Trang đầu
Điều kiện tự nhiên
Hà Nội nghìn năm văn hiến
Phố cổ
Du lịch quanh TP và Phụ cận
Thư viện Ảnh




 

<Về trước> • Những nét khái quát về phố cổ Hà Nội • Giới thiệu các giá trị của phố cổ Hà Nội • Tên đường phố, làng xã Hà Nội thế kỷ 19-20 qua những lần thay đổi • Hà Nội nửa đầu thế kỷ 20 • Khu phố cũ Cửa Đông • Tham quan, du lịch phố cổ • Giới thiệu giá trị kiến trúc-lịch sử Đình Đồng Lạc • Giới thiệu giá trị kiến trúc-lịch sử nhà 87 Mã Mây
   
 

                                            

 KHU PHỐ CŨ CỬA ĐÔNG

 Ta thường gọi "Hà Nội 36 phố phường" là khu phố cổ vốn sẵn có từ lâu đời, tức là khi có thành Thăng Long; nó là khu vực trải rộng ở ngoài phía đông thành trì ra đến bờ sông Hồng. nguồn gốc của danh từ "36 phố phường" có từ thời Lê Sơ (đầu thế kỷ 15). Sau khi thu phục được thành Đông Quan, giải phóng hoàn toàn đất nước, vua Lê Thái Tổ cho sửa sang lại kinh thành Thăng Long (còn có tên là Đông Đô rồi Đông Kinh), đặt ra phủ Trung Đô (sau đổi là phủ Phụng Thiên), gồm hai huyện Quảng Đức, sau gọi là Vĩnh Thuận, và huyện Vĩnh Xuyên, sau gọi là Thọ Xương. Mỗi huyện chia ra làm mười tám phường, tổng số phường của toàn thành Thăng Long là ba mươi sáu. Như vậy phường là một đơn vị hành chính cơ sở, và khu phía đông kinh thành chỉ có mười tám phường thôi. Do phường ở phía đông kinh thành tập trung những phố xá dân cư đông đúc, hoạt động kinh tế sầm uất vì nó kề bên bến sông Hồng, thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán và phát triển các nghề thủ công sản xuất ra các thứ vật dụng cần thiết hàng ngày cho đời sống của dân thành thị. Những người làm cùng một nghề lại thường tập trung ở cùng một đường phố nên phường có thêm ý nghĩa là phường hoọi của người cùng một nghề nghiệp.

 Chắc chắn là số lượng về tên gọi của những phường thôn của Thăng Long trong quá trình ba bốn trăm năm đã trải qua nhiều lần thay đổi, song người ta đã quen với con số "36 phố phường" và nó đã đi vào ca dao tục ngữ của Hà Nội rồi.

 Địa bàn khu phố cổ Cửa Đông được trình bày trong phần viết này gần tương đương với đất bốn tổng Túc của huyện Thọ Xương là Tiền Túc, Hậu Túc (tức phần đất giáp với tường thành và hào phía đông thành trì) và Tả Túc, Hữu Túc (tức phần đất Cửa Đông giáp với bờ sông Hồng). Bốn tổng đó đến giữa thế kỷ 19 được đổi tên là Thuận Mỹ - Đồng Xuân - Phúc Lâm và Đông Thọ. Nói chung khu phố cổ Cửa Đông nói trên có diện tích gần như phạm vi của quận Hoàn Kiếm hiện tại.

 Khu Cửa Đông về mặt địa lý tự nhiên có lẽ từ ngày có phố phường đã trải qua nhiều thay đổi, từ chỗ có những thôn xóm rải rác bên những đầm hồ với những dãy phố sơ sài như ta thấy ở khu ngoại thành ngày nay, rồi đến chỗ những phố xá hình thành và dày đặc nhà cửa dọc các con đường giao thông chính, tức là những đường phố ngày nay đã có từ lâu đời và đan chéo dọc ngang theo các lối đi cũ mà không hề thay đổi; do vậy mà thấy ở nhiều phố còn giữ đường vạch không thẳng tuy sau này nhiều nơi đã được nắn lại (như chỗ cong đầu Hàng Bạc, giữa Hàng Gai, giữa Mã Mây, Hà Trung v.v...) Và những đường phố mở thêm về sau không cần nhiều nữa, hoạ chăng chỉ có những ngõ nhỏ mở rộng thành đường phố xứng đáng với cái tên là một phố. Hầu hết những phố trong khu Cửa Đông đều mang tên cũ có sẵn từ lâu đời là như vậy. Khu Cửa Đông có một con sông nhỏ chảy ngang qua, đó là sông Tô Lịch, đã bị lấp vào khoảng năm 1896; sông không dài, từ cửa sông nối với sông Hồng vào đến con hào của thành trì. Sông Tô Lịch đoạn đó cũng đủ rộng để thuyền buôn chở hàng hoá từ bến sông vào đến khu dân cư ở gần tường thành. Con sông đó đã từng có một vai trò kinh tế quan trọng trong lịch sử, nhưng từ ngày Pháp chiếm Hà Nội thì nó không còn nữa, ngoài dấu vết cái tên còn sót lại, với những huyền thoại trong kho tàng văn hoá.

 So sánh những tấm bản đồ cũ nhất mà ta được biết đến bây giờ, như tập Bản đồ Hồng Đức (thế kỷ 15). Bản đồ Minh mạng 1831, với những bản đồ do người Pháp hoạ đúng kích thước của những năm đầu Pháp thuộc, ta dễ dàng xác định được vị trí của tường thành đã bị phá, vị trí của những cửa ô nay không còn, vị trí những thôn phường mà nay đã biến thành phố xá, vị trí những con đê cũ vết tích là đường phố có độ cao hơn chỗ khác, tức là những nét chính của địa lý tự nhiên khu Cửa Đông qua quá trình thay đổi trong lịch sử. Hơn thế nữa, qua nghiên cứu bản đồ so sánh với thực địa, ta cũng xác định được từng thời kỳ dòng sông Hồng đã lui dần xa về phía đông, để lại những bãi cát nổi, trên đó chỉ ít lâu sau là thành khu dân cư mới, vì dân số kinh thành ngày một đông đúc, nhu cầu nhà ở ngày càng cao, người xưa đã mấy lần đắp thêm những con đê mới ra bên ngoài con đê cũ, nhà cửa, phố xá mở rộng dần về phía đông và tường thành cũng xa dần dòng chảy của sông Hồng.

 Vết tích những con đê cũ thành đường phố cao nền nhà trên mặt đường và phía trong nhiều chỗ còn sót lại hồ ao trước kia là những con lạch cũ bên đê chưa bị lấp hết (như ở sau Hàng Bồ - Hàng Quạt, chuỗi hồ Huyền Thiên - Bắc Qua - Hàng Bạc đến hồ Hàng Đào thông với Hồ Gươm tức hồ Tả Vọng và hồ Hữu Vọng). Những lòng hồ ao bên trong các phố chính mới được lấp đó mang tính chất là những xóm dân nghèo của thành thị, những người không vốn liếng sống bằng những nghề mọn, buôn bán vặt hoặc làm thợ gia công cho những cửa hiệu sản xuất ngoài mặt đường phố chính, họ không có khả năng thuê được những chỗ ở tốt hơn.

 Sự hình thành các đường phố khu Cửa Đông là như vậy, nó tồn tại từ bao thế kỷ, dấu vết thôn phường cũ là những đình chùa còn giữ được địa danh xưa. Nhà cửa ở những đường phố cũ thường có diện tích nhỏ, bề ngang ngoài mặt phố hẹp vì nhà nào cũng tranh thủ mặt bằng để sản xuất và bán hàng tại chỗ, còn chiều dài thì ăn sâu vào mãi bên trong có khi đến hàng chục mét, chia làm nhiều lớp nhà ngang và sân trong; nhà nào làm gác thì cũng chỉ là gác xép thấp, kiểu "chồng diêm", cửa sổ trông ra đường nhỏ hẹp.

 Quang cảnh Khu phố cổ Cửa Đông tồn tại mãi đến đầu thế kỷ 20 và còn rất nhiều đường phố cho đến tận ngày nay nhà cửa cũng không có mấy sự thay đổi, có chăng chỉ là cảnh xây dựng vá víu chẳng đẹp mắt.

Thủ đô Hà Nội của chúng ta có bề dày lịch sử hàng nghìn năm (điều mà thế giới ít có thành phố được như vậy), thế mà những di tích của tổ tiên ta để lại chẳng còn sót lại được là bao, vì vật liệu xây dựng, gỗ gạch không tồn tại được lâu với khí hậu ẩm nóng của nước ta, vì bao phen binh hoả chiến tranh chống ngoại xâm, thêm cả những hành động phá hoại trả thù vô ý thức của phe phái chính trị, đã làm mai một đi mất nhiều di sản quý báu của dân tộc. Một ngôi chùa cổ nhỏ, khu phế tích lăng tẩm, một pho tượng đá, một tấm bia ta còn trân trọng giữ gìn nữa là cả một phần thành phố đậm đà màu sắc dân tộc.

 Những đường phố cổ đó nhắc lại cả một quá trình hình thành một bộ phận quan trọng của thủ đô Hà Nội của chúng ta ngày nay, nó tích tụ bao nhiêu sự sáng tạo từ đời này qua đời khác, nó biểu hiện sức sống của con người Việt Nam, nó mang một sắc thái kiến trúc cổ kính độc đáo, nhiều màu sắc đã từng làm say mê nhiều nhà nghệ sĩ hội hoạ và nhiếp ảnh (cũng như nó đã làm cho nhiều người nước ngoài mới sang nước ta những năm đầu thế kỷ đã thích thú la cà hàng ngày từ phố này sang phố khác, nhìn ngắm không chán mắt những hoạt động về sản xuất và sinh hoạt trong các phố của Hà Nội và để lại những trang du ký đầy tình cảm (Hocquard, Lecomte, Bonifacy...). Chúng ta hiện nay đang có vấn đề bảo vệ khu "36 phố phường" như là một di tích quốc gia, cần giữ gìn như một bảo tàng sống về kiến trúc và sinh hoạt xã hội (ý kiến của kiến trúc sư Đặng Tố Tuáan tại Hội thảo môi trường mỹ thuật của Hà Nội tháng 85 - 1987).

Ý nghĩa lịch sử khu Cửa Đông không phải chỉ có vậy. Nó còn là một khu di tích lịch sử cũng giữ gìn như sẽ trình bày ở cuối bản viết dưới đây.

        Về mặt địa lý nhân văn, dân cư kinh thành Thăng Long xưa - nay là nội thành thủ đô Hà Nội - trong quá trình lịch sử đã hình thành như thế nào? Và khu Cửa Đông đã có những nét đặc thù gì về phương diện này?

Hà Nội từ khi còn là Thăng Long cho đến cuối thế kỷ 19 vẫn có ba bộ phận riêng biệt: khu vực hành chính và quân sự tức là đất trong thành trì, khu vực kinh tế công thương nghiệp ở ngoài Cửa Đông thành trì ra đến bờ sông Hồng, và một vùng nông thôn rộng lớn bao quanh, hai khu vực hành chính và công thương nghiệp tức là thành phố; vùng nông thôn đó là một vành đai lương thực và thực phẩm của thành phố.

 Về thành phần cư dân của Hà Nội trước nửa đầu thế kỷ 20, tại các thôn xã xung quanh nội thành người ta có thể truy gia phả tìm được một số gia đình gốc bản địa lập nghiệp trên đất này trước thế kỷ 15 giữa những gia đình đến sau. Còn khu cư dân của kinh thành chuyên về làm nghề thủ công và buôn bán là Cửa Đông của Hà Nội là nơi tụ hội người tứ xứ, việc tra cứu họ gốc ở khu vực này là một việc làm thú vị song rất khó khăn. Những năm nhiễu loạn cuối đời Trần - Hồ và hai thập niên đô hộ của giặc Minh, dân cư Thăng Long đã bị nhiều phen thất tán xáo trộn và phải chờ đến thời kỳ Lê Lợi bình định xong đất nước, chấn chỉnh lại việc cai trị, lập lại trật tự kỷ cương, dân cư thành Thăng Long mới dần dần hồi phục và an cư sản xuất.

 Tình hình kinh tế của Thăng Long từ đời Lý - Trần - Hồ quá xa xôi mà ta chỉ có một số ít tài liệu viết sơ sài để lại, như từ thời Hậu Lê (cuối thế kỷ 15) trở đi thì thành phố Thăng Long đã có một bộ mặt của một đô thị quan trọng, có nền kinh tế phát triển mạnh mẽ. Đời sống nhân dân khá lên, nhu cầu sinh hoạt hàng ngày tất nhiên sẽ nhiều hơn trước; triều đình vua Lê chúa Trịnh lại là một xã hội qúy tộc sống xa hoa không còn giữ tính chất giản dị như ở thời Lý - Trần nữa, cho nên ở thế kỷ 17 - 18 Thăng Long là nơi đô hội thu hút cả những lái buôn người phương Tây đến làm ăn.

 Sự phát triển đó càng được thúc đẩy mạnh khi có thêm những yếu tố kích thích mới ở nửa đầu thế kỷ 20 Hà Nội tiếp xúc với một sức mạnh ngoại lai, đó là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và văn hoá Tây phương, công thương nghiệp Hà Nội tuy vẫn còn giữ được một số truyền thống dân tộc đáng quý song đã chịu nhiều sự thay đổi về các mặt hình thức sản xuất và kinh doanh phù hợp với thời đại mới. Do đó mà tư duy kinh tế cũng có khác trước thể hiện ở thành phần người ra kinh doanh công thương nghiệp ở từng giai đoạn như ta sẽ thấy nói trong cuốn sách này.

 Cửa Đông tụ hội những gia đình làm nghề thủ công và buôn bán. Những phường đó được liên tục bổ sung bằng nguồn nhân lực từ các địa phương tứ trấn đến, những người thợ ở các làng có nghề cổ truyền ra Thăng Long (và sau này là Hà Nội) để hành nghề, những người ra kinh đô kiếm việc, học được nghề mới. Những người làm nghề, những người ra kinh đô kiếm việc, học được nghề mới. Những người làm nghề thủ công ra Thăng Long Hà Nội hành nghề nói chung đều theo tổ chức phường hội, thực chất là họ có sẵn quan hệ họ hàng làng xóm từ nơi quê hương. Trong cửa hàng vừa sản xuất vừa bán hàng, thường là bố mẹ vợ con, vừa là chủ vừa là thợ, họ dắt díu người làng là con em trong họ và thân thích ra để giúp việc, nhiều người về sau cũng sẽ là chủ cửa hàng tương lai.

 Sự pha trộn người tứ xứ di cư về Hà Nội, nhiều nhất vẫn là ở khu Cửa Đông. Họ đem theo ra thành phố cả những phong tục tập quán nơi quê hương, có khi cả Thành hoàng làng và Tổ sư nghề nghiệp (nhiều khi cùng là một vị) cùng với những nghi lễ vào đám tế lễ ăn uống. Tại khu Cửa Đông có đình thờ Thành hoàng làng của người Đan Loan ở Hàng Đào, của người Trúc Lâm, của người Quất Động ở Yên Thái, Hàng Quạt, của người Hoè Thị ở phố Lò Rèn, của người Hà Vỹ ở hố Hàng Hòm; người Ninh Hiệp ở phố Hà Trung, người Đa Ngưu ở phố Thuốc Bắc đều có sẵn sinh hoạt phường hội nghề nghiệp gắn bó; những điều kể trên đều là những ví dụ cụ thể. Đó là chưa kể trường hợp người Phất Lộc, Lương Đường, Phù? ng tổ tiên làm quan ở Thăng Long, gia đình họ hàng theo ra đông; sau nữa đến những người làng Phù Đổng, Đình Bảng, Cự Đà, Khúc Thuỷ, v.v... chuyên nghề buôn bán ở những thời kỳ sau.

Ta phải thừa nhận rằng, trong nước không ở đâu bằng kinh thành, là nơi tập trung nhiều thợ giỏi của những nghề cổ truyền của dân tộc; do vấn đề chất lượng nguyên liệu (các nơi cung cấp về và có lựa chọn) kinh nghiệm kỹ thuật được giải quyết một cách tối ưu, được yếu tố nhu cầu trên phương diện xã hội và văn hoá kích thích mạnh, vì thế mà Thăng Long không thiếu những sản phẩm do những "người thợ khéo tay hay làm" thể hiện óc thông minh, tài chế tạo của dân tộc Việt Nam, mà ở đất kinh thành, chỗ Cửa Đông này chính là khu tập trung những tay nghề giỏi của hàng mỹ nghệ đồ thêu, đồ chạm, đồ khảm, đồ đúc, đồ sơn, cả đến quần áo may ở Hà Nội, giày đóng ở Hà Nội, những món ăn dân tộc của cửa hàng ăn Hà Nội, có nhiều ở các phố khu Cửa Đông; món quà nhỏ đem về quê từ Hà Nội cũng được đề cao và đón nhận trân trọng "quà Hà Nội".

 Tiếp xúc với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa của đế quốc Pháp, tại Cửa Đông tầng lớp xã hội có nhiều biến đổi nhất có lẽ là tầng lớp thương nhân. Khi người Pháp mới chiếm Hà Nội, nghề buôn bán tuy phát triển song không được xã hội phong kiến coi trọng, nó bị xếp ở bực cuối cùng của chiếc thang giá trị xã hội (sĩ, nông, công, thương). Đàn ông có học không có ai đi buôn, chủ cửa hàng tại các phố buôn bán lớn cũng vậy, hầu hết là các bà (Trong phong trào Duy Tân sau Đông Kinh Nghĩa Thục cũng có mấy nhà nho ra lập công ty kinh doanh buôn bán, song mục đích lại là tổ chức cơ quan kinh tài của phong trào Đông Du).

 Sau Đại chiến Thế giới I (1920) thế hệ thương nhân kế tiếp của đường phố Hà Nội trong các gia đình buôn bán cũ ít đi, một lớp nhà buôn bán khác xuất hiện. Cách làm ăn của lớp người mới cũng khác trước. Các cửa hàng ở phố Hàng Bút cũ, phố Hàng Phèn buôn cất hàng của hiệu khách Hàng Bồ, Hàng Buồm, của các hãng buôn khác, mở đường bán cất cho các địa phương những hàng ngoại hoá. Lái buôn mang vốn từ nhà quê ra, thuê cửa hàng hay tậi lại nhà của nhà buôn cũ, họ đa số văn hoá thấp, song được cái tháo vát khôn ngoan, thính chuyện tìm nguồn hàng và thị trường, có sáng kiến cạnh tranh với thương nhân người Hoa và Pháp tuy ở mức độ còn hạn chế vì nhiều nguyên nhaan; họ cũng có tập đoàn làm chỗ dựa để giao dịch, có kinh nghiệm, có vốn, mặc dù phải chịu những thể lệ thuế khoá và nhiều hạn chế chặt chẽ.

 Trong những năm thập niên ba mươi, đã có những thanh niên trí thức tiếp thu quan niệm mới của chủ nghĩa tư bản, cũng đã ra kinh doanh công thương (Vũ Văn An, Phạm Tá, Mai Đệ...) Người nước ngoài, đông hởn cả có Hoa kiều, có? n kiều, Nhật kiều, họ mở cửa hàng buôn bán trong khu Cửa Đông; và tại đây đã hình thành khu phố Hàng Buồm của Hoa Kiều, quang cảnh khác hẳn khu khác ở các đường phố Việt Nam chung quanh; ở Hàng Đào cửa hàng vải của người ấn lấn dần cửa hàng tơ lụa của nhà buôn ta.

 Quang cảnh phố xá Cửa Đông dần khác trước ở một số khu phố; nhiều nhà ở Hàng Bồ, nửa phía tây Hàng Bạc, phố Hàng Gai, người ta gộp đất hai ba nhà cũ, phá đi xây lại to đẹp khang trang bề thế, gây được tín nhiệm với khách hàng; những nhà không có điều kiện đầy đủ để xây dựng lại thì ít ra cũng sửa lại bộ mặt ngoài của cửa hàng: lắp tủ kính, mắc đèn điện, trình bày mẫu hàng, trang trí có mỹ thuật để kéo sự chú ý của người đi mua hàng.

 Khu Cửa Đông chủ yếu là một khu phố tiểu thủ công nghiệp và song các chủ hiệu buôn, chủ cửa hàng sản xuất tiểu thủ công và thợ sản xuất nhỏ. Dưới thời phong kiến với nền kinh tế như vậy, Hà Nội chưa thể có giai cấp tư sản; sang thời Pháp thuộc, Hà Nội là một thành phố thực dân địa của chế độ tư bản, trong thành phố đã có thể manh nha một giai cấp tư sản người Việt Nam, và nếu có thì nó phải rõ nét ở khu Cửa Đông này mang sẵn tiền đề. Có những gia đình buôn bán lâu đời ở mấy phố quanh chợ Đông Thành cũ (Thuốc Bắc, Bát Sứ, Hàng Bồ) hoặc ở dọc con đê cũ Hàng Đào - Hàng Ngang - Hàng Bạc - Hàng Gai, vốn liếng được coi là lớn, họ làm giàu theo lối tích luỹ cổ truyền "hơn mua kém bán", hoạt động không ra khỏi kiểu tự cấp tự túc. Đầu thời Pháp thuộc, Cửa Đông có một số nhà giàu có tiếng như Tiến Xương, Cửu Nghi, Bát Dáy; họ không sản xuất hàng hoá mà làm giàu bằng nghề cho vay lãi, cầm bán nhà đất, đổi bạc, đã có thể gọi là tư sản được chưa? Có người làm giàu về nghề thầu khoán và buôn bán vật liệu xây dựng như Tư Hồng ở Cửa Đông, Trần Quang Minh ở Hàng Bông, anh em Đinh Tráng, Đinh HÒa chưa hẳn là tư sản cũng như những nhà buôn cất và giữ vai trò phân phối hàng của Pháp đi các địa phương. Bạch Thái Bưởi cũng là một nhà thầu lại biết chuyển hướng sang kinh doanh nghề vận tải đường sông và mở xưởng cơ khí, cạnh tranh với các hãng tàu thuỷ của người Pháp và người Hoa và khai thác mỏ than, đó là một nhà tư sản rồi. Những người chung vốn lập công ty hoặc đứng một mình như công ty Quảng Hưng Long (Hàng Bồ) vừa sản xuất hàng nội hoá vừa buôn, Quảng Hợp Ích, Đông Thành Xương (Hàng Gai); Đan Phong nấu sơn, Hưng Ký mở nhà máy gạch, Mạc Đình Tư, Ngô Tử Hạ mở nhà in; Tiên Long, Đồng Lương sản xuất chè; Hội công nông thương đồng nghiệp lập ra Ích Hữu thư xã, ra báo Hữu Thanh, Công ty Báo Thực Nghiệp, tất cả đều là xu hướng trỗi dậy của tầng lớp tư sản dân tộc.

 Sự hình thành giai cấp tư sản thành thị người bản xứ của Hà Nội và sớm rõ nét ở Cửa Đông; bản chất giai cấp tư sản của họ các giống như của giai cấp tư sản dân tộc Việt Nam nói chung. Một điều đáng chú ý là những nhà tư sản buốn bán thế hệ lớp đầu trong đường phố Cửa Đông vẫn còn mang nặng một cốt cách nông dân, chưa dứt bỏ được cái gốc rễ nông thôn,họ có cơ sở ở thành phố mà không quên chuyện tậu ruộng đất ở quê hương coi như đó mới là căn bản. Giai cấp tư sản dân tộc còn non yếu, chưa thực hẳn là thị dân với ý thức, lý tưởng chính trị của giai cấp mình. Những chuyện có người ra làm báo, tranh cử dân biểu này nọ chỉ là chuyện háo danh, lợi dụng địa vị để mưu lợi riêng, đâu có phải vì một ý thức tư tưởng, một chủ nghĩa gì.

 Sự xuất hiện của tầng lớp tư sản ở Cửa Đông đồng thời mang theo sự phân hoá trong những gia đình phong kiến cũ; con cái những nhà buôn khá giả không muốn nối nghiệp buôn bán của bố mẹ mà lại dùng cái học vấn tiếp thu trong nhà trường Pháp Việt để đi làm công chức hoặc một nghề tự do (bác sĩ, luật sư, viết báo...). Những thanh niên đó thuộc thành phần tiểu tư sản thành thị và có xu hướng rời khỏi nơi đại gia đình trong khu buôn bán đến ở khu cư dân kiến trúc hiện đại và có nhiều tiện nghi hơn, thích hợp với lối sống mới. Con người Hà Nội gốc, đến thế hệ  sau, đã Âu hoá và dần dần làm phai lạt một phần những phong tục tập quán cổ truyền vẫn được tiếng là lối sống nền nếp thanh lịch của người dân kinh kỳ, lối sống đã trở thành tiêu chuẩn trong việc sử dụng ngôn ngữ, y phục, ẩm thực, cách xã giao và đạo đức xử thế truyền thống của dân tộc, những điều tốt đẹp mà trước đây người ta vẫn cứ muốn coi các gia đình ở những phố Hàng Đào, Hàng Gai, Hàng Bạc, Hàng Bông, Hàng Bút, Hàng Bồ của Cửa Đông như những nơi mẫu mực. Tuy nhiên phong cách sống thanh lịch của những người Hà Nội đó ở khu Cửa Đông vẫn còn nhiều gia đình trân trọng gìn giữ, giáo dục con cái, duy trì được cái truyền thống tốt đẹp của ông cha ta.

 Cửa Đông là khu phố sản xuất hàng thủ công và buôn bán không phải là địa bàn hoạt động văn hoá và xã hội mạnh mẽ. Tuy nhiên ở đường phố giáp ranh với khu Hồ Gươm và khu Tràng Thi, là Hàng Gai - Hàng Bông, có sẵn truyền thống văn học: đó là nơi mà ở thời Tự Đức, giữa thế kỷ 19, có những trường học danh tiếng là trường Tự Tháp, trường Đông Tác trường Cổ Vũ; và thời kỳ đầu thuộc Pháp là nơi in và bán sách nôm mộc bản, sau đó là nơi tập trung nhiều nhà in, toà soạn báo chí quốc văn, các hiệu bán sách và giấy bút.

 Còn một điểm nữa là tinh thần dân tộc và yêu nước của người Hà Nội lớp trước ở khu phố cổ đó, tiêu biểu cuối cùng là phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, đã không vì sự tàn tạ của lớp sĩ phu mà lụi đi, dư âm của nó là những tổ chức kinh doanh công thương ủng hộ phong trào Đông Du, như Hồng Tân Hưng, Đồng Lợi Tế, Đông Thành Xương, cũng tồn tại được một thời gian ngắn ngủi. Thế hệ sau là tầng lớp tiểu tư sản kế thừa cái tinh thần dân tộc ấy; lúc đầu họ còn bỡ ngỡ với tình hình mới ở trong nước và ngoài quốc tế, nên mới chỉ hoạt động trong lĩnh vực văn hoá xã hội, sau rồi tham gia phong trào cách mạng bí mật của những đảng chính trị thành lập ở những năm cuối thập niên hai mươi và họ đã hăng hái hoạt động trong những năm cuối thập niên ba mươi từ Mặt trận Dân chủ Đông Dương đến Cách mạng Tháng 8, Cửa Đông có phần đóng góp của mình đối với Việt Nam Quốc dân Đảng cũng như với Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội và Đảng Cộng sản Đông Dương (nhà Đào Tiến Tường số 24 phố Hàng Giấy, cơ sở của Việt Nam Quốc dân Đảng là một hiệu buôn nước mắm; cơ sở của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội và Đảng Cộng sản Đông Dương lại là những nhà thợ thủ công nghèo, cửa hàng nhỏ: số 15 Hàng Nón là nơi thành lập Tổng Công hội năm 1929; 45 Hàng Thiếc, 12 Cột Đồng Hồ là chỗ ở bí mật của Thành uỷ năm 1930; 32 Hàng Da là trụ sở Đông Dương Đại hội Bắc Kỳ..., Trần Phú đã ẩn náu ở số 2 Hàng Rươi, đi lại 16 Cầu Gỗ...)

 Cách mạng Tháng 8 bùng nổ ở Hà Nội, khắp trong thành phố dấy lên một không khí hào hứng lạ thường; phong trào Việt Minh cứu nước từ ngoại thành thâm nhập vào nội thành, đến khu Cửa Đông công thương nghiệp này. Tại đây có một di tích lịch sử quan trọng, đó là ngôi nhà 48 Hàng Ngang, nơi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ở và làm việc trong những ngày đầu Cách mạng, tại đây Bác đã thảo bản Tuyên ngôn độc lập được đọc ở Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945. Tầng lớp tư sản Cửa Đông đã tích cực ủng hộ Tuần lễ Vàng (tháng 9-1945) và ủng hộ những cuộc quyên góp cho Nam Bộ kháng chiến.

 Tiếng súng kháng chiến chống quân xâm lược Pháp cuối năm 1946 đã cho thêm Cửa Đông một ý nghĩa lịch sử, đưa nó lên hàng một khu bảo tàng quý giá. Cửa Đông là "Liên khu I", mặt trận chính trong chiến thuật ghìm chân địch trong thành phố để ta có thêm thì giờ chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

 Đó là mặt trận với thế trận "thiên la địa võng" mà quân và dân Thủ đô Hà Nội đã chăng ra để đối phó với kẻ địch hung hãn, hơn hẳn ta về kỹ thuật chiến tranh và về khí giới hiện đại, định tiêu diệt chúng ta chóng vánh. Với địa hình chằng chịt nhà cửa, lối giao thông chật hẹp luồn lách như địa đạo, mỗi đường phố trong khu Cửa Đông là một chiến hào, mỗi góc phố là một chiến luỹ, mỗi ngôi nhà là một pháo đài; tại nơi đây, ta đã giam chân chúng suốt hai tháng, tiêu hao chúng nặng nề, nhờ vậy chúng ta đã có thời gian chuẩn bị thêm cho kế hoạch kháng chiến lâu dài cho đến thắng lợi Điện Biên Phủ. Những tên địa điểm nhà Xôva, chợ Đồng Xuân, rạp Tố Như, đình Phất Lộc và tên những đường phố chịu đựng bom đạn đến tan tành như phố Bát Đàn, phố Hàng Thiếc, phố Hàng Bông, phố Hàng Chiếu... đã đi vào lịch sử chống giặc ngoại xâm của Thủ đô Hà Nội.

 CỬA ĐÔNG THÀNH THĂNG LONG

Cửa tường phù thời Lý - Trần

 Cửa Đông của Hoàng Thành thời Lý Trần được đặt tên là cửa Tường Phù. Khu vực Cửa Đông về thời Lý - Trần chưa xác định được rõ rệt vì còn đương tranh luận về địa điểm thành trì Thăng Long. Nếu theo thuyết thành Thăng Long của nhà Hậu Lê vẫn ở nguyên địa điểm thành cũ Lý - Trần mà chỉ có quy mô là đổi khác thì Cửa Đông không có chuyện xê dịch nhiều. (1)

 Cửa Đông trên bản đồ vẽ năm Minh Mạng 1831 vẫn là Cửa Đông ngày nay và có từ đời Hậu Lê, đó là điều chắc chắn. Nơi đây là một trong các khu cổ nhất của Hà Nội.

Suốt bao thế kỷ qua các triều đại từ Lý - Trần đến Hậu Lê - Nguyễn, vị trí của Cửa Đông có tầm quan trọng khác với tầm quan trọng của các cửa khác, thí dụ như Cửa Nam.

 Cửa Nam thời Lý - Trần có tên là cửa Đại Hưng; nơi đây là cửa chính ra vào của các quan lại những ngày thiết triều, của các quan nhậm tại trấn ngoài có việc vào triều, nơi trần thiết lễ nghi mỗi khi Nhà nước có công việc quan trọng như tế Lễ Giao, lễ Tịch Điền, nhà vua đi kinh lý các địa phương (thời Lý - Trần các vua năng đi tuần thú ra ngoài, vua Lê thì rất hiếm). Đó cũng là cửa mà mỗi khi trong nước có giặc, vua ban cờ tiết cho đại tướng cầm quân ra trận, lễ tiễn đưa cũng làm ở ngoài cửa Đại Hưng; khi thắng trận trở về, cũng do cửa này quan quân hiến tiệp lên thiên tử. Đó cũng còn là cửa để các sứ thần nước ngoài vào đệ quốc thư (2). Đến đời Tây Sơn và Nguyễn, Bắc thành không còn là kinh đô thì quang cảnh nói trên không còn. Trái lại Cửa Đông thời Hậu Lê hay thời Nguyễn thì trước như thế nào sau vẫn thế.

 Cửa Đông là một cửa chính của thành trì Thăng Long, nhưng không mang nhiều tính chất chính trị như Cửa Nam. Vì nó ở sát khu vực buôn bán và công nghệ sầm uất nhất của kinh kỳ nên nó mang nhiều tính chất hành chính và giao lưu kinh tế hơn những cửa khác. Quân sĩ trong Thành ra phố mua sắm hàng hoá cho các quan lại và nhà quyền quý có dinh thự ở bên trong, thợ thủ công vào làm trong các công thự, dân gánh thuế vào nộp kho, những người có trát đòi phải vào có việc trong công đường.

 Nhìn vào bản đồ cũ thành Thăng Long thời Hà Nội và thành Hà Nội thời Nguyễn, ta thấy ngoài những doanh trại chia ra đóng giữ bốn mặt của thành trì, nào kho súng kho lương dọc tường phía bắc, tàu tượng dọc tường phía nam; còn các ty, tào, dinh các quan làm việc tiếp xúc với dân thì đều đặt ở phần phía đông thành trì cả: dinh tổng đốc, dinh tuần phủ, dinh án sát, nhà ngục, tào hình, tào hộ, tào công, ra vào theo lối Cửa Đông. Trạm Hà Trung ở góc đông nam ngoài thành nằm trên trục đường giao thông, từ nam ra, theo lối Đông Môn mà vào thành.

 QUANG CẢNH CỬA ĐÔNG THỜI HẬU LÊ VÀ NGUYỄN

 Quang cảnh sinh hoạt thành thị của Thăng Long xưa, cụ thể là khu Cửa Đông, nó như thế nào? Ta được biết rất ít tài liệu viết còn lại đến giờ.

 Một tài liệu xa xưa nhất là tập "An Nam tức sự" của Trần Phu, sứ thần nhà Nguyên đến Thăng Long năm Quý Tỵ 1293 cho biết chi tiết về y phục phong tục của người Đại Việt thời Trần những năm sau khi chiến thắng quân Nguyên Mông (1). Phải đến thế kỷ 17-18 ta mới lại có nhiều tài liệu khá phong phú về Thăng Long thời Hậu Lê, đó là những tập hồi ký của những giáo sĩ và thương nhân người châu Âu (2) đã từng đến nước ta. Đánh giá những tài liệu đó, ta thấy họ có những cái nhìn trung thực, mà cũng có những cái nhìn có vẻ phóng đại của kẻ tu hành đi xa về. Họ cho rằng Kẻ Chợ (Thăng Long) to rộng không kém các thành phố lớn khác của châu Á mà dân số thì đông hơn nhiều; họ so sánh Thăng Long với thành phố châu Âu đương thời như Venise (?) hay Paris (Pháp) (Richard).

"Phố xá đều rộng rãi và đẹp, lát gạch một bên cho người đi và một bên không lát cho voi, ngựa đi... ngày phiên chợ phố lớn chật ních người đến nỗi phải chen lấn hàng nửa giờ mới tiến lên được trăm bươcơ sở..." (Baron).

"Dưới sông thuyề bè đậu san sát, những cái đến sau khó mà len được vào bến" (Richard).

Có đúng là phố xá Thăng Long của ta trước kia to đẹp, sinh hoạt sầm uất như thế không? Một sách khác lại viết như sau: "Kẻ Chợ có đến hai vạn ngôi nhà, tường thì thấp, vách trát bùn... mấy phố chính cũng rộng còn hầu hết là chật hẹp, đa số lát đá, rất tồi, mùa mưa thì lầy lội, chỗ nào cũng có hố nước, ao tù bùn đen thối tha..." (Dampier 1667)

 Sách của tác giả Việt Nam thì có mấy quyển của Lãn Ông Lê Hữu Trác (Thượng kinh ký sự), của Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án (Vũ trung tuỳ bút, Tang thương ngẫu lục) có viết khá chi tiết về cảnh sinh hoạt của nhân dân Thăng Long về cuối thế kỷ 18, thời kỳ loạn lạc, chiến tranh xâm lược của giặc Thanh, tinh thần suy vi của tầng lớp thượng lưu xã hội.

 Nửa đầu thế kỷ 19 là mấy chục năm phục hồi của Hà Nội, chưa được bao lâu thì lại tiếp đến hai thập niên đầy rẫy biến cố do đế quốc Pháp xâm lược, hai lần giặc đánh vào Hà Nội, cái vạ quân Cờ Đen hoành hành ở ngoại thành và ở trong phố năm 1883; Hà Nội trải bao phen binh hoả, nhưng ta vẫn có thể tin được rằng quang cảnh phố xá cũng không khác xưa nhiều lắm. Tài liệu mới nhất là của những sĩ quan và nhà báo Pháp của đội quân viễn chinh nói nhiều đến thành phố Hà Nội, và thêm cả bộ sưu tập ảnh của nhà Dieulfils chụp hồi đầu thế kỷ 20, đã để lại cho ta quang cảnh một thành phố Hà Nội chẳng có thể gọi là to đẹp khang trang được (1). Điều đó cũng dễ hiểu vì nó có nguyên nhân là cơ sở kinh tế nông nghiệp và thủ công tự cấp tự túc, tình hình văn hoá xã hội lâu đời ít có sự biến đổi. Tuy nhiên thành phố Hà Nội vẫn là một thành phố cổ kính, độc đáo với cảnh sinh hoạt riêng biệt của nó, không quen mắt với bọn tư bản công nghiệp phát triển châu Âu.

 "Phố xá người Việt Nam không lát gạch đá, hễ sau trận mưa là bùn lầy dày đến mấy phân lẫn mọi thứ rác rưởi. Những nhà tranh làm không theo thẳng hàng, nên đường phố là hai dãy nhà thò ra thụt vào. Mái tranh thấp lè tè. Mặt trước nhà thường có tấm phên di động buộc ở phía trên, ban ngày thì giương lên và chống bằng hai chiếc gậy: đó là thứ mái che tạm mưa nắng, bên dưới bày bán các thứ hàng.

 "Ngày phiên chợ, đàn bà trẻ con ở các làng ngoại thành vào phố bày hàng bán ngay ở giữa đường đi.

 "Phố xá người Trung Hoa thì được lát ở giữa đường đi bằng những đá tảng, trời mưa cũng đỡ lầm lội. Nhà làm sát đường đi, nước mưa ở dọc hai bên đường có khi chảy cả vào nhà. Cảnh phố xá trông không đẹp mắt: mái nhà nhấp nhô, nóc nhà gác thì cao lênh khênh, nhà một tầng thì lại thấp lè tè. Mái ngói phủ rêu xanh, tường thì vẽ những hình người, những trang trí màu sặc sỡ. Đầu phố có xây cổng ban đêm đóng chặt có nhiều canh gác để đề phòng cháy và cướp.

 "Ban đêm thì âm u và buồn; một số ít hộ mở cửa, ánh đèn hắt ra mờ mờ; ở phố Khách chủ hiệu thắp những đèn lồng phất giấy bóng có dán tên cửa hiệu bằng chữ nho và treo ở đầu chiếc gậy để đứng. Ngoài ra không có cảnh hoà nhạc, nhà hát, câu lạc bộ, quán ăn đêm, không có cửa hàng mở đến khuya (như ở những thành phố Á Đông khác đầy tiếng ồn ào và trăm nghìn ánh lửa).

 "Chỉ có ngoài bờ sông mới có cảnh tấp nập không một lúc nào ngớt: thuyền của lái buôn người Việt và khách trú đi lại liên tục; những bè tre gỗ lá dài xen vào giữa đám thuyền bè rất lộn xộn, đò ngang len lỏi qua nơi đây" (1)

 Chiến tranh năm 1882 đã tàn phá một phần phố xá Cửa Đông, trừ vfai ba phố Khách là không bị thiệt hại mấy. Một tài liệu có ghi lại: "Đến Hà Nội ngày 15 tháng 6 - 1882, tôi thấy thành phố này ở vào một tình trạng thảm hại. Trừ một phần nhỏ mấy phố người Tàu, còn thì chỗ nào cũng bị đốt phá tan tành. Tối nào bọn cướp cũng vào vơ vét nốt những thứ gì còn lại. Dân chúng đã bỏ cả nhà cửa của cải đi hết" (2)

 Tuy nhiên chỉ ít năm sau, người Pháp hoàn thành việc bình định trung châu và trung du Bắc Kỳ, việc làm ăn đã có điều an ninh trật tự hơn, thành phố lại đông dân, nhà cửa được tu sửa lại, phố xá mở mang thêm. Mặc dù trong thời thuộc Pháp, người lao động Việt Nam bị sưu cao thuế nặng, các ngành thủ công nghiệp và buôn bán vẫn phát triển nhanh chóng. Nhiều nghề do yêu cầu của khách hàng mới - binh lính sĩ quan Pháp ăn mặc sắm sửa mua tặng phẩm đồ lưu niệm mang về nước - như thợ may, thợ cắt tóc, hàng giải khát, đồ đồng, gỗ chạm khảm, đồ thêu, đồ da, được mở mang tại các phố trung tâm và thu hút nhân công nhiều làng có nghề cổ truyền, ở những tỉnh Hà Đông, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định ra thành phố. Và do yêu cầu xây dựng nhiều công trình lớn ở Hà Nội hồi đầu thế kỷ 20, việc khai thác chuyên chở buôn bán vật liệu trở thành sầm uất, các hạng thợ mộc, nề, sắt được đào tạo trong thực tế sản xuất thúc đẩy sự hình thành những tầng lớp xã hội hiện đại.

 Mặc dù vậy, phố phường xưa của Hà Nội vẫn còn giữ nhiều tính chất xóm phường của thời Hậu Lê. Ví dụ: một phố Thuốc Bắc hiện tại dài chưa đến nửa cây số mà là đất gồm những phường Hàng Sắt, Hàng ÁO, Hàng Thuốc Bắc, Hàng vải, Hàng Bút, mỗi đoạn phố chỉ dài độ ngót trăm thước.. Không phải riêng chỉ có phố đó, phố Hàng Bông cũng gồm tới bốn đoạn tên gọi khác nhau là Hàn Hài, Bông Đệm, Cây Đa Cửa Quyền, Hàng Bông Lờ... Một phố Hàng Quạt mà cũng nào Hàng Đàn, Mã Vĩ, Hàng Quạt.

 Phố xá Cửa Đông đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ thế kỷ 16 - 18 thời Hậu Lê, qua thế kỷ 19 thời Tây Sơn - Nguyễn, song quá trình phát triển được thúc đẩy mạnh có lẽ là ở thời thuộc Pháp tức là nửa đầu thế kỷ 20.

 Cuối thế kỷ 19, ngoài Cd hình thành hai khu vực tập trung nhiều gia đình giàu có:

 - Một khu vực trên con đường vào trong thành theo lối cửa Chính Đông, đó là những phố vây quanh chợ Đông thành của những thôn Yên Hoà, Yên Phú, Đông Thành Thị, có các phường Hàng Bát Sứ, Hàng Bát Đàn, Hàng Bút, Thuốc Bắc.

 - Một khu vực ở trên đê sát bờ sông Hồng, thuận lợi trên bến dưới thuyền, buôn bán dễ dàng; đó là các thôn phường Đông Hà, Đồng Xuân, Diễn Hưng, Đại Lợi, sau này là con đường dọc suốt từ chợ Đồng Xuân đến Hàng Đào qua Hàng Đường, Hàng Ngang, Hàng Bạc, Hàng Bồ.

 Chung quanh mấy khu vực buôn bán trù phú đó là những phố nhỏ hơn, của những phường làm nghề thủ công, những cửa hàng đồng thời cũng là nơi sản xuất hàng hoá cỡ nhỏ của gia đình người thợ kiêm chủ hiệu.

 Phố xá còn mang tính chất phường hội trung cổ này vẫn là nét đặc sắc của Thăng Long trước kia và Hà Nội lúc bâý giờ. Nét đặc sắc đó là điều thích thú, nó hấp dẫn khách nước ngoài thích la cà từ chỗ này đến chỗ khác suốt cả buổi không biết chán: một thành phố sản xuất và buôn bán sinh động, bày ra trước mắt khách hàng tất cả những gì gồm trong việc hình thành ra sản phẩm mà họ đi xem và mua sắm; từ nguyên vật liệu còn thô sơ đến các khâu chế tạo nghĩa là cả quá trình hình thành một đồ vật. Cái cảnh tượng mà ở thành phố những nước công nghiệp hoá không còn nữa (1).

 Quang cảnh phố xá Hà Nội biến đổi - nhất là khu buôn bán Cửa Đông vì chức năng thành thị chủ yếu là ở địa hạt công thương, khác với khu nông nghiệp ở phía khác - đánh dấu những biến thiên của lịch sử đất nước.

 Hai lần thành Hà Nội thất thủ, năm 1873 và nhất là năm 1882, phố xá bị phá huỷ, nhà cửa bị cướp bóc, dân cư li tán. Người Tây sang thống trị Việt Nam có mở mang xây dựng nhiều thành phố lớn trong số đó có Hà Nội, rồi do Nhu cầu sinh hoạt làm cho nghề thủ công của ta có nhều chuyển hướng. Việc sản xuất và buôn bán tại chỗ những vật liệu xây dựng và trang bị (như gỗ, gạch, sắt, xi măng...... những sản phẩm cần cho đời sống  hàng ngày đã đổi mới (như vải lụa, đồ thêu, đăng ten...) phát triển nhanh. Nhiều người Việt Nam làm giàu. Nhưng xã hội phong kiến vẫn cứ tồn tại ở cái thành phố đổi mới này; nhiều gia đình hãy còn giữ phong cách cũ: các bà mở cửa hàng buôn bán lấy lòng thực thà để chiều khách, việc buôn bán là để giúp đỡ cho sinh hoạt gia đình, bộ mặt các cửa hàng ít thay đổi, trừ mấy phố Tây. Một nét mới là phong trào duy tân đẻ ra một số hiệu buôn bán và làm nghề thủ công do các nhà nho tiến bộ đứng ra chủ trương, có tính chất yêu nước hơn là kinh doanh nhưng không tồn tại được lâu vì không biết làm ăn.

 Chiến tranh thế giới I 1914 - 1918 do ảnh hưởng của chính sách khai thác thuộc địa mới, một lớp công thương gia mới nổi lên: họ buôn bán to, đứng ra làm mại bản cho các hàng Tây hàng Tàu. Nghề đó trước đây chỉ có khách trú làm. Địa vị xã hội của các nhà buôn được nâng lên vì họ có tiền và muốn có thêm danh vọng, họ ra làm nghị viên dân biểu, làm chủ báo, v.v... Những phố có vị trí buôn bán thuận lợi như Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Gai... cửa hàng được sửa chữa bề mặt cho có vẻ hiện đại; những nhà buôn Việt Nam ở Hàng Bút, phố Phúc Kiến buôn hàng đưa vào bán tận miền Nam, Sài Gòn và Phnôm Pênh.

 Con cái những công thương gia đó đi học trường Pháp - Việt, họ đỗ đạt và ra làm công chức, một số là công chức cao cấp ngạch Toàn quyền và ngạch Bảo hộ. Nhiều người có Tây học không chịu ở khu phố ta cũ chật chội, nhà cửa xấu xí; lối sống mới tân tiến phải ở nhà kiểu Tây, họ dọn đến ở những khu phố mới xây dựng ở Khu Nam và Khu Bắc thành phố. Yêu cầu sinh hoạt với lớp thị dân mới này thúc đẩy sự phát triển của những nghề và cửa hàng mới như hàng nouveautes (hàng mốt mới: mũ, kính, bút, ca vát, quần áo may sẵn), thuốc Tây, đồ gỗ kiểu mới, thợ may; thúc đẩy mở ra những nơi giải trí thích hợp với đời sống mới: kịch, cải lương, xi nê, nhà hát cô đầu, tiệm nhảy...

 Rồi đến thời kỳ kinh tế khủng hoảng 1931 - 1933(1), và thời kỳ kinh tế phục hồi (sau 1934), tiếp theo là giai đoạn phát triển mới của tư sản dân tộc họ làm "áp phe" (affaires) nhất là trong thời gian chiến tranh Trung - Nhật và Nhật vào Đông Dương (1937 - 1943).

Những phố buôn bán phát triển nhanh; do quy hoạch thành phố có những yêu cầu như không được làm nhà tranh, nhà mới phải theo kiểu hiện đại, diện tích nhà rộng, thì những điều khoản xây dựng đó và nhất là giá thuê nhà đắt, và lý do đã đẩy những gia đình nghèo ra vùng ngoại ô; những hồ ao còn lại trong nội thành được san lấp nhanh để xây những khu nhà ở cao ráo sạch sẽ. Đường phố thẳng, nhà cửa khang trang, song ở nhiều khu phía sau đường phố chính vẫn còn những xóm nhà lụp xụp của dân chúng lao động thợ thủ công làm gia công cho các cửa hiệu ngoài mặt phố.

Chiến tranh thế giới II (1939 - 1945) bùng nổ và lan rộng. Đông Dương nói chung và Hà Nội nói riêng cũng không tránh được cảnh bom đạn. Rồi Cách mạng Tháng 8 - 1945, nhân dân Hà Nội phấn khởi và hy vọng với nền độc lập vừa giành được, nhưng năm sau lại nổ ra chiến tranh chống quân xâm lược Pháp bảo vệ tổ quốc. Hà Nội ngập trong khói lửa bom đạn và dân Hà Nội tản cư. Liên khu I tức là đại bộ phận khu phố Cửa Đông của Hà Nội bị thiệt hại nhiều (1).

 Chín năm thành phố Hà Nội bị tạm chiếm nhưng nội thành được tạm yên ổn giữa cảnh khắp nơi trong nước chiến tranh tiếp diễn tàn khốc. Một nền kinh tế chiến tranh ngự trị trong thành phố: việc xây dựng thêm chẳng có là bao, chủ yếu là sửa chữa nhà bị hư hỏng vì chiến tranh, sửa lại bề mặt một số cửa hàng, được phát triển hơn cả là những ngành phục vụ. Những nhà tư sản mới giàu lên nhờ chiến tranh, họ giàu có hơn lớp tư sản trước, họ có vốn và nhờ hoàn cảnh đảo lộn, đứng ra thay thế bọn con buôn Pháp và ngoại kiều khác; họ mua lại nhà đất, biệt thự, cửa hiệu mà trước đây vẫn chỉ ở trong tay người nước ngoài thôi.

 Năm 1954, người Pháp thất bại, bỏ miền Bắc; một số lớn công thương gia Việt Nam ở thành phố lớn hoang mang bỏ chạy theo chúng vào Nam; người Hà Nội giàu có đi gần vãn. Những cửa hiệu lớn không còn mấy. Tiếp theo đó, giai cấp tư sản dân tộc Hà Nội lại bị bồi thêm một đòn nặng nữa: chính sách cải tạo công thương. Tư sản Hà Nội hoàn toàn sụp đổ. Cửa hàng tư nhân không thành quốc doanh thì cũng là công tư hợp doanh, hình thức bước đầu của quốc doanh đối với những gì còn sót lại (2).

 Phố xá Hà Nội xã hội chủ nghĩa có bộ mặt hoàn toàn khác trước.

 CÁC KHU PHỐ CỦA CỬA ĐÔNG

Đứng về mặt địa lý nhân văn và kinh tế mà nhìn thì sau một quá trình dài nhiều thế kỷ, đã hình thành ở thành phố Hà Nội tại Cửa Đông những khu tiểu thủ công và buôn bán, mỗi khu có những nét đặc sắc riêng biệt, không thể lẫn với nhau được. Tính từ con đường Cửa Chính Đông đi ra, có những khu như sau:

 - Những phường bán giấy bút văn hoá phẩm, thuốc, vải, đồ sứ và tạp hoá, ở chung quanh chợ Đông Thành, bao gồm các thôn Đông Thành, Nhân Nội;

 - Những phường tiểu thủ công làm đồ da, thiếc, làm nón, quạt; ở phía tay phải con đường Cửa Chính Đông, bao gồm các thôn Yên Nội, Yên Trung;

 - Những phường tiểu thủ công làm các nghề bồng, đồ gỗ nhỏ như đóng hòm tủ ghế, đồ gỗ chạm khắc, ở về phía đông nam, bao gồm các thôn Kim Bát, Cổ Vũ, Yên Thái;

 - Những phường thủ công nhuộm vải lụa, buôn bán hàng tơ tằm, vàng bạc, tức là những phố phường buôn bán giàu có, thì ở mấy phường Đồng Lạc, Đại Lợi, Diên Hưng, Dũng thọ; họ quây quần gần nhau để có điều kiện bảo vệ lẫn cho nhau khi bất trắc;

 - Những phường thủ công và buôn bán chuyên nghề làm sắt, đồng, tre cót, giấy mã, thì ở phía bên trái Cửa Đông, bao gồm các thôn Yên Phú, Vĩnh Thái, Vĩnh Trà, Tân Khai.

 - Những phường làm đường mật, làm bánh, buôn bán gạo ngô đỗ khoai, thì tập trung chung quanh hai chợ Huyền Thiên và Cầu Đông;

- Người khách trú ở riêng mấy khu vực thuộc các phường Diên Hưng và Hà Khẩu, và mãi sau này họ quá đông đúc mới tràn sang mấy khu vực chung quanh, những nơi đã có sẵn người Minh Hương ở từ trước. Khách trú sống chủ yếu về nghề buôn bán và làm quà bánh, mở cửa hàng ăn; ít người làm nghề thủ công;

 - Suốt một dải dọc con đê cũ từ Thạch Khối, Phúc Lâm, xuống đến Trừng Thanh, qua Nguyên Khiết, Hương Bài, Thanh Hà, Giang Nguyên, Thanh Yên, Nhiễm Thượng, hoạt động của dân phố thường là những nghề có liên quan đến sông nước, Nhị Hà là con đường thông thương chở sản phẩm từ các nơi về Kẻ Chợ; đó là tre nứa gỗ và lâm sản khác từ thượng du về, mắm muối tôm cá từ miền bể lên; đó là gạch ngói vôi, vật liệu xây dựng; đó là chiếu cói, cau, chè, chum vại từ các địa phương sản xuất ra đem về cung cấp cho Hà Nội.

 Những dấu vết đó đã làm cơ sở cho việc đặt tên phố của Hà Nội sau này, mặc dù những thời kỳ sau do sự biến đổi của nền kinh tế, phố phường sinh hoạt có nhiều xáo trộn, không giữ nguyên được tính chất thuần tuý phường của nó nữa.

 KHU ĐÔNG THÀNH

Thẳng cửa Chính Đông ra là một khu phố xá nguyên vẫn có từ xưa; khu đó thuộc các thôn Đông Thành, Đông Thành Thị, Hữu Đông Môn, Đông Thành Yên Nội, đều thuộc tổng Tiền Túc huyện Thọ Xương; tổng Tiền Túc sau đổi là tổng Thuận Mỹ.

 Thời kỳ tường thành chưa bị phá, hào chưa bị lấp thì khu vực này ở sát bờ hào; khi ấy vẫn có làng xóm, có đường phố, có chợ (tức là chợ Đông Thành). Đến khi không còn tường thành và hào nữa (năm 1896) thì giữa khu quân sự trong thành và khu dân cư cũ, có một khoảng đất trống rất rộng, tức là chỗ tường và hào cũ chưa được xây dựng.

 Di tích những làng xóm cũ nói trên đó là đình Đông Thành nay là nhà số 9 Hàng Vải; trong đình có tượng thần Trấn vũ, và đền Đông Thành ở ngay sát sau lưng đình, cổng quay sang Hàng Mụn (nay là Hàng Bút, số 6).

 Theo bản đồ cũ năm Minh Mạng 1831, con đường từ trong thành ra, đi qua dương mã thành tức là tường thành phụ ở ngoài con hào chính, ra chỗ thôn Nhân Nội, đầu phố Bát Đàn, rồi mới rẽ vào khu chợ Cửa Đông. Đình thôn Nhân Nội ở số 33 phố Bát Đàn thờ thần Bạch Mã; đền Nhân Nội ở số 84a Hàng Bồ. Bên trái chợ là thôn Yên Phú.

 Con đường trong thành qua Cửa Đông ra phố và chợ là một con đường giao thông chính, rất sầm uất, vì bên trong tường thành là nửa phía đông thành nội tập trung hầu hết các ty tào dinh thự công đường của các quan đầu tỉnh Hà Nội; vì vậy ở bên ngoài tường thành tất nhiên có phố xá buôn bán thịnh vượng. Chợ Đông Thành họp trên một bãi đất rộng, (1) chung quanh chợ có nhiều cửa hàng chiếm cả bốn mặt phố, là bốn cạnh của chợ, bán đủ các thứ nhu cầu cho nhân dân: đó là những phố Bát Sứ, Hàng Phèn, Hàng Mụn và một đường phố trước cửa chợ, một đoạn đường không dài lắm mà tập trung những loại hàng hoá khác nhau, mỗi đoạn phố ngắn được gọi theo tên thứ hàng hoá được bày bán dọc theo đường. Hàng Khóa Sắt (giáp Hàng Mã bây giờ), hàng Áo Cũ, Hàng Thuốc Sống (giáp đầu phố Phúc Kiến nay là Lãn Ông), Hàng Vải (ở ngay trước mặt chợ, bán vải nhỏ), Hàng Bún (đầu Hàng Bồ). Rồi sang đầu thế kỷ 20, khu vực chợ Đông Thành được quy hoạch lại, người ta đi chợ đi nơi khác, tập trung với mấy chợ nữa về địa điểm chợ Đồng Xuân bây giờ.

Trước kia chợ Đông Thành buôn bán đông vui lại thêm hai ngôi đình và đền ở bên phía bắc chợ, giữa phố Hàng Mụn. Đình và đền chiếm một khu đất thông sang đến phố Hàng Vải; đình xây dựng đến mấy lớp, sân trong rộng, ngày hội hè đình đám có thể tập trung đông người, đủ chỗ cho các hoạt động rước xách, tế lễ, vui chơi (hát chèo, tổ tôm điếm, hát ả đào thơ, đốt pháo bông...)

 Người làng gốc thôn Đông Thành - thực ra thì đa số gia đình ở đây cũng là ngụ cư; nhưng đã qua nhiều đời rồi - giữ được mối quan hệ mật thiết của người cùng làng xóm cho đến những năm 1945. Gia đình cũ có hai họ chính, họ Bùi và họ Phạm, sau thêm người họ nữa ở nơi khác đến. Nói là quan hệ hàng xóm, nghĩa là không những họ giữ tổ chức phường thôn, đóng góp lệ làng, phân ngôi thứ (2), mà các gia đình còn bảo được nhau giữ nền nếp tốt, người trong phố có chuyện xích mích với nhau thì kiếm cơi trầu đến nói với cụ hơn tuổi, mời các nhà đến họp giải quyết nội bộ, ít để xảy ra mâu thuẫn xô xát. (Có đám cãi nhau to tiếng giằng co ở ngoài đường, người trong phố bảo: đó là người qua đường, người nơi khác đấy!). Có những gia đình gốc ở đây vì lý do gì dọn sang nhà phố khác cũng vẫn nhớ nơi cũ, ngày vào đám theo lệ làng đến dâng lễ vật cúng thần.

 Đông Thành là khu vực buôn bán, và việc buôn bán trước kia ở cả trong tay các bà các chị; đàn ông học trò chữ nho không đỗ đạt mà cũng không làm nghề gì, mặc vợ tần tảo lo liệu, chồng chỉ đóng vai chủ danh dự trong gia đình. Cửa hàng buôn bán ở đây vốn liếng cũng không lớn lắm.

 Con cái họ - chủ yếu là con trai - đi học trường Pháp - Việt, có văn bằng ra làm công chức, không thì đi làm nhân viên sở tư,, chứ không kế nghiệp buôn bán. Từ sau 1920, tình hình kinh tế xã hội đổi khác, một số gia đình trong khu Đông Thành bị sa sút, họ bán nhà đất - vì nhà ở phố buôn bán có giá trị cửa hàng - hoặc cho thuê gian ngoài làm cửa hàng, các bà vào ngồi trong chợ bán tạp hoá, hàng xén. Những cửa hàng cũ nào còn lại thì con dâu hoặc con gái vẫn tiếp tục buôn bán, song đã biết chuyển hướng kinh doanh: họ liên hệ với các hiệu lớn của Hoa kiều ở Hàng Bồ, Hàng Buồm cất hàng chịu, vừa bán buôn lại vừa bán lẻ cho lái các tỉnh về ăn hàng. Và cầm cái họ, buôn nhà đất, là những nghề chóng làm giàu.

 Một lớp nhà buôn mới đến ở đây, bây giờ có cả đàn ông làm nghề buôn bán, đa số ở nông thôn ra, những ông lái nhiều vốn, người các tỉnh Hà Đông (Thanh Oai), Hưng Yên (Văn Lâm) ra lập nghiệp ở Hà Nội. Họ kinh doanh buôn bán lớn, đưa hàng đi xa, giao dịch với các nhà buôn ở Huế, Sài Gòn, Phnôm Pênh. Họ bán buôn cho khách hàng ở tỉnh xa, bán buôn vẫn là chính, cửa hàng mở trong phố chỉ là hoạt động phụ. Đó là những nhà tư sản mới nổi lên.

 Hàng hoá giao dịch chủ yếu là giấy Bưởi, pháo Bình Đà, vải và tơ lụa Hà Đông, rồi đến đủ các mặt hàng tạp hoá do những hãng xnkk Pháp như Denis - Frères, Bourgouis - Meiffre, Dumarest... phân phối lại cho, hoặc cất ngay ở các hiệu Hàng Bồ có hàng ở Hương Cảng, Thượng Hải sang.

 Cách buôn của lớp người mới này có nhiều mánh khoé. Hàng buôn xô bồ mang về được sửa sang đóng gói dán nhãn hiệu: giấy Bưởi xếp theo loại từng một trăm tờ một: pháo mộc đem về chia từng tràng dài, gói lại, bọc giấy láng màu, dán nhãn hiệu "Cường Tường Cát", thêm chữ "Tam thiên thủ", có thể lẫn với pháo nhập của Hương Cảng; sau này dán nhãn hiệu Việt Nam theo phong trào "Tẩy chay hàng Tàu, dùng nội hoá vì tinh thần dân tộc".

 Đứng về phương diện địa lý kinh tế và nhân văn, ta có mấy nhận xét về khu Đông Thành như sau:

Trung tâm buôn bán từ những năm xưa là chợ Đông Thành; chung quanh bốn phía chợ là những đường phố buôn bán sầm uất, với đủ các mặt hàng tiêu dùng thông thường hàng ngày, như hàng xén, hàng vải, đồ dùng trong nhà. Khi không còn chợ ở đây nữa thì tại những phố đó vẫn mở những cửa hàng bày những mặt hàng theo truyền thống cũ, giấy bút, thuốc sống, vải... Chỉ về sau qua nhiều thời kỳ phát triển của nền kinh tế nói chung ở Hà Nội thì hàng hoá có phong phú đa dạng thêm, nhiều thứ mới nhập cảng của Pháp, của Hương Cảng, của Nhật, tuy nhiên bên ngoài mặt cửa hàng vẫn như cũ làm cho đường phố có vẻ không có mấy thay đổi.

 Và ở hai phía bên phải và bên trái chợ Đông Thành xưa vẫn là những đường phố sinh sống về những nghề thủ công nhỏ cổ truyền, sản xuất những mặt hàng tiêu thụ cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày trong các gia đình. Hàng sản xuất ra tiêu thụ ở Hà Nội chỉ là một phần còn thì bán cất về các tỉnh địa phương. Tiểu chủ, thợ thủ công giữ lại rất lâu những tập quán sinh hoạt kiểu phường hội cổ truyền của xã hội phong kiến.

 Khu phố buôn bán phía trong đê cũ có từ khi thành Thăng Long được xây dựng từ thế kỷ 11, nhưng chắc chắn là những công trình xây dựng từ ban đầu (thế kỷ 11 - 14), khu khu vực này đã thay đổi nhiều, nếu không phải là hoàn toàn làm lại trong thời Hậu Lê (thế kỷ 16 - 18), ngay cả đình chùa cũng chịu nhiều phen tu sửa không còn hình dáng cũ nữa.

 Những nhà cửa xây dựng trong thời thuộc Pháp xen kẽ với những nhà kiểu cổ Việt Nam trong các đường phố cũ này là những mảnh vải hoa vá loang lổ lên chiếc áo cổ vải ta kiểu dân tộc.

 Khu vực cư dân giáp Thành là đất thổ cư lâu đời nên về địa hình, ngoài con sông Tô Lịch và con hào cạnh tường thành, thì bên trong các đường phố không còn những hồ ao lưu lại như ở bên khu vực giáp bờ sông hình thành sau. Do thế mà bên trong các đường phố lớn ở đây, khác với khu bên ngoài ở phía đông con đê cũ (tức con đường từ Hàng Than xuống đến bờ bắc Hồ Gươm), ít thấy có những xóm nhỏ với cái cảnh bùn lầy nước đọng trở thành những khu nhà ổ chuột của thành phố.

 Nhìn trên bản đồ Hà Nội từ sau 1920 thì thấy tại khu giáp Thành này rõ nét phố Hàng Gà là ranh giới của hai hệ thống kiến trúc: một bên nhà cửa kín đặc cả mặt trong và mặt ngoài, nhà mặt đường thì thấp nhỏ, hẹp bề ngang; cũng có những ngôi nhà lớn xây kiểu hiện đại hai ba tầng rộng lòng nhưng thiếu sân vườn, là những nhà xây dựng về sau thường gộp đất nhiều nhà cũ đã bị phá đi; đó là khu phố cũ có sẵn từ mấy thế kỷ trước. Một bên thì hầu hết là nhà xây dựng kiểu mới, bề thế, những nhà có vườn sân rộng, làm trên khu đất trống do phá tường thành và lấp hào mà có. Những ngôi nhà có gác hàng dãy dài nhiều gian để cho thuê ở phố Henri d'Orléans (Phùng Hưng) cũng cao rộng đẹp đẽ vì theo kiểu mới. Những nhà đó đều xây sau 1920.

 Về giá trị lịch sử, khu Đông Thành là nơi đã diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt giữa bộ đội và tự vệ của ta với quân đội xâm lược Pháp hung hãn hồi đầu kháng chiến trong thủ đô (1946 - 1947). Quân và dân Liên khu I đã anh dũng kìm chân địch trong thành phố suốt hai tháng. Nhà cửa nhiều đường phố trong khu vực này bị tàn phá nặng nề, nhất là ở mấy phố như Hàng Thiếc, Bát Đàn, Hàng Gà là đường giáp ranh một bên là Thành có địch đóng một bên là khu phố ta giữ. Những ngôi nhà nào bị phá huỷ hoặc hư hỏng, đều được sửa chữa và xây lại trong thời tạm chiếm 1948 - 1954.

                              ĐẤT TÂN KHAI

THÔN TÂN KHAI

Thôn Tân Khai, còn có tên gọi là Tân Lập, là một thôn thành lập trong thời gian sau, so với những thôn phường khác của Cửa Đông.

Đình thôn Tân Khai nay ở số 44 phố Hàng Vải còn giữ được một tấm bia đá, dựng năm Canh Tý 1840 (Minh Mạng 21) trong đó có đoạn ghi lại lịch sử thành lập thôn và việc dựng đình làng (1)

 Thôn Tân Khai ở sát hào và tường thành. Nơi đây sau khi thành Thăng Long được đắp lại năm Gia Long 3 (Giáp Tý 1804), là một bãi đất trống. Sao lại có bãi đất trống này? Văn bia có nói: trước kia khi chưa đắp lại thành, chỗ này là nơi dựng dinh thự quan lại và trại quân lính, tức là đất nằm trong nội thành Thăng Long thời Hậu Lê; triều Nguyễn sai đắp lại thành trì quy mô nhỏ hơn trước, lùi tường thành về phía Tây và bỏ lại quãng đất trống đó.

 Bãi đất trống lại ở sát khu phố phường buôn bán, nhất là liền với chợ Đông Thành, nên chỉ ít lâu sau đã có nhiều người đến làm nhà ở tj tập thành xóm. Năm Minh Mạng 3 (Nhâm Ngọ 1822) xóm mói này được chính quyền công nhận là một thôn, thôn mới lập lấy tên là Tân Khai (cũng gọi là Tân Lập), thuộc tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương. Được công nhận là thôn riêng, tức là được bầu lấy lý trưởng kỳ hào của mình, song phải lập sổ đinh, chịu tạp dịch đối với quan trên.

 Địa giới của Tân Khai có lẽ khá rộng, từ ngang cửa Chính Đông đến ngang pháo đài múi khế góc đông bắc thành trì, chiều dài trên nửa cây số. Đất thôn Tân Khai chia làm năm giáp. Đình của thôn vẫn ở chỗ hiện tại, thờ ba vị thần Bạch Mã, Tô Lịch và Thiết Lâm (Thiết Lâm là thần Rừng Lim tương tryền là ở mé tây Hồ Tây). Ban đầu đình còn sơ sài (lời trong văn bia) có lẽ chỉ là nhà gỗ lợp tranh, vì làng mới thành lập, dân còn nghèo túng.

 Người dân làng Tân Khai làm các nghề thủ công nhỏ như thợ rèn, đan lát, và buôn bán vặt quanh các chợ; nhà cửa hầu hết là nhà tranh nên nhiều lần đã bị cháy - ngay trong phố cũng không tránh được tai nạn này - có hai lần cháy lớn (năm Mậu Tý 1828 và năm Đinh Dậu 1837), theo như bia ghi lại, đã đốt trụi mấy xóm, đình cũng bị cháy. Sau vụ hoả tai, các xóm lại được nhanh chóng xây dựng lại; đình Tân Khai được "xây lại to và cao ráo hơn, có ba gian mái lợp ngói, trông về hướng nam, bên ngoài có tường gạch bao bọc" (1)

 Chùa của thôn Tân Khai được xây dựng cũng rất sớm, có thể ngang với thời gian làm đình và xây ngay bên cạnh đình. Chùa thôn có tên là chùa Thái Cam, một trong nhiều ngôi chùa lớn của Hà Nội (2).

 Dân chung quanh đình Tân Khai và chùa Thái Cam đã duy trì được sự sinh hoạt tập đoàn thôn xóm. Làng có lý trưởng, đến thời thuộc Pháp gọi là thiên hộ. Người làng vẫn tế thần lễ Phật, tổ chức đình đám rước xách hàng năm, họ vẫn giữ đủ các tục lệ hương ẩm cho mãi đến 1945. Cũng như ở các khu phố khác, năm nào dân phố cũng tổ chức lễ cầu mát đầu mùa hè, đàn tràng rất lớn, và lễ cúng Phật rằm tháng 7, có chạy đàn, lễ phả độ, dân phố rất sùng lễ bái.

 Đất Tân Khai mở mang rất chậm. Năm 1896, tường thành bị phá, hào bị lấp rồi, đất của thôn lại vươn rộng thêm ra từ phố Hàng Gà đến chỗ thành cũ bị san bằng. Năm 1900, trên nền chân tường thành người ta xây một cầu đá dài cao dần để dẫn xe lửa lên cầu sắt qua sông Hôngười. Dọc cầy xây thành phố dự định mở một đường phố đi qua khu đất trống, trên bản đồ ghi là phố Henri d'Orleans (nay là hố Phùng Hưng), nhưng phải đến hai mươi năm sau đường phố đó mới dần dần đông nhà cửa.

 Đầu thập niên hai mươi, phố Orléans (Phùng Hưng) mới có nhà xây ở ba chỗ: - một đoạn ngắn đầu phía bắc nối với phố Carnot (Phan Đình Phùng), đã sớm có dăm ngôi nhà kiểu villa và dãy nhà hai tầng có cùng tính chất với khu vực chung quanh Vườn hoa Hàng Đậu. Đoạn giữa phố, chỗ ngã năm gặp hai con đường Cửa Đông - Đường Thành cũng sớm có những ngôi nhà lớn xây dựng đồng thời với những nhà của phố Cửa Đông là hai cửa hàng thực phâmr của Hoa Kiều và ngôi trường Tiểu học của Pháp Việt Cửa Đông. Và một đoạn ngắn phía nam nối với phố Hàng Bông cũng sớm có một dãy nhà hai tầng nhiều gian là trụ sở và kho tàng của Hãng xuất nhập khẩu bông vải sợi Demange.

 Ngoài ba chỗ đó ra dọc đường phố Orléans (Phùng Hưng) theo cạnh cầu xây đường xe lửa, còn lại nhiều quãng đất trống chưa xây dựng, và chỗ sau chợ Hàng Da là một vườn trồng rau và hoa, chiếm một khoảng đất rộng, có ao chứa nước tưới, cùng với chỗ gần đến nhà Demange ở đầu phía nam là một bãi đất trũng luôn luôn ngập nước lầy lội đầy cỏ lác làm nơi trú ngụ của ếch nhái và chỗ dân phố bên trong đổ rác.

 Trên đất thôn Tân Khai cũ, như vậy có những phố Hàng Gà, Hàng Cót đã hình thành từ trước, rồi sau đến đường phố Orléans (Phùng Hưng) đang hình thành. Có đường phố Orléans, tất nhiên mấy đường phố trong khu buôn bán tận cùng ở Hàng Gà sẽ được nối với con đường mới mở trên đất Tân Khai, đó là những đoạn ngắn ở đầu phía tây hai phố Rue du Cuivre (nay là Hàng Mã) và Hàng Vải; những xóm nhà có sẵn bên trong cũng cải tạo theo quy hoạch thành phố, đó là phố Nhà Hoả, phố Cổng Đục, phố Lò Rèn, phố Hàng Chai.

 Nhìn trên bản đồ địa chính hoặc la cà ở nơi đây, ta sẽ thấy điểm nổi bật trên đất Tân Khai có hai khu vực cư dân không giống nhau mà đường ranh giới là phố Hàng Gà. Nửa bên phía đông thuộc hệ thống kiến trúc phố phường cổ của Hà Nội, nhà cửa nhỏ hẹp thấp làm sát bên nhau, được xây dựng từ lâu; nửa bên phía tây thuộc hệ thống kiến trúc mới của thời kỳ Pháp thuộc, đường phố to rộng phong quang hơn, nhà xây cái thì kiểu villa, cái nào liền dãy thì cũng là nhà có gác cao ráo, rộng thoáng có vẻ hiện đại.

         KHU VỰC BÊN TRÁI CỬA CHÍNH ĐÔNG

DỌC BỜ MỘT KHÚC SÔNG TÔ LỊCH CŨ

 

PHÍA TẢ CỬA CHÍNH ĐÔNG

Bên trái cửa Chính Đông là một khu vực hầu hết nằm ở hai bên bờ khúc sông Tô Lịch cũ, kể từ chỗ cửa Đông Hoa (nay là ngã tư Hàng Đường, Hàng Cá) trên con đê Lý Trần cũ, đến sát con hào phía đông thành trì.

Khu vực đó bao gồm các thôn phường:

- Đồng Thuận (nay là phố Hàng Cá - Chả Cá);

- Đông Hoa Môn (nay là phố Lãn Ông - Chả Cá - Hàng Đường);

- Yên Phú (phố Hàng Mã - Hàng Đồng);

- Vĩnh Trù và Phủ Từ (phố Hàng Lược).

             Theo bản đồ Hà Nội năm 1831, những con đường giao thông có sẵn qua thôn Đồng Thuận (phố Hàng Cót), đến bờ sông Tô Lịch thì có hai lối đi về phía nam; một lối theo dọc bờ sông phía bắc, tức là qua các thôn Phủ Từ, Hoa Đán, đến Vĩnh Thái (phố Hàng Lược); một lối từ thôn Đồng Thuận, qua sông đi thẳng xuống cửa Chính Đông (con đường Hàng Cót - Hàng Gà). Còn thêm một con đường nữa từ bờ Tô Lịch ngang thôn Hoa Đán xuống phía sau chợ Đông Thành (phố Hàng Rươi - Hàng Đồng) đến Hữu Đông Môn (phố Bát Sứ). nhiều con đường khác theo hướng từ tây sang đông là: từ Tân Khai - Vĩnh Thái đến Đông Hà (phố Hàng Mã - Hàng Chiếu); - từ Tân Khai - Đồng Thuận đến Đông Hoa Môn (Phố Lò Rèn- Hàng Cá); - từ Yên Phú đến Đông Hoa (Hàng Vải - phố Lãn Ông).

 Đến ngày nay chúng ta còn tưởng tượng được cái quang cảnh thuyền bè đi lại trên con sông Tô Lịch khi lòng sông còn rộng, hai bên bờ phố xá buôn bán sầm uất. Chỉ có một đoạn sông ngắn mà trên bờ có đến bốn mươi ngôi đền miếu đình chùa và mấy chỗ họp chợ. Tuy nhiên thuyền buôn từ cửa sông Tô Lịch nối với sông Hồng chắc cũng chỉ lên được đến ngang Vĩnh Trù - Phủ Từ thôi, vì từ đây vào nữa là hào giáp tường thành, không còn là đường giao thông cho thuyền bè nữa.

 Những thần thánh thờ ở chung quanh đây có Lý Tiến là người địa phương ngoài ra có những thần thánh do lái buôn thuyền mành Nghệ Tĩnh đưa ra.

 Đình Phủ Từ, số 19 Hàng Lược thờ Tứ vị Hồng Nương, đền chính ở Cửa Cồn, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An.

 Đình Vĩnh Trù, số 59 Hàng Lược, cũng thờ Tứ vị Hồng Nương. Thuyền mành Nghệ Tĩnh cất hàng theo đường bể ra, trên thuyền lập bàn thờ cầu được đi đường bình yên qua cơn sóng gió; đậu ở bến Hà Nội, họ lập bàn thờ ở bên sông (1).

 Đình Yên Phú, trông ra hai mặt phố, Hàng Rươi số 17 và Hàng Mã số 56.

 Đình Ngũ Giáp, số 52 Hàng Cót, có bài vị thờ Lý Tiến. Đền Tam Phủ, số 54 Hàng Cót, thờ Liễu Hạnh và Chư vị.

 Di tích cũ ở khu vực này có Trại Tiên Ngư, tương truyền là xóm cũ đã sinh ra Lý Tiến, ở đây đất ven sông có nghề làm cá. Dân làng dựng đình thờ Lý Tiến ở trên nền cũ nhà ông. Đình đó đã bị phá để mở rộng phố, chỉ còn sót lại hậu cung (số 27 Hàng Cá). Đình thôn Đồng Thuận ở góc phố Chả Cá và Hàng Cá cũng mới được tu sửa lại.

 Sông Tô Lịch sang đến thế kỷ 19 bị cạn dần rồi năm 1896 bị lấp hẳn đồng thời với con hào cạnh tường thành. Tuy nhiên quãng Hàng Lược vẫn còn cái cống lớn có cầu xây gạch bắc qua nên quãng phố này nhân dân ta vẫn gọi là Cống Chéo Hàng Lược, và người Pháp đặt tên là phố sông Tô Lịch.

 Xét vị trí của khu vực này, một bên là thành trì, khu phía đông Thành nội tập trung các dinh thự ty tào, một bên là mấy ngôi chợ, cong ở mỗi thời kỳ có mang một tính chất khác, đánh dấu sự sinh hoạt của thời kỳ đó. Đầu đời Nguyễn, tường thành cao, hào rộng, khoảng đất thôn Tân Khai chưa phải là khu cư dân quan trọng, đó chỉ là chỗ ở của các phường thợ thủ công nghèo, buôn bán nhỏ. Cuối thế kỷ 19, thời kỳ đầu thuộc Pháp, tường thành bị san bằng, hào bị lấp, khu quân sự ở phía đông trong Thành mở thông ra phía này; đường phố vạch ra tiện cho việc đi lại giao lưu với khu phố buôn bán cổ; mấy ngôi chợ Đông Thành, Cửa Đông tập trung cả về Đồng Xuân. Trong khu vực này, ngoài con đường giao thông cũ từ Cửa Bắc sang Cửa Đông đi quanh bên ngoài tường thành, đến nay thêm nhiều đường phố từ trong Thành ra. Đây là một khu vực mà sinh hoạt đã thay đổi do nằm giữa ba điểm và mang yếu tố quang cảnh nơi đâ: một bên là thành trong có quân đội Pháp tức lính Tây, lính Khố Đỏ đóng, một bên là khu vực gần ngôi chợ lớn nhất của Hà Nội, và cách đó không xa là Bãi Cát bờ sông, nơi trú ngụ của dân nghèo tứ chiếng tụ tập thành xóm cư dân tồi tàn. Do đó dân phố phần đông sống về cái nghề buôn bán và phục vụ cho binh lính trong Thành, sống về buôn bán trong chợ Đồng Xuân, quang cảnh sống phức tạp thêm vì xóm dân nghèo Bãi Cát bờ sông.

           BỜ PHÍA NAM SÔNG TÔ LỊCH CŨ

                                               THÔN YÊN PHÚ

(Rue du Cuivrre, nay là phố Hàng Mã)

Thôn Yên Phú (thuộc tổng Hậu Túc, sau đổi là tổng Đồng Xuân) ở bên bờ phía nam sông Tô Lịch, và thôn Vĩnh Thái - sau đổi là Vĩnh Hanh - thì ở bên bờ phía bắc. Đình làng Yên Phú ở góc hai phố Hàng Rươi và Hàng Mã (số nhà 56); đình làng Vĩnh Hanh ở số nhà 19 Hàng Đường. Như vậy, phố Hàng Mã hiện nay dài ba trăm năm mươi mét, đi suốt từ ngã tư Hàng Đường đến phố Phùng Hưng, đất thôn cũ Vĩnh Hanh và Yên Phú, hai thôn xưa cách nhau bằng con sông Tô Lịch, sông đã bị lấp nên hai đoạn phố ở hai bên bờ đối diện tưởng như vẫn liền với nhau. Vì thế mà thời thuộc Pháp, đường phố đó được đặt một tên chung là Rue du Cuivre (Hàng Đồng), cũng như hiện nay nó là phố Hàng Mã. Tuy nhiên sự phân biệt giữa hai đoạn phố Hàng Mã đó vẫn còn.

 Đoạn phố phía đông trên đất thôn cũ Vĩnh Hạnh vẫn có tên gọi thông thường là phố Hàng Mã; dân phố ở đây một số gia đình là người làng Tân Khai (Hàng Sắt và Cổng Đục) dọn đến mở cửa hàng bán giấy và đồ mã nhỏ; đó là đồ hàng giấy để trang trí (hoa giấy, đèn giấy các kiểu...) và đồ mã để cúng lễ (mũ thổ thần, mũ ông Táo, vàng giấy...). Đồ mã nhỏ thì làm và bán ở đây, còn đồ mã lớn dùng cho tang lễ (minh tinh nhà táng), hoặc đám làm chay, đám lễ cầu mát (voi ngựa, hình thiên lôi, la sát, thuyền rồng, lính tráng), hoặc đám mã (đồ vật đốt cho hồn người chết nhân dịp Rằm tháng 7) thì người ta thửa ở cửa hàng mã phố Mã Mây.

 Khi nghề làm đồ hàng mã ở Mã Mây tàn (vì đồ mã đám ma hết thời và cúng lễ dùng đồ mã cũng đơn giản đi) thì nghề làm đồ mã ở Hàng Mã cũng không hơn trước được, các cửa hàng trong phố mạnh về bán các loại giấy màu, giấy trắng mộc và làm đèn giấy, đồ giấy trang trí; đồ mã cúng lễ chỉ sản xuất theo tháng: lễ cầu mát đầu hè, mã tiết Rằm tháng bảy, đồ chơi tết Trung thu về mũ ngựa giấy ông Táo tháng Chạp. Gần chợ Đồng Xuân, việc buôn bán thịnh vượng, nhà cửa cũ phố Hàng Mã được cải tạo theo kiểu mới, nhà làm từ xưa kiểu cổ còn sót lại rất ít (số 6 - số 16 - số 17 - số 25) riêng chỗ ngã năm đầu phố Chả Cá - Hàng Đồng, mấy căn nhà cổ lụp xụp vẫn cứ tồn tại (số 33 - 35).

  đoạn phía tây mang tên cũ Rue du Cuivre thời Pháp trên đất làng Yên Phú ở bên bờ nam sông Tô Lịch, gần mấy phố Lò Rèn, Hàng Sắt, Hàng Khoá (Hàng Đồng) thì lại tập trung nhiều cửa hàng bán đồ dùng bằng đồng như mâm, nồi, sanh, siêu đun nước, đỉnh, hạc, cây nến, lọ hoa, bát hương... những người buôn bán đồ đồng hầu hết là người lành Cầu Nôm, tức là làng Đề Cầu huyện Thuận Thành, Bắc Ninh, những người họ Phùng, họ Đỗ. Họ làm ăn giàu có, về làng xây đình riêng của mấy họ có người buôn bán ở Hà Nội, do mâu thuẫn với bọn hào lý trong làng.? Hàng Mã còn ngôi đình Yên Phú, tức là còn tổ chức sinh hoạt thôn xóm cũ có việc làng, có tế lễ, thì người nguyên cư và người ngụ cư cùng dự. Những người ngụ cư không nhiều, ở nơi khác đến, đa số chồng là công chức, vợ có sạp hàng đồ sắt trong chợ Đồng Xuân.

 Đồ đồng bày bán ở phố này là hàng đúc sẵn đặt làm tại các lò đúc của phường Ngũ Xã. Cửa hàng đồ đồng, đồ sắt có: Phùng Văn Mậu (số 61) - Đỗ Văn Tài (số 43) - Trinh Tường (số 496) - Trần Đăng Long (số 79) - Tiến Thiết Đỗ Văn Hiền (số 66).

 Trước năm 1945 phố Hàng Đồng (Rue du Cuivre) được người người Hà Nội tìm đến vì có mấy cửa hàng ăn đặc biệt là cửa hàng "Thịt chó Hàng Đồng", ở chỗ góc phố Hàng Lược, nấu ngon được tiếng và đông khách, hiệu phở Ba Ngói (người Vĩnh Tuy đã nấu bếp cho Tây).

 Về mặt xây dựng, đoạn phố này bán đồ đồng là những cửa hàng có nhiều vốn liếng, nên nhà cửa được sớm cải tạo, kể cả những nhà cao tầng kiểu cũ; nhiều nhà được xây lại rộng lớn; số lượng nhà cổ nhỏ bé còn lại rất ít. Hai ngôi nhà ba tầng lớn là làm về sau trong thời tạm chiến: nhà số 75 hiệu Thuận Lợi (đất mua lại của Trương Gia Hội), nhà số 70 có đất rộng bảy trăm mét vuông có sẵn ngôi nhà hai tầng cũ bị