Trang đầu
Điều kiện tự nhiên
Hà Nội nghìn năm văn hiến
Phố cổ
Du lịch quanh TP và Phụ cận
Thư viện Ảnh




 

<Về trước> • Giới thiệu • Tuyến dọc sông Hồng • Tuyến Kinh Bắc (Quốc lộ 1A lên phía bắc) • Tuyến Quốc Lộ 1A (Về phía nam) • Tuyến Quốc Lộ 2 • Tuyến Quốc Lộ 3 • Tuyến Quốc lộ 5 và đường 182 • Tuyến Đường 18A • Tuyến Xứ Đoài và Quốc lộ 32 • Tuyến Quốc Lộ 6 và Quốc lộ 22
   
 

 

    Đây là tuyến đi về phía tây nam của thủ đô Hà Nội, chủ yếu đi theo lưu vực sông Đáy. Theo tuyến du lịch này vừa có thể thăm nhiều công trình kiến trúc tôn giáo đặc sắc, ấp ủ bao huyền thoại, nhiều thắng cảnh mỹ lệ và những làng nghề có lịch sử vài thế kỷ.

Làng dệt Vạn Phúc

Làng Vạn Phúc thuộc thị xã Hà Đông chuyên dệt các hàng bằng sợi tơ tằm có dư mười thế kỷ. Các hàng này có biến đổi thịnh suy theo thời đại. Có những hàng chỉ còn là ký ức: lĩnh, đoạn, sa, nhiễu, kỳ cầu, băng, xuyến, vóc, the, cấp, nái, sồi. Ngày nay đây chủ yếu sản xuất lụa và gấm. Có lụa trơn, có lụa vân, có gấm nhiều hoa văn, nhiều màu và đáp ứng nhiều thị hiếu thẩm mỹ khác nhau của khách hàng trong và ngoài nước. Chiếc áo dài bằng gấm hay lụa vân cùng chiếc nón bài thơ được coi là biểu tượng của trang phục phụ nữ Việt Nam.

Làng Vạn Phúc suốt ngày rộn ràng tiếng máy thoi đưa. Khách thăm có thể tìm hiểu ngọn ngành mọi công đoạn của nghề dệt lụa, dệt gấm, và chứng kiến nhiều kiểu khung dệt cổ. Nay, máy dệt hiện đại có nhiều, nhưng khung "nửa cơ giới" vẫn còn, riêng có khung cổ điển Việt Nam thì chỉ còn đôi ba nhà giữ làm kỷ niệm.

Nhà bảo tàng của làng Vạn Phúc gắn bó sâu xa với tâm thức người Việt Nam vì tại đây vào đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến", một áng văn hùng hồn tràn đầy tinh thần yêu hoà bình, nhưng kiên quyết bảo vệ độc lập dân tộc.

Rời làng Vạn Phúc đi tiếp trên quốc lộ 6 đến thị trấn Chúc Sơn, từng là chiến trường nghĩa quân Lam Sơn tiêu diệt hàng chục nghìn quân Minh xâm lược. Phía bắc Chúc Sơn là  quần thể di tích Phụng Châu.

Quần thể di tích Phụng Châu

Xã Phụng Châu thuộc huyện Chương Mỹ, một đầu là thôn Phượng Nghĩa, thế đất như chim phượng hoàng cất cánh, ở giữa là thôn Phượng Bản và đầu kia là thôn Long Châu với chùa Hang Tử Trầm có hình thù một con rồng vờn hạt ngọc. Phụng Châu đẹp còn vì có nhiều thắng cảnh danh lam.

Chùa Phú Ninh của thôn Phượng Nghĩa bề thế với hàng loạt bia đá khắc từ thế kỷ thứ XVII- XVlll, trong chùa còn giữ được quả chuông đúc thời Tây Sơn và hai bức phù điêu giàu tính nghệ thuật dân gian, bốn mươi cột đá lớn và những pho tượng, những bức chạm khắc điêu luyện.

Chùa Hoa Nghiêm của thôn Phượng Bản cổ kính hơn, tương truyền xây cất từ thế kỷ thứ X.

Quán Liêu Quang Huyền Diệu thờ một công chúa thời Lê là Quế Hoa. Quán được dựng trên 15 cột đá lớn.

Còn chùa Hang ở núi Tử Trầm là một tác phẩm điêu khắc hoành tráng của tạo hoá.

Các nhũ đá, các vòm núi thật ngoạn mục, những ngày đầu năm 1947, cũng là những ngày đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam đã được đặt ở trong chùa này.

Chùa Trăm Gian

Ở phía tây của di tích Phụng Châu- chùa Trầm, có chùa Trăm Gian. Chùa thuộc xã Tiên Phương, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Chùa chính tên là Quảng Nghiêm Tự, dựng trên một quả đồi cao khoảng dăm chục mét có tên là núi Mã, chung quanh có nhiều cây cổ thụ toả bóng mát, nhiều cây trám, cây trắc lực lưỡng, tán lá xoè rộng che rợp mặt đồi, có tới vài chục cây thông hàng trăm tuổi. Nhiều tài liệu ghi rằng chùa được lập từ thời Lý, vào năm 1185. Cuối thời Trần,thế kỳ XIV có một vị cao tăng quê ở Bối Khê tên là Nguyễn Lữ, hiệu Bình An.

Trong sách "Lĩnh Nam chích quái" có ghi: ông có nhiều phép lạ, có thể làm mưa, gọi gió. Sau khi ông mất, dân làng xây tháp để giữ gìn hài cốt và tôn là "Đức Thánh Bối". Bên làng Bối (nay thuộc xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Tây) cũng có chùa thờ ông.

Chùa Trăm Gian là một quần thể kiến trúc độc đáo. Theo cách tính cứ bốn góc là một gian thì chùa có cả thảy 104 gian, chia thành ba cụm kiến trúc chính.

Cụm thứ nhất gồm bốn cột trụ và hai quán, trước đây là nơi đánh cờ người trong ngày hội, tiếp đó là Giá Ngự nhìn ra hồ sen, nơi đặt kiệu để "Thánh" xem trò múa rối nước trong ngày hội (!)

Trèo qua mấy trăm bậc gạch xây là tới cụm thứ hai gồm một toà gác chuông hai tầng mái. Các ván bưng chung quanh đều có chạm hình mây hoa. Tại đây treo một quả chuông cao 1,10 m, đường kính 0,60 m, đúc năm 1794. Qua gác chuông, leo 25 bậc đá xanh, hai bên có lan can đã chạm hình rồng mây, đến sân trên có kê một sập đá hình chữ nhật. Lại leo chín bậc đá hai bên, có lan can chạm hình rồng cuộn khúc thì tới cụm thứ ba, đó là chùa chính gồm nhà bái đường, toà thiêu hương và thượng điện. Hai bên là hai dãy hành lang. Trong cùng là nhà Tổ, giữa có lầu trống bên trong treo một trống lớn (đường kính tới 1 m) và một khánh đồng dài tới 1,20 m, cao 0,60 m, đúc năm 1749.

Chùa có 153 pho tượng, hầu hết bằng gỗ, một số ít bằng đất nung. Về mặt lịch sử, có pho tượng đặt ở gian bên trái, lâu nay dân địa phương chỉ biết gọi là tượng quan Đô tức là đô đốc Đặng Tiến Đông, một tướng tài ba của nhà Tây Sơn. Lại có bức tượng "Đức Thánh Bối" đặt trong khám gỗ gian bên phải. Tương truyền là tượng bó hài cốt của "Thánh" tức bên trong là thi hài thật, bên ngoài bó sơn.

Làng Nón Chuông

Trở lại Bình Minh, đi xuôi khoảng 8 km rẽ phải tới làng Phương Trung có tên thường gọi là làng Chuông.

Ngày trước người Việt đội nón để che mưa nắng. Nón có khung tre, lợp bằng lá. Cả làng Chuông nhà nào cũng làm được nón. Nguyên liệu gồm lá nón, tre nứa làm khung, sợi mây móc và nay là sợi chỉ công nghiệp. Chỉ cần một cây dao để pha tre pha nứa, vót thành nan, uốn thành vòng, một cái khuôn đặt các vòng (từ to đến nhỏ) rồi các lớp lá nón, cây kim, sợi chỉ.

Đơn giản vậy nhưng phải khéo tay nón mới tròn, đường kim mũi chỉ mới đều và nón mới bền chắc.

Có nhiều loại nón. Nón đội khi đi làm thì dày, cứng cáp, nón đội đi chơi thì mỏng manh, thanh tú. Ngày xưa lại còn nón thúng quai thao, nón tu lờ cho các nhà sư, nón ken bằng tre cho lính tráng...

Đền Đức Thánh Cả

Làng Thái Bình thuộc xã Vạn Thái, huyện Ứng Hòa, xưa tên là Thái Đường, có đền Đức Thánh Cả.

Đền ở ngoài đê, trên bãi bồi của sông Đáy, thờ Đức Thánh Cả là người thời Hùng Vương thứ VI. Ông là con của một trong số 15 vị bộ chủ của nước Văn Lang có công trừ lũ lụt và giúp Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân xâm lược.

Làng Thái Đường là nơi ông đóng đại bản doanh. Sau khi ông mất, dân lập đền thờ ngay trên nền doanh trại cũ. Các đời vua sau phong ông tước Bột Hải Đại Vương. Gọi là Thánh Cả vì ông còn ba người em cùng được thờ ở ba ngôi đền khác trong làng. Hội đền Thánh Cả mở ngày 12 tháng 11 âm lịch.

Đền ở vị trí đẹp, lưng quay ra sông, mặt nhìn sang đê, chung quanh là bãi nhãn. Xa xa là ngàn dâu và nương ngô. Đền còn giữ được một số di vật cổ: Các mảng điêu khắc đẹp trên bộ vì kèo, các bia đá có hoa văn đẹp mắt.

Hồ Quan Sơn

Hồ Quan Sơn thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây.

Điểm đầu tiên là bến đò Hồ Giang Nội, một trong ba hồ lớn của Quan Sơn, rộng chừng hơn 800 ha. Thuyền đưa khách thăm hồ và núi Trâu Trong, núi Quai Chèo, đồi Voi Phục giữa lòng hồ... tiếp tục hành trình tới thăm khu Đầm Sen, rồi vòng quanh đảo Sư Tử, núi Treo Tranh thăm Linh Sơn động, Ngọc Long động... Các hang động ẩn hiện trên nền nước Quan Sơn, với tầng tầng, lớp lớp những măng đá, nhũ đá mang hình long, ly, quy, phượng, hổ, báo, chim muông...

Vượt núi Đá Trượt, lên đập Tràn Ngái, có thể thấy toàn cảnh hồ Quan Sơn hiện ra như Vịnh Hạ Long trên cạn, với nhiều đảo đá nổi lên giữa lòng hồ nước rộng mênh mông nằm lọt trong những dãy núi đá vôi trùng điệp.

Quan Sơn còn có quần thể chùa chiền nằm trên đỉnh núi đá, soi bóng xuống hồ Giang Nội. Từ chùa Linh Sơn xuống núi, men theo núi đá vôi đến chùa Hàm Rồng.

Khách đến Quan Sơn, ngoài thú vui vãn cảnh còn có thể cắm trại trong rừng, đi câu cá, bơi thuyền, leo núi, tắm hồ và được thưởng thức nhiều món ăn đặc sản của vùng nước ngọt.

Chùa Hương

Hương Sơn (hay núi Hương Tích) là địa danh tiêu biểu của vùng núi đá vôi chảy dài theo hướng tây bắc xuống đông nam kể từ xã Miếu Môn (huyện Chương Mỹ) đến xã Hương Sơn (huyện Mỹ Đức) bao gồm hai khối núi đá vôi Quan Sơn và Hương Sơn; nằm trong sơn hệ đá vôi "Sơn La - Mộc Châu" qua Hà Tây, Ninh Bình ra tận bờ biển Kim Sơn, Phát Diệm. Thiên nhiên của Hương Sơn - Quan Sơn đã tạo ra một khung cảnh mang tính tâm linh, huyền bí và thơ mộng.

Hương Sơn còn có tên là Hương Tích Sơn nghĩa là ngọn núi mang dấu vết thơm ngát. Số là trong dãy núi này có một cái hang, tục truyền là nơi tu hành của một công chúa nhân từ hiếu hạnh, chịu muôn vàn cơ cực nguy nan để chuộc tội cho vua cha và sau cô trở thành Phật Quan Âm.

Dòng suối từ bến đò Yến Vĩ tới chùa Hương dài khoảng 5 km. Đò chỉ cần bơi độ một giờ là đến nơi. Hai bên suối là ruộng lúa và núi non.

Trước hết ghé đền Trình. Đền này ở chân một quả núi có năm ngọn gọi là núi Ngũ Nhạc. Rời đền Trình tới hang Bà. Trước cửa hang có bốn chữ "Sơn thuỷ hữu tình".

Thuyền lượn quanh nhiều núi đến bến lên chùa Thiên Trù, thường gọi là chùa Ngoài hay chùa Chò. Từ chùa Ngoài rẽ về phía tay trái có một con đường đá nhỏ men theo sườn núi, đấy là lối đi vào động Hương Tích quen gọi là chùa Trong. Con đường này qua nhiều chùa hang: chùa Tiên San dựng trên đỉnh một ngọn núi cao, chùa Giải Oan ở bên cạnh giếng Long Tuyền. Lối đi lại còn qua núi Chấn Song, trên có một ngôi đền gọi là đền Cửa Võng. Đoạn đường cheo leo trên sườn núi rất đẹp. Một lối đi thoai thoải men theo những sườn đá gồ ghề bốn bề là núi rừng thăm thẳm. Những bụi cây thông xanh bóng trùm mặt đất, những rừng mơ hoa nở trắng, những quả đồi hình dáng như rồng, phượng, rùa, lân...

Chùa Trong ở trong một hang núi được coi là nơi tu hành của nàng công chúa hiếu nghĩa thuở xưa. Trên cửa hang có hàng chữ "Nam thiên đệ nhất động" (động thứ nhất của trời Nam). Vào trong động, gặp cây đá được gọi là cây "gạo", cây "tiền", "buồng tắm", "cũi lợn", "núi đàn"... Có núi Tiểu Nhi gồm những hòn đá trông hệt như những đứa trẻ ngồi nằm ngổn ngang. Trong động có những nơi thờ cúng với các tượng vua cha, hoàng hậu, bà chúa Ba.

Vào những đêm rằm, ánh trăng tràn vào trong động, tường động như được thiếp một lớp vàng óng ánh. Ở những nẻo thông lên trời, vách đá lồi lõm lô nhô ngăn ánh sáng nên bóng trăng đục mờ như sương khói.

Từ Thiên Trù vào động Hinh Bồng phải qua núi Lão, thung Lão; cũng có động, có  chùa. Cũng từ Thiên Trù, ngước nhìn sang phải, thấp thoáng một ngôi tam quan, rẽ theo con đường mới đắp bên phải đi một đoạn là đến động Đại Binh, lòng động sâu có ba tầng, với nhiều nhũ đá hình thù voi chầu hổ phục, rùa, tiên nữ...

Suối Long Vân là một nhánh của suối Yến, bên kia là cánh đồng Đục Khê. Dãy núi con rất thấp và dài, đường đi ven chân núi qua núi Quy như hình con rùa, qua núi ông sư - bà vãi, gần đó có chùa Cây Khế, động Long Vân, đây cũng là đường lên hang Sũng Sàm, di chỉ văn hoá Hoà Bình thời tiền sử.

Rồi còn con Suối Tuyết dẫn vào chùa Bảo Đài, vào động Ngọc Long. Trên đỉnh động có mỏm đá hình đức Phật...

Quần thể di tích Hương Sơn là một thắng cảnh lớn, hằng năm có tới vài trăm nghìn lượt người tới tham quan.