|
CỬA TÂY THÀNH THĂNG LONG
CỬA QUẢNG PHÚC
Khu vực cửa Tây thành Thăng Long xưa, tức là khu vực
tổng nội huyện Vĩnh Thuận tỉnh Hà Nội cũ thế kỷ 19. Đó
là một khu vực hình tứ giác lệch, có đường ranh giới như
sau:
- Ở phía bắc là con đường đê cao, có tên thông thường là
Đường Thành do tương truyền là tường thành Đại La xưa;
thời Pháp gọi là Đê Paroo (Digue Parreau) tức coi nó là
một con đê ngăn nước sông Hồng và Hồ Tây, ngày nay là
đường Hoàng Hoa Thám. Con đường cao đó đi men theo bờ
nam Hồ Tây, từ đầu đường Cổ Ngư đến chợ Bưởi song song
với đường làng ThụyKhuê và sông Tô Lịch thấp hơn, dưới
chân đê..
-Ở phía Tây, vẫn con đường cao đó đi theo dọc bờ sông Tô
Lịch từ Chợ Bưởi đến Cầu Giấy; con đường này tiếp tục đi
về phía tây nam. Và ở chỗ Cầu Giấy lại có một con đường
thành cũ đi chéo sang phía Ngọc Hà, và một con đường đê
cũ nữa từ Cầu Giấy nối vơi Ô Chợ Dừa, đó là cạnh phía
nam của hình tứ giác.
- Ở phía đông là phố Hàng Bột.
Khu Cửa Tây thành Thăng Long cũ này có những đoạn tường
thành đất cũ cao, và có rất nhiều đầm hồ đa số khá lớn,
hình dài, thường nằm theo chiều dọc các con đường cái
cao làm ta nghĩ đến trước đây người ta đã đấu đất ở đấy
vực lên đắp đường. Vả lại mặt đất vùng nam Hồ Tây thấp,
dốc thoai thoải về phía nam, có ít mô đất cao, khác với
vùng bắc Hồ Tây bên kia sông Hồng (Đông Anh) có nhiều mô
cao và mặt đất cũng cao hơn bên này.
Sao lại có ý kiến cho là mấy con đường đất cao kể trên
là di tích tường thành cổ? Ta hãy đi ngược dòng thời
gian từ thế kỷ thứ 7, tức là khi Khâu Hoà là Tổng Quản
của nhà Đường đắp Tử Thành (thành nhỏ) ở huyện lỵ Tống
Bình trên bờ sông Tô Lịch, một toà thành đất nhỏ chu vi
có 1674 mét.
Tử Thành nằm ở chỗ nào trong khu vực này? Chưa khảo cứu
ra. Năm 757, kinh lược sứ Trương Bá Nghi đắp La Thành
trên cơ sở Tử Thành nhưng rộng hơn; La Thành được đắp
lại vào những năm 801 và 808; đến đời Trương Chu thì La
Thành đã có quy mô lớn, nó cao 6, 82 mét có ba cổng
Đông, Tây và Nam mỗi cổng có ba hoặc năm cửa. Đến đô hộ
Cao Biền thì thành Đại La đã hoàn chỉnh; chu vi 6, 130
kilômét, tường thành cao 8 mét (nếu kể cả mũ tường thì
là 9, 50 mét), có năm môn lâu là 55 vọng lâu.
Vì thế người ta có ý kiến là dấu vết tường thành còn
lại, chỗ thì liền một mạch, chỗ thì cách đoạn vì đã bị
phá huỷ, là tường thành cũ Đại La cộng với tường thành -
nói đúng ra là luỹ đất - đắp thêm sau này của các triều
Lý - Trần và Mạc, và những con đê ngăn nước lũ sông
Hồng.
Nhà Lý dời đô từ Hoa Lưu ra Đại La và đổi tên là Thăng
Long, thành Thăng Long là thành Đại La cũ sửa lại hay là
một thành trì đắp mới? Chưa rõ. Cả đến địa điểm thành
Thăng Long của nhà Lý cũng còn gây ra nhiều giải thuyết
để tranh luận.
Chỉ biết là khu vực Tổng Nội của huyện Vĩnh Thuận đây là
khu Cửa Tây thành Thăng Long, tên chữ là cửa Quảng Phúc.
Vậy thì có thể biết được chỗ nào là phạm vi nội thành
Đại La, và chỗ nào là phạm vi nội thành Thăng Long của
Lý - Trần không?
Dấu vết cũ còn lưu lại ở đây thì rất nhiều.
Núi Cung, còn gọi là Cung Thái Hoà, hay núi Voi - Núi
Trúc - Núi Cột Cờ - Núi Bò. Đó là những tên gọi lên
những công trình đang xây dựng bên ngoài hay nơi được sử
dụng bên trong hoàng thành?
Những hồ hình dài, thông với nhau như những con đường
giao thông thuỷ bằng thuyền, vạch thẳng và theo hướng
Bắc - Nam hay đông - tây; đó là những dòng nước để vương
công đại thần giải trí du ngoạn hay là để phục vụ hoạt
động kinh tế? Có lẽ cả hai.
Nhất là những chùa, cái thì đã bị san bằng chỉ còn tên
gọi chép trong sách vở cũ, cái thì còn lại di tích, song
hiện nay quang cảnh chùa giống nhau mọi chùa khác sau
nhiều lần trùng tu. Chùa Chân Giáo mà Lý Huệ Tông bỏ
ngôi ra đây tu, ở trên núi Voi (Nhà máy Rượu bia bây
giờ) nay còn quả chuông của chùa Chân Giáo hiện treo ở
tam quan chùa Bát Tháp, chùa có ghi tên trại Vạn Bảo.
Cửa Thành Tây Dương tương truyền là ở chỗ Cầu Giấy, bên
ngoài có cầu Tây Dương xây bắc qua sông Tô Lịch.
Sử cũ đã chép về đời Lý có nói là cửa Quảng Phúc, phía
trước có bãi rộng, triều đình hay mở hội tại đó mỗi khi
có làm lễ sinh nhật nhà vua. Khu chùa Diên Hựu (Chùa Một
Cột) dựng lên để cầu phúc cho nhà vua thì ở vào phía tây
nam so với Hoàng Thành và cửa Quảng Phúc.
Trong khu vực Tổng Nội, còn nhiều vết tích dinh thự đền
đài qua những cổ vật đào được (gạch ngói, đồ gốm, đồ
gỗ...) khiến các nhà khảo cổ học nghĩ đến Hoàng thành
của kinh đô Thăng Long nhà Lý lúc đầu mở rộng ra đến tận
đây, di chỉ lại còn quanh quẩn khu vực này nữa. Không
thì ít nhất chỗ này cũng có nhiều cung điện phủ đệ của
các hoàng tử, công chúa đã trưởng thành - theo lệ của
nhà Lý họ không được phép ở lại trong Cấm Thành - ra đây
ở riêng, học tập và làm việc, có dinh cơ riêng.
Suốt chín thế kỷ - ngót một nghìn năm - lịch sử thành
Thăng Long, Cửa Tây không được nhắc đến mấy; phải chăng
về phòng thủ phía này ít quan trọng hơn Cửa Đông và Cửa
Bắc, và về mặt kinh tế, nơi đây chỉ là một khu nông
nghiệp của kinh thành; phố sá buôn bán không phát triển
về hướng này. Về cơ cấu hành chính, những nhóm cư dân
vẫn mang tên là trại có từ thời Lý - Trần.
Khu "Thập tam trại" tương truyền có từ thời Lý. Thần phả
đình Vĩnh Phúc Thượng, còn gọi là đình Thái Tể, có ghi
lại lịch sử khai khẩn trong khu vực này. Đình thờ một vị
thần họ Hoàng gốc ở làng Lệ Mật, bên Gia Lâm. Người họ
Hoàng này có công chiêu tập một số gia đình người cùng
làng sang lập nghiệp ở khu vực phía Tây thành Thăng
Long, mở ra mười ba trại chuyên nghề nông.
Người họ Hoàng làng Lệ Mật làm nghề chài lưới có công
vớt được xác một công chúa nhà Lý đi chơi thuyền trên
sông Thiên Đức (sông Đuống), thuyền đắm, bị chết đuối.
Nhà vua muốn thưởng công, ông không nhận quan tước mà
chỉ xin được đưa dân nghèo ở làng Lệ Mật sang khai khẩn
làm ăn ở vùng đất phía Cửa Tây kinh thành. Người làng
Lệ Mật làm ăn ngày một đông đảo, thêm cả người những
làng chung quanh Lệ Mật nữa, phát triển thành mười ba
trại.
Sự kiện này có thấy chép trong sách "Lịch triều hiến
chương" của Phan Huy Chú. Và theo phong tục địa phương,
ngày 23 tháng 3 âm lịch là ngày giỗ thánh làng Lệ Mật,
các phụ lão Vĩnh Phúc, Liêu Giai vẫn đem lễ vật qua sông
về Lệ Mật lễ đình làng, và còn có chuyện "hôm đó cá Hồ
Tây bay về giếng trước đình Lệ Mật để dân làng đánh lên
làm cỗ cá gỏi cúng thần. Ca dao Hà Nội còn truyền:
Đến ngày hai ba tháng ba
Dân trại ta vượt Nhị Hà thăm quê
Kinh quán cựu quân đề huề
Hồ Tây cá nhảy đi về trong mây
Ca dao Hà Nội
Dân mười ba trại còn giữ nhiều truyền thống nghề nghiệp
của quê cũ Lệ Mật là làng nghề làm thuê đi tìm lá thuốc
nam và nghề bắt rắn.? Tổng Nội chỉ riêng làng Đại Yên
trồng cây lấy lá làm thuốc nam, các làng khác không
trồng mà đi thuê tìm hoặc buôn lại của người khác.
Truyền thuyết thì nói vậy, song sự thực thì thế nào?
Nghiên cứu kỹ chi tiết về các xã của Tổng Nội, ta thấy
có những điểm đáng chú ý sau đây:
- Gọi là "Thập tam trại" nhưng đến đầu thế kỷ 19, sách
địa lý cũ chỉ ghi Tổng Nội huyện Vĩnh Thuận có mười thôn
trại kể cả Hào Nam (sau là phường Thịnh Hào); như vậy
chỉ có chín thôn trại ở trong khu vực giữa hai con đường
Đường Thành và Giảng Võ. Tên thôn Vĩnh Phúc ở trong khu
vực này cũng chỉ mới có vào cuối thế kỷ 19 khi trại Cống
Yên tách thành ba thôn.
- Trong số các họ cư trú ở bên trong Tổng Nội, có những
gia đình gốc Lệ Mật (họ Hoàng) sang đây từ đầu thời Lý
(thế kỷ 11) à có những gia đình gốc từ Thanh Hoá ra
Thăng Long vào thời Hậu Lê. Đó là những con cháu quan
lại, quân lính theo vua Lê, Chúa Trịnh ra và lập nghiệp
ở đây (họ Phạm, họ Trương, họ Lê...)
- Vì thế chỉ có hai thôn Vĩnh Phúc Thượng (nơi có lăng
Hoàng Lệ Mật) và Liễu Giai thời Hoàng Lệ Mật làm thành
hoàng; năm thôn khác có thành hoàng riêng (Ngọc Hà, Hữu
Tiệp thời Huyền Tiên Đắc Đế, có từ đời Lý - Cống Yên,
Vạn Bảo thờ Nguyễn Quốc Hồng, tướng nhà Trần - Giảng Võ
thờ Châu Nương, cũng là người tham gia kháng chiến chống
quân Nguyên).
- Thần Linh Lang có đền ở Thủ Lệ được coi như thành
hoàng cung của Tổng Nội, được thờ một mình ở sáu thôn và
thời ghép với Phùng Hưng và Hoàng Lệ Mật ở Kim Mã, Ngọc
Khánh.
Như vậy, rõ rệt là về thời Lý, khu vực bên trong luỹ cũ,
chỗ phía tây thành Đại La của quan lại nhà Đường, dân cư
còn thưa thớt, còn đất hoang nên người họ Hoàng ở Lệ Mật
xin đến cư trú khai khẩn, lập trại rải rác trong khu vực
bên ngoài những chỗ các ông hoàng, bà chúa cắm làm dinh
thự. Ta không thấy sử sách nói đến dân Cơ Xá ở bên nửa
phía đông bị dời đi ở chỗ khác để lấy đất xây thành
Thăng Long, số còn lại bao nhiêu và ở đâu? Và từ thế kỷ
16 - 17 đời Hậu Lê trở đi, chỗ đất gọi là "Thập tam
trại" mới đông dân cư do nhiều gia đình ở Thanh Hoá di
cư ra đây sinh sống lập trại ấp, phát triển đông đúc
thành thôn. Họ Phạm người miền trong ra, mâu thuẫn với
người Lệ Mật, đã xây đình riêng thờ Linh Lang, trại Cống
Yên thành hai thôn Cống Trại và Vĩnh Phúc.
Thôn Ngọc Khánh cũng tách khỏi Giảng Võ thành thôn
riêng. Đa số những đình làng ở Tổng Nội, có niên đại xây
cất mới ở cuối thời Hậu Lê - đầu Nguyễn (thế kỷ 18 -
19).
Năm 1804 nhà Nguyễn phá thành Thăng Long cũ của nhà Lê
đắp thành mới. Bên ngoài Cửa Tây, sát bên hào của tường
thành là đồn Hữu Quan của Tổng trán Bắc Thành, chiếm hai
khoảng đất rộng ở hai bên cửa ô Thanh Bảo. Đến năm 1835,
triều đình hạ lệnh bạt thấp tường thành xuống và xây lấp
hai Cửa Tây và Tây nam. Có lẽ vì tác đụng giao thông ít,
vùng nông nghiệp Cửa Tây không quan trọng, và cũng vì lý
do bảo vệ thành, quân lính tỉnh Hà Nội không đóng nhiều
trong và quanh thành như khi còn Tổng trấn Bắc Thành.
Cửa Tây cũng là nơi hẻo lánh nên nhà nước chọn ở phía
này một chỗ làm pháp trường: hàng năm sau kỳ thu thẩm,
người ta đem tù bị án tử hình ra chém ở đây. Pháp trường
là khu đất gần chùa Kim Sơn, chỗ đầu đường Cát Linh và
Kim Mã. Đầu thời Pháp thuộc, chính quyền thực dân vẫn
còn dùng nơi đây làm pháp trường; nhiều chiến sĩ nghĩa
quân của phong trào kháng chiến chống Pháp đã bị hành
hình ở đây.
Cũng vì những lý do trên nên sông Tô Lịch chỉ có khúc
cửa sông, chỗ chảy vào sông Hồng là con cảnh trên bến
dưới thuyền vì là khu vực phố sá buôn bán sầm uất; còn
đoạn sông chảy qua Cửa Tây thì lòng sông hẹp dần và cạn,
chỉ còn là một con mương dùng để tưới tiêu cho cánh đồng
chuyên nông nghiệp ở đây suốt đến làng Yên Lãng,
và là chỗ ngâm đập vỏ dó làm giấy làng Hồ Khẩu, Yên
Thái.
Trong thời Pháp thuộc già nửa thế kỷ và mười năm chiến
tranh, cho đến ngày thủ đô giải phóng 1954, Cửa Tây chưa
bao giờ là một trọng điểm của chương trình quy hoạch
thành phố. Cơ cấu hành chính vẫn giữ tổ chức làng xã,
phong tục tập quán nông thôn thay đổi rất ít tuy là vùng
ven nội thành phố. Có mở mang được chút ít cũng mới chỉ
là quãng đầu phố Hàng Đẫy mới xây dựng nhà cửa chưa được
bao lâu, mấy đường phố dự kiến mở vẫn còn nằm trong hồ
sơ.
Sau ngày hoà bình lập lại, thủ đô Hà Nội trên đà xây
dựng, trong những năm 1958 - 1962, chính phủ cộng hoà
dân chủ Việt Nam đã vạch ra một chương trình quy hoạch
đô thị lớn nhằm biến khu Tổng Nội thành khu trung tâm
của thủ đô Hà Nội, trên bãi Quần Ngựa sẽ xây dựng một
toà nhà Quốc hội đồ sộ trông ra Hồ Tây, và chung quanh
Hồ Tây sẽ là một công viên bao la. Nhưng rồi có những
diễn biến chính trị, tình hình tài chính chưa cho phép,
nên rất ít cái mới xuất hiện ở nơi đây, Tổng Nội vẫn là
Tổng Nội; rồi đất trong nội thành chật hẹp, người ta
tràn ra ở nơi đây, từng dãy nhà cửa tạm bợ, nhà kho,
xưởng hợp tác xã thủ công thi nhau mọc lên che kín dần
các chỗ đất bãi, đồng ruộng. Sau những năm bảy mươi,
từng khu lớn nhà tập thể nhiều tầng làm lên ở mấy cái hồ
rộng được lấp bằng. Còn chung quanh Hồ Tây vẫn còn giữ
gần nguyên vẹn cảnh thiên nhiên vùng nông thôn.
CỬA Ô THANH BẢO
BÊN TRONG CỬA Ô
Thời Tự Đức (giữa thế kỷ 19) chúng quanh thành phố Hà
Nội có mười lăm cửa ô, phân bố như sau: mặt Cửa Đông có
sáu cửa ô; ba mặt Cửa Bắc, Cửa Tây và Cửa Nam, mỗi mặt
có ba cửa ô. Ba cửa ô của Cửa Tây là: ô Thuỵ Chương (đầu
đường Cổ Ngư, trước mặt đền Trấn Vũ), ô Thanh bảo (còn
gọi là ô Cầu Giấy) và ô Thịnh Hào (còn gọi là ô Chợ
Dừa). Mặt Cửa Đông có tới sáu cửa ô là vì có nhiều đường
thông ra bến sông Hồng, những con đường ra vào chính cần
được canh phòng kiểm soát, đồng thời nói lên sự đi lại
sầm uất của một khu vực buôn bán.
Cửa ô Thanh Bảo ở phía Cửa Tây thành trì Hà Nội, nằm
trên con đường từ Sơn Tây vào Hà Nội qua Cầu Giấy; một
luỹ đất nối cửa ô Thanh Bảo với con đường Thụy Chương ở
phía bắc và với con đường phía nam đi ô Chợ Dừa. Địa
điểm của ô Thanh Bảo ở ngã ba phố Sơn Tây và Hàng Đẫy
chỗ trước mặt bên ô tô Kim Mã bây giờ. Cửa ô là một cổng
xây còn tồn tại mãi đến năm 1891 mới bị phá bỏ.
Trên bản đồ Hà Nội vẽ năm 1831 và 1873, ta thấy bên
trong cửa ô, về phía bên phải là Đồn binh Hữu Quân, sát
với khu Chùa Một Cột; con đường từ cửa ô vào đi vòng
quanh con hào ngoài tường thành chỗ múi khế góc tây nam,
qua Ninh Thôn (tức là thôn Thanh Ninh) sang thôn Minh
Triết; chỗ này ngoài khu hàng xóm cư dân chiếm một ít
đất, còn thì là đồng ruộng. Phía bên ngoài cửa ô, dọc
con đường Sơn Tây, ven đường phía bắc là một hồ nước
dài, và ven đường phía nam cùng có mấy hồ nước nhỏ hơn,
ruộng lúa và bãi tha ma; một xóm nhỏ nhà cửa lơ thơ làm
sát ngay bên ngoài cửa ô.
Cho đến mãi những năm đầu thế kỷ 20, người đi trên con
đường Sơn Tây, con đường mới trải đá xanh tổn nhổn, mặt
đường nhỏ vừa đủ để xe tay đi, vẫn còn trông thấy một
phong cảnh thoáng đãng, nổi bật trước mặt có khu lăng
Phùng Hưng nằm dưới tán mấy cây cổ thụ và ngôi chùa Kim
Sơn thấp thoáng trong luỹ tre xanh chơ vơ giữa cánh đồng.
Trước khi vạch và hoàn chỉnh đoạn cuối phố Hàng Đẫy, thì
phố Sơn Tây vẫn là lối độc đạo đi từ Cầu Giấy vào thành.
Chung quanh cửa ô còn là đất của ngoại thành nên chưa
phải là đường phố hẳn hoi, những dãy nhà tranh lẫn nhà
ngói nhỏ một tầng lác đác dọc theo mấy con đường nhỏ,
quang cảnh của những xóm ven nội quen mắt.
Cửa ô Thanh Bảo, đó là tên ghi trong bản đồ Hà Nội cũ,
trong giấy tờ công văn thời trước, còn nhân dân lại dùng
một cái tên thông thường để gọi là Ô Cầu Giấy. Tên ô Cầu
Giấy ở đâu ra?
Ô Cầu Giấy khác với Cầu Giấy. Cầu Giấy ở làng Hạ Yên
Quyết (nay là Yên Hòa), chỗ con sông Tô Lịch chảy qua
con đường đi Dịch Vọng, trên sông bắc một chiếc cầu xây,
tương truyền là cầu này có từ đời Lý tên gọi là cầu Tây
Dương, trên cầu có mái ngói che. Làng Hạ Yên Quyết có
nghề làm giấy; thứ giấy thô để phết quạt và gói hàng,
khác với giấy Bưởi mịn để viết và in. Có lò làm giấy tất
nhiên có chợ bán giấy, Cầu Giấy là quán chợ bán giấy,
chợ chắc hẳn họp ở bên cạnh cầu, cũng như giấy Bưởi bán
ở chợ Bưởi. Giấy Kẻ Bưởi còn mang bày bán ở dọc phố Hàng
Giấy những ngày phiên chợ Đông Xuân, thì giấy Yên Quyết
cũng có người đem đến tận cửa đến cửa ô này giao dịch và
gọi là ô Cầu Giấy, lâu ngày thành tên. Khi giấy bản ít
thông dụng thì phố Hàng Giấy và ô Cầu Giấy không còn có
những hàng bày bán giấy nữa, nhưng tên phố Hàng Giấy cửa
ô Cầu Giấy vẫn tồn tại.
THÔN THANH NINH
Bên trong cửa ô Thanh Bảo là một dải đất tương đối rộng,
phần phía bắc nằm giữa một bên là con đường đi Thụy
Chương và một bên là tường thành khi chưa bị phá, tức là
địa phận thôn Khán Xuân thuộc tổng Yên Thành, và hai
thôn Ngọc Hà, Thanh Ninh thuộc Tổng nội, hai tổng đều là
của huyện Vĩnh Thuận. Đầu thế kỷ 19, nhà Nguyễn cho đắp
lại thành Thăng Long quy mô có nhỏ hơn một ít so với
thành Thăng Long thời Hậu Lê, thì có lẽ ba mặt tường
thành phía bắc, phía tây và phía nam không xê xích khác
trước mấy, duy có tường phía Cửa Đông thì lui vào phía
bên trong một quãng để cho thành mới có hình vuông,
thành cũ có hình chữ nhật.
Cuối thế kỷ 19 Hà Nội là thành phố nhượng địa của Pháp,
họ trưng dụng nhiều đất của hai làng Xuân Sơn và Ngọc
Hà; mở mang khu Bách Thảo và Dinh Toàn quyền, như vậy
đất bên trong cửa ô bị lấy hết đến con đường ngày nay là
phố Ngọc Hà; hai di tích lịch sử là Miếu Hội Đồng và
Chùa Một Cột trước ở bên ngoài tường thành nay lọt vào
khu vực nói trên.
Dân của làng Xuân Sơn phải đi sang ở thôn Thanh Ninh bên
cạnh, sát nhập với giáp Yên Biểu và đổi tên Xuân Bỉểu.
Hai thôn Phụ Bảo va Thanh Ninh cũng hợp nhất thành thôn
Thanh Bảo, cửa ô cũng gọi là ô Thanh Bảo. Đình làng Xuân
Biểu hiện ở ngõ số ba, cạnh nhà số 76 đường Sơn Tây,
trong chùa còn một tấm bia đá do Phạm Quý Thích soạn năm
1808.
Phần bên dưới, trong cửa ô chính thôn Thanh Ninh có khu
đất đã trở thành những xóm nhà nhỏ một tầng làm liền khu
đông đặc, có tường bao bên ngoài. Đó là nơi ở của những
gia đình lính khố đỏ đóng ở trong thành, người ta thường
gọi với cái tên Trại Con Gái. Mé trên Trại Con Gái vẫn
tồn tại kho thuốc súng, đó là những ngôi nhà một tầng
làm dựa vào một đoạn tường thành cũ, cho mãi đến những
năm cuối thập niên ba mươi.
Khu vực bên trong ô Thanh Bảo mở mang rất chậm. Một thời
gian dài, ranh giới phía tây bắc thành phố ở chỗ này vẫn
là con đường phố Brière l' Isle (phố Hùng Vương). Những
phố Ngọc Hà, phố Général Mangin (Ông Ích Khiêm), phố
Lebois (Lê Trực) có tên trên bản đồ những năm hai mươi,
ba mươi, nhưng phải đến những năm bốn mươi mới có đường
phố hẳn hoi và xây dựng nhà cửa. Phố Ngọc Hà đường ven
nội giáp Kho thuốc súng và Trại Con Gái có nhà cửa trước
từ năm hai mươi, nhà cửa lụp xụp lộn xộn của một đường
ngoại ô cũng được cải tạo thành một đường phố cùng với
thơì kỳ mở mang đoạn phố cuối Hàng Đẫy và phố Lê Trực.
Phố Général Mangin (nay là phố Ông Ích Khiêm)
Đó là một đoạn đường phố mà mãi đến năm 1970 vẫn còn bị
coi là phố xép; nó ở kẹt vào giữa hai khu cư dân gần như
bị cơ quan quy hoạch thành nhân viên nhà nước), một bên
là Kho thuốc súng (sau cũng là một khu nhà ở tập thể) và
bãi chứa vật liệu của Sở Bưu điện thành phố. Đó là một
đường phố mà hầu như hai bên mặt đường chỉ là những dãy
tường dài không cao; qua tường, người đi chỉ trông thấy
mái ngói lô nhô của những căn nhà thấp hẹp lụp xụp bên
trong, nơi ở của những cán bộ công nhân viên chưa được
phân nhà ở cho tử tế.
Vào khoảng năm 1942, khu nhà Kho thuốc súng được dọn dẹp
sạch sẽ vì nó gần Phủ Toàn quyền, lại ở trên con đường
chính đại lộ Brière de l'Isle (đường Hùng Vương); chỗ
đất đó đem nhường cho Nhà Chung để họ xây dựng một cơ
sở văn hoá, có tên là Câu lạc bộ Phục Hưng (Cerele de
Renaissance). Đó là một khu nhà kiến trúc đẹp, hiện đại
pha kiểu Á Đông; ngôi nhà cầu nguyện có một tháp chuông
nhô lên khỏi nóc bên trên khu vực nhà này.
Song đổi mới chỉ được một chỗ đó, bên cạnh thì vẫn y
nguyên như cũ. Chùa Một Cột vẫn bị che lấp sau những
ngôi nhà một tầng lụp xụp của Trại Con Gái nay thành
doanh trại quân đội. Suốt dọc cả phố Général Mangin chỉ
có mấy số nhà.
Cuối phố về phía bên phải, đằng sau bệnh viện tư của bác
sĩ Doãn (số 1 đường Tây Sơn) có một con đường hẻm đi vào
trong giữa khu đất giáp với chợ Ngọc Hà, trước kia đã dự
kiến mở một đường phố thông sang phố Ngọc Hà, gọi là
Voie 143, nay mang tên là phố Nguyễn Phạm Tuân, một ngõ
dài không quá một trăm năm mươi mét.
Mãi sau đến năm 1975 khi xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí
Minh, một phần phố này mới được khai quang, tức phần nửa
phía Bắc. Ông Ích Khiêm cũng như phố Ngọc Hà trở nên
rộng rãi, sạch sẽ, bên đường có trồng cây bóng mát. Xóm
nhà lụp xụp được phá bỏ, thay bằng một vườn hoa. Chung
quanh Chùa Một Cột cũng được tu sửa; cổng chùa chính nay
đươc quay ra một đường phố lớn.
Phố Lebois (nay là Phố Lê Trực)
Phố Lebois thực ra chỉ là một đoạn đường ngắn và chỉ số
nhà ở một bên mặt đường, và cũng không nhiều, chỉ bốn,
năm số nhà. Mặt phố bên kia đường là bức tường sau Xưởng
Cơ khí Bưu điện từ ngã ba Trần Phú đến đường Nguyễn Thái
Học. Đầu phố có một vườn hoa nhỏ.
Bên mặt đường có nhà của phố Lebois (Lê Trực) kể từ khúc
đầu trông sang vườn hoa và giáp với phố Sơn Tây, chỗ gốc
ngã ba là chùa Thanh Ninh (Am Cây đề) và đình Ngọc
Thanh. Tiếp theo là trụ sở của một hội thiện, hội Phúc
Thiện. Một hội ái hữu của nhân viên Sở Hoả xa chuyên lo
việc tang ma chôn cất cho người trong gia đình hội viên;
hội này có khu nghĩa trang riêng ở Cầu Giấy, cạnh đền
Voi Phục.
Trụ sở hộ Phúc Thiện là một ngôi nhà khá rộng, một tầng,
kiến trúc theo kiểu hiện đại pha nét Á Đông, nhiều mái
chồng nhau, nên cũng có người gọi là nhà "tám mái".
Phần cuối phố, giáp Hàng Đẫy, đối diện với Xưởng Cơ khí
Bưu điện chỉ có hai ngôi nhà kiểu vila không lớn lắm.
Thẳng phố Trần Phú vào là một ngõ, trong là một bãi đất
rộng, lác đác có mấy chiếc nhà nhỏ một tầng. Chỗ này
chưa xây dựng gì lớn vì là đất công, lại có dự kiến mở
dài thêm phố Félix Faure ra đến cửa ô. Nhưng hiện nay
khu đất đó đã trở thành một xí nghiệp, làm thêm nhà cửa
kín bên trong, đó là Xí nghiệp May mặc Lê Trực.
Vườn Lê Trực, gọi là vườn nhưng chỉ là một khoảng đất
trống hình tam giác đều, mỗi cạnh dài khoảng năm mươi
mét, ba cạnh là ba đoạn của mấy phố?ng Ích Khiêm, Sơn
Tây và Lê Trực. Đúng ra đó là khoảng trống để thoáng khí
các phố đông dân gần đó. Người ta cũng gọi chỗ này là
"vườn tập kèn" vì trong thời Pháp thuộc, lính khố đỏ vẫn
ra đây để tập kèn.
Đoạn cuối phố Hàng Đẫy trên đất thôn Thanh Ninh.
Toàn bộ phố Hàng Đẫy (thời Pháp thuộc gọi là Rue
Duvillier) dài ngót hai cây số, từ ngã năm Cửa Nam đến
bên ô tô Kim Mã; phố này đi qua đất cũ của nhiều làng
mạc, đó là nói chỉ ở mặt đường phía nam thôi, còn mặt
đường phía bắc là con hào cũ bị lấp và tường thành mặt
Nam đã bị phá. Đoạn cuối phố Hàng Đẫy từ ngã tư Lê Trực
đến cửa ô là đất cũ thôn Thanh Ninh, bên trong là Thanh
Bảo.
Đường phố Duvillier được quy hoạch rất sớm (khoảng những
năm thập niên mười), dọc theo đường vạch sẵn đã đặt con
đường xe điện bắc suốt chiều dài của phố đi Hà Đông và
đi Cầu Giấy (với dự kiến sẽ bắc dài đến thị xã Sơn Tây).
tuy vậy phố Hàng Đẫy chỉ được mở mang từng đoạn và hoàn
thành khá muộn: đến đầu năm 1945 mà còn có chỗ đất còn
bỏ trống chưa xây dựng hết, nhất là các phố ngang, mé
mặt đường phía nam, còn là những ngõ nhỏ vào các xóm nhà
tranh bên trong.
Hai đoạn phố đầu phía đông giáp Cửa Nam, và đầu phía tây
giáp cửa ô Thanh Bảo có nhà sớm nhất.? đây ta chỉ nói
đến đoạn phía tây bên trong cửa ô Thanh bảo, từ ngã tư
phố Lê Trực đến ngã ba đường Sơn Tây, một đoạn phố không
dài quá trăm rưỡi mét. Ngã tư Lê Trực là chỗ hết địa
phận, những ngôi nhà xuất hiện sớm nhất ở phố Duvillier
(Hàng Đẫy) và Félix Faure (Trần Phú) đó là Bệnh viện
Xanh Pôn, Tu viện
Cacmen, Xưởng Cơ khí Bưu điện và Nhà Bảo Anh.
Chỗ đầu cửa ô Thanh Bảo có thể nói khởi thuỷ là giang
sơn của Năm Giệm.
Năm Giệm xuất thân gia đình nghèo, ra Hà nội kiếm ăn;
lúc đầu làm công cho Sở Xe điện, rồi ra làm nghề thầu:
thầu bán gạch, thầu xây dựng, sau nhờ có người đỡ đầu,
bỏ thầu được việc dọn phân của thành phố, lập ra Công ty
Vệ sinh. Hồi đầu thế kỷ chỗ cửa ô Thanh Bảo còn là nơi
hoang vắng, đầy đầm hồ. Năm Giệm đặt cơ sở làm việc ở
đầu đường Đại La (nay là phố Giảng Võ). Do vậy khúc đầu
phía tây phố Hàng Đẫy, trừ mặt phố bên số lẻ, là bãi đất
không và ruộng của làng, còn thì là đất của Năm Giệm.
Ông ta làm hai dãy nhà hai tầng và mấy nhà gác từ số 116
đến số 130 đầu phố, cho nhân viên bàn giấy và thu ngân
thuê; công nhân vệ sinh thì ở trong khu vực bên đường
Đại La, nhà tranh, nhà tôn họp thành một xóm. Ông ta còn
tiếp tục làm một số ngôi nhà kiểu Villa ở mặt đường phía
nam bên số lẻ của khu vực này trên những miếng đất
trống, mua với giá rẻ, của thành phố, cùng với nhiều chủ
thầu khác như Hàn Điển, Cai Ba Thục, Trương Gia Hội...
vừa để ở, vừa cho thuê.
Như vậy, kể từ ngã tư phố Lê Trực, bên phía chẵn, và từ
quá khu sân vận động Hàng Đẫy, nhà hai bên mặt đường
Hàng Đẫy, trừ mấy khu là Xí nghiệp nhà nước (nhà Tiền
sau là Nhà in Tiến Bộ) còn thì là những nhà kiểu villa
hiện đại của những nhà thầu khoán nói trên xây dựng vào
khoảng những năm 1938 - 1942. Có những ngôi nhà làm
giống nhau cùng kiểu (như hai nhà cùng phố 96 và 98 và
ba ngôi nhà số 165, 167 và 169).
Nhà kiểu villa lan dần sang những phố ngang mới mở, đó
là những nhà của những người buôn bán trên phố, thầu
khoán làm giàu nhanh chóng trong những năm 1935. Nhà cửa
ở Hà nội trở nên hiếm, cho thuê được nhiều tiền, nhất là
những nhà lớn; đất ở những con đường này chia lộ, quá rẻ
nên dễ mua đối với những nhà thầu vì thành phố bán đất
có ra điều kiện phải làm nhà kiểu mới, đẹp, diện tích
rộng có sân và vườn cây.
Có những phố đã được quy hoạch chưa xây dựng có đánh số:
Voie 214 Voie 204 - Voie 203 - phố De Montpezat, nhưng
sau chỉ mới mở mang được hai phố Trịnh Hoài Đức (Voie
214) và Tống Phúc Minh (sau đổi là Lý Văn Phúc Voie
204).
Sân vận động Hàng Đẫy Septo và mấy phố ngắn chung quanh:
Sân vận động được gọi là sân Hàng Đẫy như chính ra ở sát
đường Cát Linh; đường phố này chưa hoàn thành, người đi
xem đá bóng đến bằng xe đạp trên phố Hàng Đẫy nên gọi
thế. Sân Septo, chỉ có ba ngôi nhà ở phía bên số lẻ và
năm ngôi nhà lớn bên số chẵn;
nhà cố 10 cuối dãy trông sang cổng chính là sân vận
động.
Bên phố Lý Văn Phúc cũng mới hình thành được nửa chiều
dài, cả hai bên mặt phố có mười năm nhà đều làm theo
kiểu villa hiện đại; đoạn cuối phố vẫn là một bãi đất
rộng còn bỏ trống đến sát đường Cát Linh. Khoảng bên
trong giữa hai phố Trịnh Hoài Đức và Lý Văn Phúc có một
khu nhà lớn gồm nhiều lớp, đó là khu nhà ở và nhà thờ
của họ Lê Văn Tân, chủ nhà in Hàng Bông. Phố Lý Văn Phúc
(dài một trăm hai mươi mét) và phố Trịnh Hoài Đức (dài
ba mươi mét) là đất thôn Cổ Giám có đình Cổ Thành ở 147
Hàng Đẫy.
Nhà Tiền
Chỗ đất này trước kia là một khu nhà ở tập thể của vợ
con binh lính khố đỏ gọi là Trại Con Gái, cùng loại với
hai khu nữa ở chỗ phố Ông Ích Khiêm và kho thuốc súng.
Khoảng năm 1942, người Pháp lấy khu vực này định xây
dựng thành Xưởng đúc tiền.
Trước đây, những loại tiền lẻ bằng kim phí, hào bạc và
xu đồng đều đúc ở bên Pháp đưa sang Đông Dương. Chiến
tranh thế giới 1939 - 1945, Pháp bị quân Đức chiếm đóng,
đường giao thông liên lạc bị cắt. Việc đúc tiền cũng như
hầu hết các hoạt động khác của Đông Dương phải tự đúc
lấy. Lúc đầu, việc đúc đồng 5 xu kền và 1 xu đồng, tiền
Khải Định nửa xu, được giao cho nhà máy Berset đúc ở cơ
sở Berset cuối phố Lò Đúc. Năm 1942 bắt đầu xây dựng
Xưởng Đúc tiền của nhà nước ở cuối phố Hàng Đẫy.
Từ 1942 đến 1945 mới xây dựng một dãy nhà một tầng mười
gian bán mái làm xưởng đúc ở trong bãi, và hai ngôi nhà
lớn ở sát mặt đường. Một ngôi nhà này dùng tạm làm
Trường Cao đẳng Thương mại; một ngôi nhà là xưởng công
cụ chính xác (Atelier de précision). Chính quyền Pháp
định mở rộng và phát triển khu vực này thành Viện tiền
tệ (Hotel des
Monnaies)
, nhưng rồi không kịp làm tiếp.
Khu vực này, trong thời gian tạm chiếm, quân đội Pháp
dùng làm nơi bắt giam và tra tấn tù chính trị. Sau 1954, nhà Tiền được cải tạo thành nhà in Tiến Bộ.
Trường Cao đẳng Thương mại ở đây, năm 1946 dùng để mở
lớp Tài chính kế toán của Chính phủ Việt Nam.
BÊN NGOÀI CỬA Ô THANH BẢO
PHỐ SƠN TÂY
Như trên đã nói, cửa ô Thanh Bảo nằm trên chỗ giao nhau
của con đường từ tỉnh Sơn Tây, qua Cầu Giấy, vào thành
Hà Nội, với con đường từ phía bắc cửa ô Thụy Chương
xuống, di theo phía ngoài tường thành Cửa Tây để rồi
tiếp tục nối với con đường Đại La đi về hướng tây nam
sang ô Chợ Dừa. Con đường bắc nam đó là ranh giới, ở bên
ngoài tường thành Cửa Tây của hai tổng Yên Thành và Tổng
Nội. Tổng Yên Thành ở phía đông con đường, đất chỗ đó
thuộc mấy thôn Xuân Biểu và Thanh Ninh; Tổng Nội ở bên
ngoài, mặt tây con đưòng, lấy đất của hai thôn Vạn Phúc
và Kim Mã.
Trước kia (cuối thế kỷ 19), khi chưa thành phố sá thì
chỉ có Đường Sơn Tây; đến khi bắt đầu có nhà của hai bên
mặt đường, hình thành là một phố thì phố Sơn Tây là tên
hai đoạn đầu của phố Sơn Tây hiện nay và đoạn thứ ba lại
có tên riêng là phố Tám Mái.
Như vậy, phố Sơn Tây hiện nay có ba đoạn:
- Đoạn đầu từ chỗ góc tây nam thành cũ (tức là vườn hoa
Lê Trực) đến ngã tư đầu chợ Ngọc Hà (tức là ngang qua
cửa ô Thanh Bảo), đoạn này thuộc về đất thôn Thanh Ninh;
- Đoạn thứ hai từ ngã tư Ngọc Hà đến ngã ba Hàng Đẫy,
đoạn phố này ở trên đất làng Vạn Phúc;
- Đoạn thứ ba tức là phố Tám Mái, từ ngã ba Hàng Đẫy,
ngang với bên ô tô Kim Mã đến ngã ba đường Núi Bò, là
đất của làng Kim Mã.
? đây chỉ nói về phố Sơn Tây thời Pháp thuộc, tức là hai
đoạn đầu, còn đoạn thứ ba nói sang phố Tám Mái (xem
chương sau)
Phố Sơn Tây được mở mang khá muộn. Khoảng năm 1920 -
1922 nơi đây còn nhà tranh lác đác ở hai bên một con
đường còn hẹp, trải đá xanh lổn nhổn, với những chiếc
"xe tay thổ tả" (xe kéo tồi tạn ngoại ô bánh sắt, bọn
Pháp gọi là pousse - pousse chlera) đưa đón khách ngoại
ô. Vài ba chiếc xe ô tô chở khách đường Sơn Tây phải đỗ
ở ngã ba cuối phố. Chung quanh bên ô tô lèo tèo ít quán
nước bán quà lặt vặt.
Mãi đến những năm 1938 - 1940, tổ chức hành chính thành
phố mở rộng ra vùng ngoại ô tây nam, thành lập Đại lý
Hoàn Long, khu vực này nằm trong địa phận đất thành phố,
từ đó mới bắt đầu được mở mang. Thêm một nguyên nhân nữa
là vì dân số Hà nội ngày một thêm đông, trong phố thiếu
nhà ở và giá thuê nhà tăng cao, vả lại những phố ven
nội, như phố Sơn Tây, đến thời gian đó, vấn đề an ninh
trật tự được tốt hơn trước vì đất đã được thành phố quản
lý.
Tuy nhiên đoạn đầu phố Sơn Tây, chỗ gần Trại Con Gái vẫn
còn đang xây dựng dở dang và còn nhiều khoảng đất trống.
Đầu phố có một ngôi nhà lớn hai tầng nhiều gian trông
sang vườn hoa Lê Trực, đó là bệnh viện tư của hai bác sĩ
Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyễn Xuân Tùng, mới xây vào năm
1940. Đầu bên này đường giáp với phố Lê Trực, nhà số 1
là chùa Am Cây Đề và đình Ngọc Thanh; rồi đến đôi ba
ngôi nhà nhỏ làm sát hè phố, còn thì là bãi đất trống:
bên số chẵn là khu đất cổng sau Trại Con Gái chưa xây
dựng gì, dùng làm bãi để sắt vụn của nhà Ba Sao; bên số
lẻ cạnh đình Ngọc Thanh là vườn hoang, chỗ này là một hồ
rộng mới lấp, đất công bán rẻ, một người Tàu mua được
chưa kịp làm nhà. Quãng giữa là hai bãi rộng, hiện nay
là chỗ có mấy ngôi nhà và cửa hàng lương thực có nhà bên
trong (số 40) và bên
đối diện là xưởng sửa chữa ô tô Hoà Bình.
Theo bản đồ năm 1940, thành phố có dự kiến mở khu vực
này mấy đường phố mới và đã đánh số: Voie 143 là một ngõ
hẹp, sẽ được mở rộng thành đường phố ở đằng sau Trại Con
Gái, nối phố Ông ích Khiêm với phố Ngọc Hà (con đường
này nay là một ngõ cụt có tên là phố Nguyễn Phạm Tuân,
và người ta biết đến với cái tên thông thường là phố Bãi
tập kèn) - dự kiến mở rộng từ ngã tư Ngọc hà thông sang
đầu Hàng Đẫy, chỗ này cũng là một ngõ hẹp khúc khuỷu,
trên bản đồ ghi sẵn là phố De Moutpesat, nhưng tên gọi
thường là "ngõ nhà thổ đèn đỏ"; ngày nay nó vẫn là một
ngõ hẹp gồ ghề gỹ khúc với cái tên là phố 356.
Từ ngã tư Ngọc Hà đến ngã ba Hàng Đẫy, trước mặt bến ô
tô Kim Mã, trước năm 1940, cũng chưa có mấy nhà: bên số
lẻ là hồ ao lấp dở, bãi rác bẩn thỉu, có chỗ còn là gò
đống tha ma; khu "Vườn thánh tử vì đạo"
còn chơ vơ giữa bãi rộng; gần đến ngã ba cửa ô mới có
mấy nhà lợp tôn và ở ngay góc đường có một ngôi nhà gạch
nhỏ bán mái, đó là Đền Ba Ba, một cửa điện động người lễ
bái, đồng bóng quanh năm. Bên số chẵn cũng chỉ mới có ít
nhà đông người lễ bái, đồng bóng quanh năm. Bên số chẵn
cũng chỉ mới có ít nhà gần ngã tư sát với chợ xây ở phía
bên ngoài đình Ngọc Thanh; đi về phía tây còn là đồng
ruộng làng Vạn Phúc, bên trong là một cánh đầm nước lớn
chạy dài suốt dọc đường gọi là đầm Cây Khế.
Thời kỳ đầu, thập niên hai mươi, ba mươi, dân phố Sơn
Tây hầu hết sinh sống về nghề buôn thúng bán mẹt, trông
vào chợ Ngọc Hà khi ấy còn là một chợ nhỏ bán thực phẩ
rau cỏ tôm cua thường ngày; họ còn làm các nghề lao động
nặng nhọc như kéo xe tay xe bò, làm thuê làm mướn trong
phố.
Mãi đến những năm 40 phố Sơn Tây mới có quanh cảnh xây
dựng tấp nệp. Người làng Vạn Phúc, Ngọc Hà từ trong làng
ra làm nhà ở mặt đường phố để mở cửa hàng buôn bán hoặc
làm để cho thuê. Nhiều nhà gạch mọc lên kín hai bên mặt
đường thay thế cho nhà tranh ở đoạn giữa phố Sơn Tây
này, song đa số là những nhà nhỏ một tầng kiểu thông
thường.
Song cũng phải đến thời kỳ tạm chiếm cuối bốn mươi và
đầu năm mươi thì ở đây mới có nhiều nhà hai tầng, số
lượng nhà hai tầng chiếm tới non một phần ba tổng số; có
những nhà hai tầng lớn nhiều gian (nhà số 136 và số
146). Phố Sơn Tây không còn là phố của dân nghèo, nhiều
nhà mở cửa hàng: bách hoá, sửa chữa xe đạp, cơ khí, thợ
may, thợ cạo, đông ty và cửa hàng ăn.
Tuy nhiên, cho đến sau ngày tiếp quản Hà Nội (tháng 10 -
1954) và cho đến cả ngày nay, phố Sơn Tây vẫn không gạt
bỏ được cái hình ảnh một phố cửa ô, tuy hiện thời chỗ đó
đã ở giữa nội thành, một cửa ngõ giao thông có mật độ xe
cộ và bộ hành lớn từ phía tây vào thành phố và đi ra.
Tức là nhà cửa thì so le, từng quãng nhô lên giữa nhưng
ngôi nhà bé nhỏ cũ kỹ từ thời mới mở phố ngoại ô, là
những ngôi nhà cao có gác mới làm rộng bề ngang kiểu
mới, tạo ra cái hình ảnh tương phản nghịch mắt. Và những
nhà rạp hát cũ, những cửa hàng đã đóng cửa bày ra sự suy
tàn của một thời dễ kiếm tiền đã qua. Thêm vào đó, hàng
rong quán nước với cảnh thiếu trật tự kém vệ sinh, sinh
hoạt xô bồ của những người lao động ven nội. Vỉa hè cống
thoát nước cũng mãi đến những năm bảy mươi mới đặt và
chỉ đến khúc đầu phố Kim Mã.
Phố Tám Mái (đoạn dưới phố Sơn Tây)
Chỗ cửa ô Thanh bảo có một khu đất gần giống hình tam
giác, các cạnh là đường Sơn Tây, đường Đại La và đường
Cát Linh. Trong khu vực này có một cái đầm lớn đầy bèo
lộc bình (còn gọi là sen Nhật) và những thửa ruộng lúa
thấp, hai bãi tha ma lớn. Bãi đất rộng - nay là bên xe ô
tô Kim Mã - giáp ngã ba Hàng Đẫy, đường Sơn Tây và đường
Đại La là chỗ để xe bò, để thùng đựng phân cũái nghiệp
vệ sinh Năm Giệm; chỗ bờ đầm là nơi rửa thùng phân. Còn
chỗ ô tô hàng đỗ lấy khách là ở phía trong ngã ba phố
Sơn Tây.
Phố Tám Mái là đoạn phố Sơn Tây từ ngã ba đầu Hàng Đẫy
đến ngang chùa Kim Sơn. Có tên là Tám Mái là vì ở đầu
phố có chiếc cổng lớn đi vào khu vực Sở Vệ sinh của Năm
Giệm, một chiếc cổng xây, mái chồng, tám mảng gắn vào
nhau. Phố Sơn Tây có dãy nhà cô đầu chỗ chín gian gần
chùa Kim Sơn, nên những người đi chơi đêm và phụ xe
quen gọi là dãy nhà cô đầu Tám Mái, vì thế mà thành tên
phố Tám Mái.
Đoạn đường này trở thành phố sá là nhờ ở bến ô tô và dãy
nhà cô đầu. Trước kia hai bên đường cái chỉ là hồ ao, đi
sâu vào trong là làng Vạn Phúc. Về sau nhà cửa mọc thêm
dần tiếp với chỗ bến ô tô cũ, trong ngã ba phố Sơn Tây,
nhưng cũng chỉ kín ở bên mặt đường giáp làng Vạn Phúc,
còn phí bên giáp Sở Vệ sinh chỉ có ít nhà tranh lèo tèo
trên khu đất của Lý Tính người làng Kim Mã; giữa phố có
một ngõ nhỏ đi vào xóm trong, gọi là xóm Xồm, bên trong
có mấy nhà chứa thổ lậu.
Khoảng năm 1930 bến ô tô ở bên trong phố Sơn Tây quá
chật hẹp, đã được di đến đầu đường Hàng Đẫy và Đại La là
bến ô tô song đó cũng chỉ là một bãi đất rộng trống
trơn, về sau được thêm mấy gian nhà lợp tôn là chỗ bán
vé và chỗ ngồi chờ xe cho hành khách. Rồi thêm một bốt
cảnh sát nhỏ ở bên vệ đường (chỗ nhà Bưu điện bây giờ).
Bến đã được sửa sang: có khoảng hơn chục chiếc xe ca của
nhiều chủ xe chạy đường Phùng, Sơn Tây, Trung Hà. Hàng
nước hàng quà che lều đón khách, quang cảnh lèo tèo.
Khoảng giữa thập niên ba mươi, phong trào mở nhà hát cô
đầu lan ra vùng ngoại ô, các con đường xa nội thành đa
số có nhà hát, khách đi chơi được kín đáo, chủ nhà hát
dễ thuê nhà va tiền nhà rẻ hơn ở nội thành: Ngã tư Sở,
Vạn Thái, Chợ Mới Mơ, đường Tàu Bay... Phố Sơn Tây cũng
mọc ra một dãy nhà hát Tám Mái. Chỗ ăn chơi này thành
lập ở ngay bên bãi pháp trường cũ, cạnh ngôi chùa, cảnh
từ bi chay tịnh, kể cũng một sự ngẫu nhiên bi hài.
Có bến xe, có nhà hát, nên đoạn phố này nhanh chóng có
những cửa hàng vặt phục vụ cho nhữngc gia đình đến đây ở
ngày một đông, nhất là đám người đi chơi đêm: thợ may,
thợ cắt tóc, thợ giặt, hàng xén, nhiều cửa hàng bán nước
chanh, rượu bia, hàng phở. Người làng Vạn Phúc, Kim Mã,
rồi đến người ở các nơi cũng chọn nơi đây tìm cách sinh
sống bằng buôn bán. Từ sau 1935, nhiều người trong phố
ra đây thuê nhà ở vì nội thành nhà hiếm dần, giá thuê
cao, ra chỗ đầu ô ở sinh hoạt đỡ tốn kém hơn, tuy tiện
nghi điện nước vệ sinh không bằng tron gphố. Người sẵn
tiền làm thê nhà cho thuê. Đến năm 1940, phố Tám Mái đã
khá đông đúc. Tám Mái có cả một rạp hát cải lương Tân
Lập Ban và một rạp chiếu bóng, rạp Tam Kỳ, mở cho khách
ngoại ô.
Cảnh sinh hoạt của một khu ngoại ô: hàng rong bán rau,
thực phẩm, từ sáng sớm tinh mơ ở các làng chung quanh
gánh vào cung cấp cho các phố, các chợ, thường tập trung
bán buôn ngay ở đây; đám phu xe kéo chở khách đến bến ô
tô, đỗ lại đây để đổi khách cho xe nội vì xe ngoại ô
không được vào thành phố. Bọn anh chị kiếm ăn ban ngày
quanh bến xe, ban đêm quanh các nhà hát, sòng bạc, chúng
chuyên cờ bạc, thò lò, xúc xắc và đánh nhau thuê. Có cả
một mụ đàn bà chuyên đi chửi thuê, mụ Cả Ngạnh.
Thời tạm chiếm, người tị nạn chiến tranh về Hà Nội càng
đông, phố Sơn Tây đã làm nhà kín cả hai mặt đường. Những
bãi đất chưa xây cũng không bỏ trống, người ta cho thuê
để mở những cơ sở sản xuất thủ công. Sau 1954 trở đi phố
Sơn Tây vừa là cổng ngõ từ ngoài vào nội thành đi lại,
chuyên chở đông đúc, lại là vùng ngoại vi thủ công
nghiệp của thành phố.
Đoạn thứ ba phố Sơn Tây không được như đoạn trên có
nhiều nhà hai tầng, vì nó mới hình thành trong những năm
gần đây, lối nhà bán kiên cố. Những nhà xây dựng ở thời
kỳ này không sẵn vật liệu bền (xi măng, sắt), cả những
hợp tác xã hay xí nghiệp cũng vậy, người ta chỉ cần có
chỗ sản xuất, chỗ làm việc, chỗ ở, xây dựng chắp nối
thêm sau, chưa cần tính đến chuyện lâu dài.
Đường Đại La (nay là đầu phố Giảng Võ)
Thời Pháp thuộc con đường mà ngày nay ta gọi là Giảng
Võ, chưa đặt tên. Tên đường Đại La có từ năm 1945 sau
Cách mạng tháng Tám và là tên một đoạn từ bến ô tô Kim
Mã đến ngã tư Cát Linh; đến năm 1964, đặt tên lại và gọi
con đường suốt từ ngã ba Hàng Đẫy đến nga ba Thủ Lệ là
đường Giảng Võ.
Đường Đại La năm 1945 - 1946 là một khúc của bức luỹ cũ
đi cửa ô Thanh Bảo đến chỗ có tên là " Cổng - lấp -
chuôi - vồ", tức là ở quãng giữa, một bức luỹ đi từ ô
Tây Dương (Cầu Giấy) đến ô Chợ Dừa.
Tại nơi đây, bản đồ cũ năm 1831 chỉ thấy vẽ nhiều hồ
lớn; hồ Giảng Võ, hồ Hào Nam, và đồng ruộng, bãi tha ma.
Bản đồ 1873 có vẽ một số nóc nhà ở phía ngoài cửa ô trên
đường đi Sơn Tây. Khu lăng Phùng Hưng ở giữa cánh đồng
rộng dưới những cây đa cổ thụ.
Lăng Phùng Hưng không lớn: hai cột trụ ngoài cổng quay
về hướng tây, có đôi câu đối: " Anh hùng khai thác kham
thiên cổ; Phụ mẫu xưng hô hợp vạn dân". Quanh lăng là
một bức tường thấp. Lăng xây lộ thiên, đơn giản, trên
vách có bốn chữ "Phùng vương cố lăng". Năm 1920 chung
quanh lăng còn có tường và cây cối sầm uất.
Từ năm 1954, nhà cửa xây dựng ở đầu đường Đại La lấn dần
vào khu lăng. Một xưởng sản xuất vô ý thức đổ phế phẩm
và rác bẩn ngay cạnh lăng. Cây cối mất dần,
cây đa cũng cằn cỗi rồi chết. Lăng không được bảo quản.
Đầu đường Đại La, cạnh nhà Tiền và bến ô tô Kim Mã - phố
Hàng Đẫy là khu cơ nghiệp của Năm Giệm. Nhà tư sản này
lần lượt có hai cơ sở kinh doanh đều là xí nghiệp lớn:
Sở Vệ sinh và Nhà máy gạch Đại La.
Xí nghiệp Vệ sinh của Năm Giệm có những ngôi nhà lợp tôn
chỗ chứa xe và thùng lấy phân. Xí nghiệp có một bãi rộng
trong có những bể xây lớn dùng để chứa phân. Hồ đầm
chung quanh có nhiều nước (hồ Hào Nam, hồ Tám Mái), công
nhân vệ sinh rửa thùng ở đấy. Cả vùng xung quanh bị ô
nhiễm uế khí.
Trước những năm ba mươi, Hà Nội mới có một số ít hố xí
máy tự hoại ở khu phố Tây.? khu phố ta nhà nào cũng chỉ
có chuồng xí thùng. Hàng ngày phụ vệ sinh đẩy xe bò đến
các phố thay thùng lấy phân; công việc làm vào ban đêm.
Ít nhà có lối đi riêng lấy phân ở đằng sau, phụ thùng
phải đi từ cửa ngoài vào suốt tận sân trong. Đêm khuya
tiếng đập cửa gọi đổi thùng. Trong nhà thắp hương để át
mùi hôi thối, lại còn phải canh nhà trong lúc ngỏ cửa
ngoài, phải có người đi theo người ta vào trong qua các
phòng.
Phân thu thập từ các phố nội thành đưa về Đại La, một
phần đem chứa vào các bể xây chờ người đến mua, một phần
xe thẳng đến vùng trồng rau ngoại thành (Vòng, Canh,
Diễn) bán ngay cho người làng; các ngã ba, ngã tư suốt
con đường từ Cầu Giấy đi Phùng là chợ bán phân bắc.
Phân bắc là mối lợi lớn cho nhà thầu. Cảnh sát cấm người
ngoại thành vào mua hoặc lấy trộm phân trong các phố,
phạt nặng những người gánh phân đi trong phố với lý do
bảo vệ vệ sinh chung.
Xí nghiệp vệ sinh dùng công nhân đổ thùng rất đông. Chủ
thầu làm nhà cho công nhân thuê ở tập trung ở đầu đường
Đại La; nhà tranh, nhà tôn lụp xụp, chật hẹp. Nhà cứ làm
thêm ra mãi, hồ, đầm bị thu hẹp dần, rác rưởi thành phố
hàng ngày xe đến đổ ở đây. Đến khi một công ty người
Pháp thay Năm Giệm thầu được việc lấy phân ở nội thành
thì công ty đó đặt cơ sở ở bên trong ô Chợ Dừa trên con
đường đê thôn Trung xã Thịnh Hào. Năm Giệm đổi sang kinh
doanh nghề làm gạch ngói, nhà máy cũng vẫn ở đầu đường
Đại La này.
Xí nghiệp gạch của Năm Giệm là một xưởng nung gạch ngói
lớn, chiếm một khu đất rộng quay ra hai mặt đường Đại La
và Cát Linh, mỗi chiều bề dài hàng mấy trăm mét. Chung
quanh nhà máy là tường cao, đi bên ngoài thấy mấy ống
khói lò nung cao ngất. Bên trong có nhiều lớp nhà rộng:
chỗ đóng gạch ngói, chỗ hong khô trước khi đưa vào lò
nung. Những đống đất lớn chở từ nơi khác đến làm nguyên
liệu chiếm hắn một phần diện tích nhà máy bên phố Cát
Linh. Cạnh nhà máy là khu nhà ở của gia đình Năm Giệm,
có lối thông ra đường Đại La. Lối đi này qua một khu
vườn rộng trồng cây ăn quả, nay là ngõ Văn Lan.
Xóm nhà tranh ở đầu phố Đại La vẫn tồn tại: đó là chỗ ở
của gia đình công nhân nhà máy gạch. Cũng vì xe rác
trong thành phố đổ xuống vùng này để lấp hồ, dân trong
xóm lại có thêm nghề bới rác nhặt dẻ rách, mảnh chai,
xương trâu bò, nghề này vẫn giữ cho đến tận nay.
KHU VỰC ĐÔNG BẮC TỔNG NỘI
Ngọc Hà - Hữu Tiệp - Đại Yên - Liễu Giai
Những làng nằm giữa hai con đường, Đường Thành (phố
Hoàng Hoa Thám) và Đường Mới, còn gọi là đường Quần Ngựa
(phố Đội Cấn), phía nam đến đầm Cây Khế (làng Vạn Phúc),
phía tây đến hồ dài quanh Núi Cung, là một phần đất của
Thập Tam Trại ngày xưa, và cũng là phần quan trọng nhất.
Nó quan trọng vì cảnh sinh hoạt trù phú hơn phần còn
lại, và vì nó còn chứa đựng một số lượng lớn vết tích về
lịch sử thành lập kinh thành Thăng Long, những di tích
văn hoá lâu đời của Việt nam từ những thế kỷ thứ 9 đến
thế kỷ thứ 14.
Phần đất phía tây (Vĩnh Phúc, Cống Vị, Kim Mã), những
làng xóm do Thái tể họ Hoàng làng Lệ Mật mở mang, đưa
người làng ông từ Gia Lâm di cư sang lập nghiệp ở phía
tây kinh thành, lại ít thấy những dấu vết như phần phía
đông này. Chỉ có hai làng có đình thờ Thái tể là Vĩnh
Phúc và Liễu Giai, như thế có phải rằng người làng Lệ
Mật sang đây tập trung chủ yếu ở những làng phía tây
Tổng Nội này không?
Cho nên có thể nói rằng khu vực đông bắc Tổng Nội là khu
vực phủ đệ của người trong hoàng gia Lý - Trần xưa. Núi
Voi, núi Cung, núi Trúc với những gạch ngói mang hình
thức hoa văn của đồ gốm Lý - Trần và những chữ ghi niên
hiệu đời Lý, với những rầm xà bằng lim và gỗ tứ thiết
khác, có chạm trổ bị vùi lâu năm dưới đáy hồ ao. Liễu
Giai là con đường trồng liễu ở Cửa Tây kinh thành, đối
xứng với đường Hoè Nhai, con đường trồng hoè ở phía đông
kinh thành; hai con đường dành cho những đám rước vua
quan từ trong hoàng thành trẩy qua.
Khu vực đông bắc Tổng Nội có những làng Ngọc Hà, Hữu
Tiệp, Đại Yên, Liễu Giai, họp thành một khu vực mang
tính chất chung, có những đặc điểm không giống như phần
đất ở tây bắc hoặc ở phía Nam.
? bên phần phía đông, Ngọc Hà và Hữu Tiệp là hai làng
nhỏ, đất ít, đinh không nhiều 1; hai làng này diện tích
mỗi làng không quá hai mươi héc ta; Đại Yên cũng ngang
thế và Liễu Giai thì nhỏ hơn. Ba làng Ngọc Hà, Hữu Tiệp,
Đại Yên dân cư ở tập trung hơn, đất trồng trọt không có
mấy ruộng cấy lúa, mà lại nhiều cánh đồng trồng hoa
trồng rau. Xóm làng phát triển dần ra cánh đồng thì
ruộng trồng hoa và trồng rau trở thành những vườn ở xem
giữa các xóm, quây quanh các nhà. Quang cảnh khác với ở
bên phía tây và phía nam, như vùng Vĩnh Phúc, Cống Vị,
Kim Mã, các thôn xóm ở thành từng cụm cách xa nhau, giữa
các thôn xóm là bãi rộng, gò đống tha ma và cánh đồng
lúa.
LÀNG NGỌC HÀ
Ngọc Hà là làng được nhiều người Hà Nội biết đến nhất
trong số các làng của thập Tam Trại Tổng Nôị. Vì Ngọc Hà
có đặc điểm là một làng hoa, một nhu cầu không thể thiếu
được của người Hà Nội, người ra hay nghĩ đến Ngọc Hà
trước, với cái tên Trại Hàng Hoa.
Ngọc Hà ở phía đông Tổng Nội, sát liền ngay với khu vực
sớm được người Pháp mở mang; khi xây dựng Phủ Toàn quyền
và mở vườn Bách Thảo, làng Ngọc Hà bị lấn mất một phần
đất. Địa giới làng ở phía đông là con đường mang tên của
làng, phố Ngọc Hà.
Theo bản đồ cũ, làng Ngọc Hà (kể cả phần đất đã mất)
không rộng; bên trong có nhiều ao hồ lớn (như đầm Cây
Khế ở phía tây làng giáp với Đại yên, đầm Bảy Gian ở
phía nam làng gần Đường Mới Đội Cấn). Làng nhỏ nhưng dân
đông, đất thổ cư chiếm một tỷ lệ cao, không có ruộng cấy
lúa mà chỉ có vườn trồng rau và hoa xen nhau; vườn và
nhà xen kẽ với nhau.
Ngọc Hà chia ra làm nhiều xóm: xóm Giữa (gần đình); xóm
Trên (gần Đống Nước; thôn Đống Nước thuộc về Đại Yên);
xóm Trong (ở phía tây); xóm Ngoài (giáp đường Đội Cấn).
Các xóm này đều có đường làng thông với bên ngoài, tức
là phố Đội Cấn và Đại Yên bên cạnh; các xóm đi ra phố
Ngọc Hà chỉ có một lối đi men theo ao đình.
Đình Ngọc Hà ở phía đông bắc làng, cách vườn Bách Thảo
một con đường cái. Đình ở giữa một hồ nước rộng trên một
bán đảo. Trong đình thờ Huyền thiên Hắc đế 1. Đình Ngọc
Hà cũc đã bị tàn phá và chiến tranh năm 1946 - 1947,
đình hiện nay được trùng tu năm 1952. Huyền thiên Hắc đế
có đền chính thờ ở trên núi Sưa trong Bách Thảo. Ngọc Hà
có bốn giáp tổ chức theo địa lý xóm.
Ngọc Hà có mấy họ lớn: - Trần Văn, Trần Lê, Trần
Nguyễn; họ Phạm ít người lép vế, thường bị chèn ép 2.
Làng ở sát thành phố, kinh tế khá, có điều kiện cho con
em trong làng học hành, nên làng có nhiều người người
được học lên và ra làm công chức. Nhiều người làm ăn
giàu có, tậu đất ở ngoài mặt phố làm nhà cho thuê (thí
dụ cả khu nhà trong ngõ 5; ngõ Gia Thịnh; hoặc khu nhà
trong ngõ 12: ngõ Gia Vinh, đều là những dãy nhà của
cùng một chủ đất).
Ngày nay người họ gốc trong làng không còn mấy; người
các nơi bên ngoài vào ở trong làng ngày một đông. Ngay
từ năm mười, hai mươi do Ngọc Hà ở gần một số cơ quan Xí
nghiệp, trại lính nên người ngoài đến tậu đất của làng ở
gần đường Ngọc Hà ở phía gần đường cái như Nguyễn Công
Tiễn lập Thuỷ Tiên Trang ở gần đường Ngọc Hà trong ngõ
20; hoặc chủ gánh xiếc Tạ Duy Hiển mở cả một trại nuôi
thú ở một khu đất đầu phố Quần Ngựa (Đội Cấn ngõ số 32).
Người đến thuê nhà ở trong các ngõ đầu làng Ngọc Hà cũng
đông, công chức nhân viên sở tư cũng có, mà đa số là gia
đình lính tráng, cai đội Tây có vợ Việt nam không giá
thú, những "me Tây" chuyên nghiệp.
Đồn lĩnh khố xanh ở ngoài phố Ngọc Hà bảo đảm an ninh
cho vùng ven nội này vì gần Phủ Toàn quyền và phố Tây 3.
Về mặt kinh tế, Ngọc Hà không có nhiều ruộng đất vậy mà
trồng trọt lại là một nghề chính. Người làng Ngọc Hà nổi
tiếng về nghề trồng hoa. Và do ở sát thành phố nên cũng
có nhiều người làng vào phố đi làm, họ là công nhân Vườn
ươm La Pho, thợ trong các Nhà máy Rượu bia Ô Mền, Nhà
máy Xe điện, Nhà máy thuộc da... Những người học lên có
bằng cấp tiểu học, thành chung thì đi làm công chức (thư
ký, giáo học) và các sở tư (kế toán, bán hàng).
LÀNG HỮU TIỆP
Làng Hữu Tiệp ở phía Bắc làng Ngọc Hà, sát Đường Thành
(nay là phố Hoàng Hoa Thám). Làng nhỏ vì một phần lớn
diện tích bị chính quyền Pháp cắt làm Vườn Bách Thảo
(một số gia đình người Xuân Biểu sang ở làng Hữu Tiệp).
Tuy vậy trong thời Pháp thuộc, Hữu Tiệp là một xã riêng,
nghĩa là có lý tưởng riêng, có hội đồng hương chính
riêng. Đất hẹp (diện tích còn hai ba chục mẫu đất), số
dân chỉ bằng một nửa Ngọc Hà (bốn trăm bốn mốt nhân khẩu
năm 1928), hai làng lại ở liền nhau, không có địa giới
tự nhiên rành rọt, người ta thường coi Ngọc Hà - Hữu
Tiệp chỉ là một với cái tên chung là Trại Hàng Hoa.
Thực ra Ngọc Hà - Hữu Tiệp đều có cùng một tính chất:
tức là đất chỉ để trồng rau và hoa không có ruộng trồng
lúa; quang cảnh hai làng dễ lẫn; xóm nhà liên tiếp nhau,
nhà và vườn trồng hoa xen kẽ, vườn trồng hoa vào đến sát
nền nhà.
Đình Hữu Tiệp thờ cùng thành hoàng với Ngọc Hà là Huyền
thiên Hắc đế, vào đám ngày 19 tháng giêng, hai làng rước
bài vị thần đến núi Sưa trong Bách Thảo tế lễ. Tại Hữu
Tiệp còn một ngôi đền thờ bà mẹ thành hoàng gọi là đền
Cát Triệu, bà mẹ là người làng Hữu Tiệp.
Ngoài đình làng, Hữu Tiệp có chùa riêng; đó là một ngôi
chùa cổ quy mô lớn, chùa Bát mẫu, ở phía tây bắc làng.
Đền Trường Dược thờ Cửu thiên huyền nữ (bà Chúa kho
thuốc súng), sau thờ thêm cả Mẫu Vân Hương (Liễu Hạnh)
và Thuỷ Tinh công chúa (Mẫu Thoải).
Hữu Tiệp có ba xóm: xóm Bảo Vân ở sát Đường Thành; xóm
Đình (năm 1972 một máy bay Mỹ B52 bị bắn rơi ở đây); xóm
Thượng.
Những họ gốc ở Hữu Tiệp là: họ Tống, họ Lê, họ Trịnh (ba
họ này từ Tống Sơn, Thanh Hoá và Hoa Lư di cư ra từ thế
kỷ 11, có người làm võ quan huấn luyện voi ngựa của
triệu đình); họ Phạm, họ Hồ, họ Nguyễn, họ Dương, họ
An...
Cũng như Ngọc Hà, Hữu Tiệp có điều kiện kinh tế sinh
hoạt dễ chịu về nghề trồng hoa, họ xây được nhà gạch
(nhà cổ); song con em các gia đình không có mấy người
học hành lên (cả làng có hai người có bằng thành chung),
số đi làm công chức không nhiều. Đàn bà người làng làm
vườn trồng hoa, đi chợ lên phố bán hoa; đàn ông nhiều
người làm thợ nề, có người làm cai và giàu có.
Nghề trồng hoa Tây ở Hữu Tiệp mở đầu là hai ông Phạm Hữu
Tỉnh và Trịnh Văn Quang, nhờ có người mách cho đường lối
mua được hạt giống. Nghề này phát triển với các gia đình
các ông Cả Ghềnh, Năm Sức, Hương Khiêm (ông Cả Diệu nay
chín nhăm tuổi, người xóm Xuân Biểu là công nhân cũ của
vườn ươm La Pho, thạo nghề trồng hoa).
Làng Hữu Tiệp có nghề trồng hoa lại khéo biết xe hoa
bằng xe tay, xe ô tô dùng trong các ngày hội Tây. Các
ông Lê Bá Phong, Tống Văn Ngữ được Hoàng Trọng Phu nâng
đỡ (giúp việc kết hoa cho đám ma vợ Hoàng Cao Khải, bà
Bông Cời)
, người
trong họ ra làm tổng lý, có vai vế ở trong làng.
Nghề trồng hoa ở Ngọc Hà - Hữu Tiệp.
Các cụ trong làng truyền lại rằng: ngày xưa Ngọc Hà có
nhiều đất hoang, các quan trong triều nhiều người khi về
hưu cắm đất ở đây làm nhà dưỡng lão, lập vườn hoa trồng
cây cảnh để giải trí. Nghề chơi hoa và cây cảnh trở
thành truyền thống của người làng Ngọc Hà.
Có điều chắc là xưa hơn nữa, về thời Lý - Trần, phần đất
gọi là khu Thập Tạm Trại nếu không ở bên trong thì cũng
giáp liền với hoàng thành; phần phía đông có nhiều phủ
đệ cung đình của các ông hoàng bà chúa, vườn hoa cây
cảnh hẳn là không thiếu; những người phục vụ trồng trọt
truyền nghề lại cho con cháu.
Ngọc Hà - Hữu Tiệp có nghề trồng hoa từ lâu đời, thời kỳ
đầu chỉ trồng hoa cúng, như mẫu đơn, hồng, huệ, sói,
cúc, ngâu, thiên lý. Hoa xâu vào lạt thành tràng hoa;
hoa gói vào lá tươi buộc lại, các cô bán hoa đem treo
lên cửa các nhà đặt mua trước, các nhà có cửa điện thờ.
Khi người Pháp - khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 -
đem nhập các giống hoa nước ngoài đồng thời với nghề
trồng rau Tây, họ có vườn riêng như La Pho, Đuy Phuốc
(Laforge, Dufoureg), nhiều người Ngọc Hà - Hữu Tiệp làm
công cho họ, học hỏi được cách trồng hoa, rau ngoại và
có được các giống hoa mới (qillet = cẩm chướng, pensée =
hoa bướm, violette = hoa tím, marquerité = cúc vàng...)
đem về làng, mở rộng và cải tiến nghề sản xuất hoa tươi
bán cho các nhà Tây trong thành phố những khi có tiệc
tùng và những dịp lớn, ngày Tết chính trong năm như
Nôen, Nguyên đán, và cưới xin. Người Việt Nam cũng làm
quen với phong tục mua hoa trang trí phòng khách và dùng
hoa trong những dịp xã giao long trọng. Cái cảnh những
cô gái Ngọc Hà với gánh hoa giàu màu sắc đi trong phố
với tiếng rao lanh lảnh "La flơ bà đầm" (mời bà mua hoa)
đã thành quen tai với người Hà Nội. Những quầy bán hoa
mọc lên ở mấy ngã tư đường phố Tây quanh Hồ gươm có
nhiều người qua lại; và trong chợ Đồng Xuân. Nhất là
những ngày cuối tháng chạp giáp Tết, phố Cống Chéo Hàng
Lược trở thành cả một chợ hoa, đó là một rừng hoa, và
hoa Ngọc Hà - Hữu Tiệp góp phần vào đó không nhỏ.
LÀNG ĐẠI YÊN
Địa giới làng Đại Yên; phía bắc là Đường Thành (phố
Hoàng Hoa Thám); phía đông giáp làng Hữu Tiệp và làng
Ngọc Hà; phía tây giáp làng Vĩnh Phúc ở chỗ Hồ Dài và
Núi Cung; phía nam là Đường Mới, còn gọi là đường Quần
Ngựa (nay là phố Đội Cấn) đến chân núi Trúc.
Đại Yên là một xã trung bình về diện tích và dân số (Đại
Yên năm 1928 dân số có một nghìn ba trăm ba chín người -
Ngô Vi Liễn: Les communes du
Tonkin). Trước kia
làng này có tên là Đại Bi, cuối thời Hậu Lê gọi là trại
Đại Yên. 1
Đình Đại Yên ở giữa làng, quay về hướng tây nhìn sang
Núi Cung và Núi Cột cờ. Thành hoàng thờ trong đình là
một cô bé chín tuổi, đã lập công với nhà Lý trong một
cuộc chiến tranh đánh nhau với Chiêm Thành năm 1103 và
được Lý Nhân Tông phong là Ngọc Hoa Công chúa; cô mất
sớm, mộ chôn ngay ở sau đình bây giờ. Trong đình có
tượng Ngọc Hoa và nhiều câu đối ghi công trạng của cô.
Đình xây công phu bề thế vì trong làng có nhiều người
làm thợ nề.2
Đại Yên còn là quê của Lý Thường Kiệt, sử cũ chép tên
ông ngày còn trẻ là Ngô Tuấn, và nơi ông sinh là Phương
Thái Hoà3.
Cổng làng ở gần đình, xây cao và to. Từ cổng đình vào có
ba con đường vào làng đều lát gạch; gạch đó là của lệ
nộp cheo (của rể làng người thiên hạ) và khao vọng. Một
đường thông ra Đường Thành (phố Hoàng Hoa Thám) qua "khu
ruộng cửa chùa", ở cạnh Nhầ máy Rượu bia, một đường
thông ra đường Mới (phố Đội Cấn), sát cạnh chùa Bát
Tháp; một đường vòng qua cửa đình rồi đi về phía tây
sang các làng Vĩnh Phúc và Liễu Giai. Sau thêm một đường
nữa - trước kia là đường đất nhỏ - đi sang Ngọc Hà.
Làng Đại Yên có nhiều xóm, những xóm này tập trung cả ở
phía nam đình làng.
Thuộc địa phận Đại Yên có núi Voi, tương truyền là nơi
nuôi voi ngựa của triều đình, trên núi có một ngôi chùa
(thửa ruộng bên dưới vẫn còn gọi là "ruộng cửa chùa").
"Nưm 1892, tên Tây thực dân Hommel âm mưu với tên chánh
tổng bày kế mua được Núi Voi làm chỗ đặt Nhà máy Rượu
bia. Người làng phản đối song không có kết quả. Hôm Tây
cho người dỡ chùa, th |