nhà xây đầu thế kỷ XX mà hình thức kiến trúc chịu nhiều ảnh hưởng của phương Tây. (số 85, 71, 58, 1110)

 Phố Hàng Bạc

         Phố Hàng Bạc là phố cổ nhất của Hà Nội, được hình thành vào thế kỷ XIII. Vào khoảng năm 1460 và 1497 những người thợ bạc đã cư trú tại đây. Mặc dù nghề này suy yếu sau khi kinh đô chuyển vào Huế thế kỷ XIX, nhưng ngày nay chúng ta vẫn có thể thấy nhiều cửa hàng bán đồ trang sức bằng bạc dọc phố này.

Không gian đường phố giữ được dáng dấp cổ xưa bởi có các ngôi nhà truyền thống. (nhà số 47, 50, 3731), nhà số 42 trước kia là đình.

         Trụ sở của các chiến sỹ cảm tử quân Hà Nội

 Nhà hát Chuông Vàng tại Nố nhà 72 đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử cấch mạng. Ngôi nhà này xây năm 1920, được dùng làm trụ sở của các chiến sỹ cảm tử quân Hà Nội khi họ bảo vệ thủ đô Hà Nội chống lại thực dân Pháp trong 50 ngày đêm năm 1946.

 Phố Mã Mây

 Phố này có một số nhà truyền thống (trong đó là số 103, 107, 96, 88, 87, 81, 77, 69, 67, 70 và  68)

Đình Hương Tượng nhà số 64 đó là nơi thờ Trần Trung Ngạn. Chúng ta cũng có thể thấy trên phố này một số ví dụ về nhà mang phong cách phương Tây (số 63, 61, 46, 8, 7, 2 11). Phía Bắc của phố này cũng có những ngôi nhà truyền thống đó là nhà số 60, 42, 4029.

         Phố Hàng Buồm

         Nghề truyền thống của phố này là làm buồm cho các thuyền bè. Trước kia sông Tô Lịch chảy song song với phố Hàng Buồm là nơi tập trung các hoạt động hàng hải lớn. Nhiều cửa hàng và quán ăn Trung Quốc được mở trên phố Hàng Buồm và Tạ Hiện để đáp ứng nhu cầu của những người sống quanh bến cảng, lái buôn và thương gia Trung Quốc đến cư trú tại đây vào thế kỷ XVII, thời Việt Nam mở ra các quan hệ buôn bán với nước ngoài.

Chúng ta thấy trên phố Hàng Buồm nhiều kiểu nhà truyền thống (số 10, 14, 22, 42, 50 65) và nhà mang phong cách phương Tây (số 19, 32, 5457). Chúng ta thấy số 22 là toà nhà trước đây được dùng làm Toà trụ sở của người Trung Quốc gốc Quảng Đông. Còn đối với các công trình tôn giáo tín ngưỡng, chúng ta vẫn có thể tìm thấy dấu vết của ngôi đình trước kia tại số nhà 28 và đền Bạch Mã tại số nhà 76.

 Đền Bạch Mã (Ngựa trắng)

         Đền Bạch Mã (số 76 Hàng Buồm) có thời dùng làm đình là một công trình tôn giáo tín ngưỡng cố nhất trong khu "36 phố Phường". Đền được xây dựng từ nhà hậu Lý thế kỷ II để thờ thần Long Đỗ tượng trưng cho khí thiêng sông núi ở Kinh thành Thăng Long, được Lý Thái Tổ phong làm thành hoàng kinh thành Thăng Long. Bạch Mã là tên vị thần ngựa trắng đã hiện lên giúp Vua Lý Thái Tổ theo dấu chân ngựa để xây thành Thăng Long. Ngôi đền này đã được trùng tu vài lần và đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử năm 1987.

Phố Nguyễn Siêu

 Phố này mang tên của một học giả nổi tiếng sống ở thế kỷ XVIII -XIX. Sông Tô Lịch đã từng chảy qua địa phận của phố này. Những cư dân đầu tiên của Hà Nội đã sinh sống ở dọc theo hai bờ sông này. Sông Tô Lịch bị lấp vào cuối thế kỷ XIX.

Phố Nguyễn Siêu có những ngôi nhà mang phong cách phương Tây rất đẹp (số 48, 4018, 8) và nhà truyền thống rất đặc trưng (số 56 26).

       
Ở giữa phố này lùi vào một chút so với đường phố chúng ta có thể thấy đình - đền Cổ Lương, mang tên của một thôn mà nó là một bộ phận trong đó.

 7. Chợ Gạo

 Phố Chợ Gạo xưa kia (nơi gặp nhau của sông Tô Lịch và sông Hồng) là chợ đầu tiên của Hà Nội. Chúng ta thấy tại cuối phố Chợ Gạo, dọc phố Trần Nhật Duật là con đê bảo vệ Hà Nội hơn 1000 năm tuổi.

         Phố Đào Duy Từ

Trên phố này có đình Hương Nghĩa (số 13b) những ngôi nhà mang phong cách phương Tây đáng lưu ý là nhà số 2 và số 14.

 Ô Quan Chưởng

Hà Nội đã từng được bảo vệ bằng các bức tường thành trên đó có tới 16 cổng. Ngày nay chỉ còn một cổng gọi là Ô Quan Chưởng, được xây năm 1749 và dựng lại năm 1817. Pháp đã phá những cửa ô còn lại vào cuối thế kỷ XIX.

         Phố Hàng Chiếu

         Trên phố này chúng ta tìm thấy những ví dụ về nhà số 19, 33, 74, 76, 86, 90 mang phong cách phương Tây, và các ví dụ về nhà truyền thống số 29, 32, 26, 24, 50, 95, 97 101.

 Phố Hàng Đường (đoạn thứ nhất – Giới hạn từ ngã tư phố Hàng Chiếu đến ngã tư Ngõ Gạch)

Phố Hàng Đường hình thành vào thế kỷ XVIII. Đoạn phố này có một số nhà truyền thống. Như nhà số 9, 11, 13 15. Nhà số 226 là nhà mang phong cách phương Tây.

 Phố Ngõ Gạch

 Phố Ngõ Gạch được hình thành năm 1897 sau khi đã lấp đi đoạn sông Tô Lịch từng chảy qua địa phận của phố này.  10  Tại số 10 là đình Thanh Hà, được xây vào thế kỷ XIII. Đình này đã được thành phố Hà Nội xếp hạng di tích lịch sử năm 1987.

 Phố Hàng Đường (đoạn thứ hai - từ ngã tư Ngõ Gạch đến ngã tư Hàng Buồm)

 Trên đoạn thứ hai của phố Hàng Đường còn nhiều nhà truyền thống (số 25, 29, 28, 39, 44, 48, 59, 70, 65, 76, 78) có đình Đức Môn, chùa Cầu Đông số 38b.  11  Ngôi đình – chùa này được thành phố Hà Nội xếp hạng di tích lịch sử năm 1990-1991.

 Phố Hàng Ngang

        Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ nó được gọi là "rue des Cantonnais". Trên phố này có các nhà truyền thống (số 22, 32, 34, và 58) và các nhà mang phong cách phương Tây (19, 28, 30, 50 và 56).  12  Nơi đây còn có một di tích lịch sử cách mạng được Nhà nước xếp hạng tại số 48. Bác Hồ đã từng làm việc tại ngôi nhà này vào năm 1945.

THAM QUAN PHỐ CỔ HÀ NỘI

 LỘ TRÌNH SỐ 2:

KHU VỰC PHÍA TÂY PHỐ CỔ

Thời gian tham quan từ 1 đến 1, 5 giờ (Quãng đường 2,7 km

 Đặc điểm của khu vực

Khu vực nằm ở phía Tây trục đường Hàng Đào – Hàng Đường này chủ yếu phát triển sau khi xây thành nhà Nguyễn vào năm 1805. Kinh thành này được xây trên nền móng của thành trước nhưng có nhỏ hơn để dành ra các khu đất mới cho nhân dân sử dụng. Đầu thế kỷ XIX trên khu đất sát với kinh thành đã mọc lên những làng mới, các phường thợ, và dần dần các phố phường xuất hiện. Một chợ được mở gần cổng thành phía Đông (cửa Đông)

Trong mỗi phường đều có các đình chùa. Thành luỹ nhà Nguyễn đã bị thực dân Pháp phá huỷ trong những năm 1894 tới năm 1897 để lấy đất mở phố và mở đường tàu hoả năm 1898.

 Lịch sử khu vực

 Khu vực phía Tây của khu 36 phố phường giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển phong trào yêu nước Việt Nam. Đầu tiên là việc hình thành phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục được các học giả yêu nước và cấp tiến sáng lập vào tháng 2 năm 1907. Trụ sở của phong trào này ở tại số 10 phố Hàng Đào. Mục tiêu của phong trào này là tạo ra cơ hội được học tập rộng rãi cho mọi người, thúc đẩy văn hoá Việt Nam, truyền bá các tư tương dân chủ của Rousseau và Voltaire và đào tạo những người có khả năng giúp đất nước. Lương Văn Can là người lãnh đạo của phong trào này. Sau vài tháng hoạt động phong trào đã thu được sự mến mộ của quần chúng ở Hà Nội và nông thôn, sau đó đã bị chính quyền Pháp đóng cửa vì chống chủ nghĩa thực dân.

Từ năm 1919 tới năm 1929 các cuộc đấu tranh của công nhân tiếp tục phát triển, chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên được thành lập ở Hà Nội tháng 3 năm 1929. Trong thập kỷ tiếp theo nhiều ngôi nhà trong khu vực này trở thành chỗ ở, chỗ làm việc hay nơi hội họp bí mật cho các thành viên của các tổ chức khác nhau nổi lên từ phong trào yêu nước. Trong số các tổ chức này có Công hội đỏ, (các chi bộ khác nhau của Đảng cộng sản Hà Nội) mà sau này trở thành Đảng cộng sản Việt Nam, có toà soạn báo và bản tin yêu nước.

Phong trào này đã dẫn tới sự thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời song chỉ được một thời gian ngắn – Từ tháng 12 năm 1946 quân Pháp cố gắng giành lại quyền kiểm soát Bắc kỳ. Một trong những thời điểm gay cấn nhất mà khu vực này đã trải qua là trận kháng cự lại quân dân Pháp từ tháng 12 năm 1946 tới tháng 2 năm 1947. Trong thời gian này khu 36 phố phường mà sau này được biết tới như "vùng Interzone" nằm dưới quyền kiểm soát của Việt Minh.

Nhiều trận đánh trên phố đã diễn ra ở đây. Một mê cung nhà cho phép Việt Minh di chuyển từ nhà này sang nhà khác mà không bị quân Pháp phát hiện ra. Các trận đánh ở đây kết thúc vào tháng 2 năm 1947 sau khi những chiến sĩ cảm tử quân cuối cùng ngã xuống.

 * Bắt đầu chuyến du bộ

         Quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục (phong trào Đông Kinh Nghĩa Thụcp)

 

Bất đầu từ phố Đinh Tiên Hoàng nơi có quảng trường trước kia được mang tên phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục. Vào thế kỷ XIX, khu vực mà trước kia là vườn dừa này được nhà cầm quyền dùng làm bãi hành quyết. Sau đó quảng trường này được dùng làm trạm xe điện cho tới khi nó bị dẹp bỏ năm 1992.

 Ngõ Tô Tịch

 Tên Tô Tịch nghĩa là "chiếu trắng hay không có hoa văn". Ngõ này trước kia là nơi sinh sống của thợ tiện gỗ.

Phố Hàng Quạt

 Phố Hàng Quạt trước kia được tách riêng thành 2 phố khác nhau: Phần phía Tây đặc trưng bởi sản xuất đồ đạc và các dụng cụ âm nhạc có dây và phần phía Đông là nơi sản xuất và tiêu thụ quạt. Ngày nay phố này là nơi bán các loại đồ vật dùng cho lễ hội.

Các công trình tôn giáo nằm trên phố này nay chỉ còn đền Dâu tại số nhà 64  1  là vẫn còn hoạt động.

Đền nay thờ bà chúa Liễu Hạnh và được xây vào giữa thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII.

Nhà số 8,10, 22, 28, 30 và 38 là những nhà ở truyền thống trên phố này.

         Phố Hàng Nón

 Phố Hàng Nón trước đây được chia thành hai dẫy: dẫy phía Đông là nơi sản xuất và bán quần áo, còn các loại mũ nón khác nhau được sản xuất và bán ở dẫy phía Tây.

Trước kia ngôi đình của làng Yên Nội, đình Hàng Thiếc (nhà số 2) là nơi thờ thần sáng lập của những người thợ thiếc – Phạm Ngọc Thạch;  Ông là người giới thiệu kỹ thuật này ở Việt Nam năm 1518 Ngày nay chỉ có ban thờ là thứ cổ duy nhất còn lại của ngôi đền.

Tại góc phố Hàng Nón và Hàng Mành có một cửa hàng làm và bán các dụng cụ âm nhạc truyền thống. Bên cạnh cửa hàng truyền thống này, có hiệu cắt tóc (số 1 Hàng Mành) đã từng là nơi liên lạc cho Đảng Cộng sản ở Hà Nội (1938).

Ngôi nhà số 15 Hàng Nón cũng là một địa điểm lịch sử quan trọng. Nơi diễn ra: Đại hội dân tộc đâu tiên của Công hội đỏ ngày 28/7/1929. Đại hội này được tổ chức tại đây – nhà một cán bộ của liên minh mà bên ngoài là cửa hàng bán thuốc lá. Những đại biểu của công nhân được cải trang thành các thương gia để tham dự đại hội. Ngôi nhà này sau đó đã trở thành nơi liên lạc của liên đoàn. Một trong những thành tựu đầu tiên của liên đoàn là sáng lập Báo Lao Động vào tháng 8 năm đó. Ngày nay ngôi nhà này không còn hình dạng như xưa, chỉ có tấm biển ở trên tường nơi đây ghi nhận về sự kiện lịch sử đáng được ghi nhớ này.

Phố Hàng Thiếc

Trước kia các đồ vật bằng kim loại như chóp nón nhỏ, đèn dầu, giá đỡ nến, bình trà và thùng kim loại được sản xuất ở phố này. Thiếc còn được sử dụng làm gương. Ngày nay ở đây sản xuất các sản phẩm bằng tôn, sắt.

Ngôi nhà số 42 ở phố này là trụ sở chính của Nguyễn Ngọc Dự, một trong những người sáng lập chi bộ đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam. Ông ở đó tới tận tháng 4 năm 1930. Ngôi nhà xưa giờ không còn nữa nhưng ở đây có một tấm biển ghi lại sự kiện này.

Trên phố này có các nhà ở truyền thống và nhà mang phong cách phương Tây, nhà số 65, 49 và 20.

Phố Hàng Thiếc là nơi diễn ra trận đánh ác liệt trong thời kỳ khấng chiến chống Pháp tháng 2 năm 1947. Tấm biển tượng niệm trận đánh này được trân trọng treo trên một bức tường ở ngôi nhà số 5.

 Phố Hàng Bồ

 Trước kia phố này chạy qua 2 làng: Nhân Nội và Xuân Yên. Trước khi Pháp đặt chân lên Hà Nội, ở phía Đông phố này bán giầy dép trong khi hoạt động chính ở phần giữa phố là làm giỏ tre.

Người Phúc Kiến (Trung Quốc) định cư ở đây vào khoảng năm 1900, họ xuất nhập khẩu các mặt hàng của Trung Quốc, Việt Nam và của nhiều nước khác. Cũng có một số cửa hàng của người Nhật. Vào thời đó chỉ có một số gia đình người Việt sinh sống trên phố này.

Đình Nhân Nội tại số nhà 84b  2  thờ công chúa Lan Ngọc được xây vào khoảng giữa thế kỷ XIX.

Một loạt nhà mang phong cách phương Tây như số nhà 59, 57, và 55. Nhà số 7466 cũng đáng vào thăm quan. Có thể thấy một số nhà cổ truyền thống như số nhà 88, 76, 58 và 33.

 Phố Hàng Cân

 Có nhiều loại cân khác nhau được bày bán trên phố này vào cuối thế kỷ XIX. Chúng được các thợ kim hoàn, người bán dạo trên phố và người bán thuốc sử dụng.

Phố hàng Cân trước kia được chia thành hai làng. Ngày nay chúng ta vẫn có thể thấy ở đầu phố có đền thờ Xuân Yên thờ công chúa Lan Ngọc ở tại số nhà 44 cũng như dấu tích của đình Đồng Môn xây vào cuối thế kỷ XIX tại nhà số 8, trong đền Xuân Yên chỉ còn giữ lại một vài chi tiết trang trí mái. Những nhà ở truyền thống thấy ở phố này như nhà số 46, 42, 36, 3432. Trong đó nhà số 32 và 46 trước kia bán nhiều loại cân.

 Phố Lãn Ông

         Lãn Ông là bút danh của lương y Lê Hữu Trác sinh năm 1724, đó là một lương y nổi tiếng của Việt Nam.

        Từ trước đến nay ở phố này vẫn có nhiều cửa hàng bán thuốc đông y nhất.

T        rước đây hầu hết cửa hàng này do các thương gia người Việt gốc Hoa đứng ra làm chủ. Họ bán thuốc Bắc (Trung Quốc). Các tấm biển chữ Hán ở trên tường của nhiều nhà đã nói lên điều đó.

        Trong thời kỳ Pháp thuộc phố Lãn Ông có tên Phúc Kiến chứng tỏ người Hoa từ Phúc Kiến (Trung Quốc) đều định cư ở phố này từ lâu (nửa sau thế kỷ XVII), ở phố này có một ngôi chùa do họ xây dựng mang phong cách Trung Hoa ở số nhà 42 phố Lãn Ông. Công trình này giờ là trường tiểu học

Nhà cổ mang phong cách sống của người Hoa là các số nhà 10, 36, 55 57.

         Phố Thuốc Bắc

         Phố Thuốc Bắc ngày xưa là phố bán thuốc bắc như phố Lãn Ông ngày nay, phố này vẫn còn bán các lọai dược thảo, rễ và hạt mà sử dụng để làm thuốc. Đoạn giữa phố Hàng Bút và Hàng Phèn bán quần áo.

Trên phố này có một loạt nhà giữa số nhà 65 và 77, mang phong cách phương Tây rất đẹp và một ngôi nhà phong cách truyền thống ở số nhà 71.

         Phố Hàng Bút

         Trước đây phố này là nơi ở của những người nghèo với các cửa hàng bán các túi nhỏ, quần áo và mũ trẻ em được làm từ những mẩu vải thừa vì vậy phố này trước có tên là phố "Hàng Mụn" có nghĩa là "rẻ rách". Sau cấch mạng tên của phố này được đổi thành "Hàng Bút" nghe trang nhã hơn.

        Hai công trình tôn giáo có cổng hậu mở ra phố này. Tại số 5 là cổng sau của đền Đông Thành, đã có từ thời Nguyễn nhưng đã bị phá huỷ vào thời kỳ toàn quốc kháng chiến năm 1946. Tại số 6 là cổng sau của đình làng Đông Thành, cũng có từ thế kỷ XIX, lối trước của đình ở số 7 Hàng Vải, đình này thờ Trấn Vũ, một trong những vị thần trấn giữ kinh thành Thăng Long.

         Phố Bát Sứ

         Trước kia ở phố này bán các lọai chén, bát, đĩa bằng sứ được làm ở tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc). Sau năm 1920 các thương gia bắt đầu buôn bán sắt.

Đầu thế kỷ XX phố này đa số các nhà đều chỉ có 1 tầng, sau năm 1920 bắt đầu xuất hiện các ngôi nhà 2 tầng.

         Phố Hàng Vải

         Phố Hàng Vải trước là địa danh của làng Tân Khai phố được mở mang từ năm 1822 trên đất thu hồi sau khi xây thành nhà Nguyễn. Các cửa hàng trên phố này trước đây bán vải và quần áo gụ. Ngày nay nhiều cửa hàng bán hàng đan tre.

góc phố Hàng Vải với Hàng Gà tại số nhà 44 là  3  đình Tân Khai xây năm 1832, ở đây thờ Bạch Mã, Tô Lịch và Thiết Lâm. Trên khu vực này còn có chùa Thái Cam (số 16 Hàng Gà) xây năm 1822, ở trong sân chùa này trước có một giếng nước sạch được mọi người trong phố đến xin mang về đun sôi chuyên dùng để pha chè Tàu.

        Phố Phùng Hưng

         Phố này mang tên Phùng Hưng để tỏ lòng tôn kính nhớ tới vị thủ lĩnh sinh năm 770, người đã tổ chức nổi dậy chống lại ách thống trị của nhà Đường nhằm giải phóng đất nước khỏi ách thống trị Trung Hoa thời đó. Phố này được xây trên vị trí xưa kia là hào của thành nhà Nguyễn.

        Ngôi nhà tại số 105 là trụ sở của Báo Tin Tức, một ấn phấm của Đảng cộng sản những năm 1936-1939.

         Phố Cửa Đông

         Phố này xưa là phía Đông của thành nhà Nguyễn có cổng chính gọi là Đông Môn. Tên phố gợi cho ta về quy mô của thành nhà Nguyễn ở thế kỷ XIX, và nói lên đó là phố mới mở từ sau khi phá thành.

         Phố Hàng Phèn

         Các cửa hàng trên phố này xưa bán phèn Sunfat nhôm và giấy gói quà. Tại góc phố Bát Sứ nhà số 52 là một ví dụ điển hình về nhà ở truyền thống với các đặc trưng dễ phân biệt như chỉ giới nhà trên phố mái dốc, các nguyên vật liệu, các bức tường hồi.....

        Phố Bát Đàn

        Các cửa hàng trên phố này từng bán bát, đĩa và hình bằng sứ làm ở làng gốm Bát Tràng ngoại thành gần Hà Nội.

        Phố có Đình làng Nhân Nội  5  xây cuối thế kỷ XIX (số nhà 33) thờ Bạch Mã, một trong những thần trấn giữ Hà Nội.

        Phố Hàng Điếu

          Ống điếu dùng để hút thuốc lào đã từng được bán ở phố này, nhưng đến đầu thế kỷ XX chỉ còn có 2 cửa hàng ở số nhà 54 và 62 là vẫn làm và bán điếu tre và thuốc lào. Gần đây ở phía Nam của phố có vài cửa hàng thuộc da dùng để làm giầy và dép. Thợ thuộc da có cả người Hoa và người Việt.

Tại số nhà 30, phía sau của ngõ có đền Hoa Thân xây năm 1838, đền thờ thần trị hoả (lửa). Trên phố có một số nhà cổ (số 6, 8, 110 và 24) và một số nhà có mặt tiền theo phong cách châu Âu như nhà số 7, 9, 36.

        Ngõ Yên Thái

         Trước kia nghề truyền thống của người dân sống trên ngõ phố này là nghề thêu. Đình thờ ông tổ của nghề thêu nằm tại số nhà 2A.

         Ngõ Tạm Thương

         Đầu thời Nguyễn ở ngõ này có một kho gạo. Gạo thu thuế được giữ ở đây trước khi nhập vào kho của triều đình trong thành.

        Tại nhà số 8 là đình Yên Thái (thờ Hoàng Hậu? Lan, vợ vua Lý Thánh Tông và mẹ vua Lý Nhân Tông. Hoàng Hậu sống ở cung Đông Thiên nằm ở khu đất chủa Kim Cô tại số 73 phố Đường Thành. Bà mất năm 1177, thọ hơn 70 tuổi. Bà được thờ ở chùa Kim Cô cho tới khi việc thờ cúng bị cấm đoán vào khoảng thế kỷ XIV hoặc XV. Chùa bị quân Mông phá huỷ dưới triều Trần (1225-1400), nhưng lại được xây dựng lại dưới triều Lý (1407-1527)

        Phố Hàng Bông

            Phố Hàng Bông ngày nay tập hợp nhiều đoạn phố cũ có tên gọi khác nhau.

            Đoạn phố giữa Hàng Da và Hàng Mành có nhiều cửa hàng xưa bán chăn bông, màn và gối. Một số cửa hàng chuyên chạm trổ câu đối sơn son thiếp vàng.

            Đoạn phố giữa phố Hàng Mành và Hàng Hòm có các cửa hàng bán hài mũi thuyền của người Việt, nón và các đồ bằng giấy.

Trên phố Hàng Bông hiện còn một số nhà phong cách phương Tây như số nhà 42, 30 và 27.

     Phố Hàng Gai

         Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX các sản phẩm bằng sợi thừng hay sợi đay được bán ở phố Hàng Gai. Từ thế kỷ XIX nghề in trên gỗ đã trở thành một trong những nghề chính trên phố này. Vì vậy ở đây có các cửa hàng in và cửa hàng sách. Ngày nay hầu hết các cửa hàng chuyển sang bán quần áo lụa và đồ mỹ nghệ.

        Ở phố này trước kia có đình Cổ Vũ ở tại số nhà 85, nay nơi đây đã trở thành nhà ở, cây đa trước cửa đình xưa nay vẫn được dân phố sùng bái thắp hương cúng lễ.

        Phố Hàng Gai là giới hạn phía Nam của khu 36 phố phường. Trong các ngày tháng toàn quốc kháng chiến (1946-1947) phố là ranh giới chiến tuyến, dãy phố lẻ nằm dưới sự kiểm soát của quân Pháp, dẫy phố chẵn dưới sự kiểm soát của quân đội nhân dân (Việt Minh).