|
Đây là tuyến đi về phía
tây nam của thủ đô Hà Nội, chủ yếu đi theo lưu vực sông
Đáy. Theo tuyến du lịch này vừa có thể thăm nhiều công
trình kiến trúc tôn giáo đặc sắc, ấp ủ bao huyền thoại,
nhiều thắng cảnh mỹ lệ và những làng nghề có lịch sử vài
thế kỷ.
Làng
dệt Vạn Phúc
|
Làng Vạn Phúc thuộc thị xã Hà Đông chuyên
dệt các hàng bằng sợi tơ tằm có dư mười thế kỷ.
Các hàng này có biến đổi thịnh suy theo thời đại.
Có những hàng chỉ còn là ký ức: lĩnh, đoạn, sa,
nhiễu, kỳ cầu, băng, xuyến, vóc, the, cấp, nái,
sồi. Ngày nay đây chủ yếu sản xuất lụa và gấm.
Có lụa trơn, có lụa vân, có gấm nhiều hoa văn,
nhiều màu và đáp ứng nhiều thị hiếu thẩm mỹ khác
nhau của khách hàng trong và ngoài nước. Chiếc
áo dài bằng gấm hay lụa vân cùng chiếc nón bài
thơ được coi là biểu tượng của trang phục phụ nữ
Việt Nam. |
 |
Làng Vạn Phúc suốt ngày
rộn ràng tiếng máy thoi đưa. Khách thăm có thể tìm hiểu
ngọn ngành mọi công đoạn của nghề dệt lụa, dệt gấm, và
chứng kiến nhiều kiểu khung dệt cổ. Nay, máy dệt hiện
đại có nhiều, nhưng khung "nửa cơ giới" vẫn còn, riêng
có khung cổ điển Việt Nam thì chỉ còn đôi ba nhà giữ làm
kỷ niệm.
Nhà bảo tàng của làng Vạn
Phúc gắn bó sâu xa với tâm thức người Việt Nam vì tại
đây vào đêm ngày 19 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã viết "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến", một
áng văn hùng hồn tràn đầy tinh thần yêu hoà bình, nhưng
kiên quyết bảo vệ độc lập dân tộc.
Rời làng Vạn Phúc đi tiếp trên quốc lộ 6 đến thị trấn
Chúc Sơn, từng là chiến trường nghĩa quân Lam Sơn tiêu
diệt hàng chục nghìn quân Minh xâm lược. Phía bắc Chúc
Sơn là quần thể di tích Phụng Châu.
Quần thể di tích Phụng Châu
Xã Phụng Châu thuộc huyện
Chương Mỹ, một đầu là thôn Phượng Nghĩa, thế đất như
chim phượng hoàng cất cánh, ở giữa là thôn Phượng Bản và
đầu kia là thôn Long Châu với chùa Hang Tử Trầm có hình
thù một con rồng vờn hạt ngọc. Phụng Châu đẹp còn vì có
nhiều thắng cảnh danh lam.
Chùa Phú Ninh của thôn
Phượng Nghĩa bề thế với hàng loạt bia đá khắc từ thế kỷ
thứ XVII- XVlll, trong chùa còn giữ được quả chuông đúc
thời Tây Sơn và hai bức phù điêu giàu tính nghệ thuật
dân gian, bốn mươi cột đá lớn và những pho tượng, những
bức chạm khắc điêu luyện.
Chùa Hoa Nghiêm của thôn
Phượng Bản cổ kính hơn, tương truyền xây cất từ thế kỷ
thứ X.
Quán Liêu Quang Huyền Diệu
thờ một công chúa thời Lê là Quế Hoa. Quán được dựng
trên 15 cột đá lớn.
Còn chùa Hang ở núi Tử
Trầm là một tác phẩm điêu khắc hoành tráng của tạo hoá.
Các nhũ đá, các vòm núi
thật ngoạn mục, những ngày đầu năm 1947, cũng là những
ngày đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược,
Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam đã được đặt ở trong
chùa này.
Chùa Trăm Gian
|
Ở phía tây của di
tích Phụng Châu- chùa Trầm, có chùa Trăm Gian.
Chùa thuộc xã Tiên Phương, huyện Hoài Đức, tỉnh
Hà Tây. Chùa chính tên là
Quảng Nghiêm Tự, dựng trên một quả đồi cao
khoảng dăm chục mét có tên là núi Mã, chung
quanh có nhiều cây cổ thụ toả bóng mát, nhiều
cây trám, cây trắc lực lưỡng, tán lá xoè rộng
che rợp mặt đồi, có tới vài chục cây thông hàng
trăm tuổi. Nhiều tài liệu ghi rằng chùa được lập từ thời
Lý, vào năm 1185. Cuối thời Trần,thế kỳ XIV có
một vị cao tăng quê ở Bối Khê tên là Nguyễn Lữ,
hiệu Bình An. |
 |
|
Trong sách "Lĩnh Nam chích quái"
có ghi: ông có nhiều phép lạ, có thể làm mưa,
gọi gió. Sau khi ông mất, dân làng xây tháp để
giữ gìn hài cốt và tôn là "Đức Thánh Bối". Bên
làng Bối (nay thuộc xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai,
Hà Tây) cũng có chùa thờ ông. |
Chùa Trăm Gian là một quần
thể kiến trúc độc đáo. Theo cách tính cứ bốn góc là một
gian thì chùa có cả thảy 104 gian, chia thành ba cụm
kiến trúc chính.
Cụm thứ nhất gồm bốn cột
trụ và hai quán, trước đây là nơi đánh cờ người trong
ngày hội, tiếp đó là Giá Ngự nhìn ra hồ sen, nơi đặt
kiệu để "Thánh" xem trò múa rối nước trong ngày hội (!)
Trèo qua mấy trăm bậc gạch
xây là tới cụm thứ hai gồm một toà gác chuông hai tầng
mái. Các ván bưng chung quanh đều có chạm hình mây hoa.
Tại đây treo một quả chuông cao 1,10 m, đường kính 0,60
m, đúc năm 1794. Qua gác chuông, leo 25 bậc đá xanh, hai
bên có lan can đã chạm hình rồng mây, đến sân trên có kê
một sập đá hình chữ nhật. Lại leo chín bậc đá hai bên,
có lan can chạm hình rồng cuộn khúc thì tới cụm thứ ba,
đó là chùa chính gồm nhà bái đường, toà thiêu hương và
thượng điện. Hai bên là hai dãy hành lang. Trong cùng là
nhà Tổ, giữa có lầu trống bên trong treo một trống lớn (đường
kính tới 1 m) và một khánh đồng dài tới 1,20 m, cao 0,60
m, đúc năm 1749.
Chùa có 153 pho tượng, hầu
hết bằng gỗ, một số ít bằng đất nung. Về mặt lịch sử, có
pho tượng đặt ở gian bên trái, lâu nay dân địa phương
chỉ biết gọi là tượng quan Đô tức là đô đốc Đặng Tiến
Đông, một tướng tài ba của nhà Tây Sơn. Lại có bức tượng
"Đức Thánh Bối" đặt trong khám gỗ gian bên phải. Tương
truyền là tượng bó hài cốt của "Thánh" tức bên trong là
thi hài thật, bên ngoài bó sơn.
Làng Nón Chuông
Trở lại Bình Minh, đi xuôi
khoảng 8 km rẽ phải tới làng Phương Trung có tên thường
gọi là làng Chuông.
Ngày trước người Việt đội
nón để che mưa nắng. Nón có khung tre, lợp bằng lá. Cả
làng Chuông nhà nào cũng làm được nón. Nguyên liệu gồm
lá nón, tre nứa làm khung, sợi mây móc và nay là sợi chỉ
công nghiệp. Chỉ cần một cây dao để pha tre pha nứa, vót
thành nan, uốn thành vòng, một cái khuôn đặt các vòng (từ
to đến nhỏ) rồi các lớp lá nón, cây kim, sợi chỉ.
Đơn giản vậy nhưng phải
khéo tay nón mới tròn, đường kim mũi chỉ mới đều và nón
mới bền chắc.
Có nhiều loại nón. Nón đội
khi đi làm thì dày, cứng cáp, nón đội đi chơi thì mỏng
manh, thanh tú. Ngày xưa lại còn nón thúng quai thao,
nón tu lờ cho các nhà sư, nón ken bằng tre cho lính
tráng...
Đền Đức Thánh Cả
Làng Thái Bình thuộc xã
Vạn Thái, huyện Ứng Hòa, xưa tên là Thái Đường, có đền
Đức Thánh Cả.
Đền ở ngoài đê, trên bãi
bồi của sông Đáy, thờ Đức Thánh Cả là người thời Hùng
Vương thứ VI. Ông là con của một trong số 15 vị bộ chủ
của nước Văn Lang có công trừ lũ lụt và giúp Phù Đổng
Thiên Vương đánh giặc Ân xâm lược.
Làng Thái Đường là nơi ông
đóng đại bản doanh. Sau khi ông mất, dân lập đền thờ
ngay trên nền doanh trại cũ. Các đời vua sau phong ông
tước Bột Hải Đại Vương. Gọi là Thánh Cả vì ông còn ba
người em cùng được thờ ở ba ngôi đền khác trong làng.
Hội đền Thánh Cả mở ngày 12 tháng 11 âm lịch.
Đền ở vị trí đẹp, lưng
quay ra sông, mặt nhìn sang đê, chung quanh là bãi nhãn.
Xa xa là ngàn dâu và nương ngô. Đền còn giữ được một số
di vật cổ: Các mảng điêu khắc đẹp trên bộ vì kèo, các
bia đá có hoa văn đẹp mắt.
Hồ Quan Sơn
Hồ Quan Sơn thuộc huyện Mỹ
Đức, tỉnh Hà Tây.
Điểm đầu tiên là bến đò Hồ
Giang Nội, một trong ba hồ lớn của Quan Sơn, rộng chừng
hơn 800 ha. Thuyền đưa khách thăm hồ và núi Trâu Trong,
núi Quai Chèo, đồi Voi Phục giữa lòng hồ... tiếp tục
hành trình tới thăm khu Đầm Sen, rồi vòng quanh đảo Sư
Tử, núi Treo Tranh thăm Linh Sơn động, Ngọc Long động...
Các hang động ẩn hiện trên nền nước Quan Sơn, với tầng
tầng, lớp lớp những măng đá, nhũ đá mang hình long, ly,
quy, phượng, hổ, báo, chim muông...
Vượt núi Đá Trượt, lên đập
Tràn Ngái, có thể thấy toàn cảnh hồ Quan Sơn hiện ra như
Vịnh Hạ Long trên cạn, với nhiều đảo đá nổi lên giữa
lòng hồ nước rộng mênh mông nằm lọt trong những dãy núi
đá vôi trùng điệp.
Quan Sơn còn có quần thể
chùa chiền nằm trên đỉnh núi đá, soi bóng xuống hồ Giang
Nội. Từ chùa Linh Sơn xuống núi, men theo núi đá vôi đến
chùa Hàm Rồng.
Khách đến Quan Sơn, ngoài
thú vui vãn cảnh còn có thể cắm trại trong rừng, đi câu
cá, bơi thuyền, leo núi, tắm hồ và được thưởng thức
nhiều món ăn đặc sản của vùng nước ngọt.
Chùa Hương
|
Hương Sơn (hay núi Hương Tích) là địa danh
tiêu biểu của vùng núi đá vôi chảy dài theo
hướng tây bắc xuống đông nam kể từ xã Miếu Môn (huyện
Chương Mỹ) đến xã Hương Sơn (huyện Mỹ Đức) bao
gồm hai khối núi đá vôi Quan Sơn và Hương Sơn;
nằm trong sơn hệ đá vôi "Sơn La - Mộc Châu" qua
Hà Tây, Ninh Bình ra tận bờ biển Kim Sơn, Phát
Diệm. Thiên nhiên của Hương Sơn - Quan Sơn đã
tạo ra một khung cảnh mang tính tâm linh, huyền
bí và thơ mộng. |
 |
Hương Sơn còn có tên là
Hương Tích Sơn nghĩa là ngọn núi mang dấu vết thơm ngát.
Số là trong dãy núi này có một cái hang, tục truyền là
nơi tu hành của một công chúa nhân từ hiếu hạnh, chịu
muôn vàn cơ cực nguy nan để chuộc tội cho vua cha và sau
cô trở thành Phật Quan Âm.
Dòng suối từ bến đò Yến Vĩ
tới chùa Hương dài khoảng 5 km. Đò chỉ cần bơi độ một
giờ là đến nơi. Hai bên suối là ruộng lúa và núi non.
Trước hết ghé đền Trình.
Đền này ở chân một quả núi có năm ngọn gọi là núi Ngũ
Nhạc. Rời đền Trình tới hang Bà. Trước cửa hang có bốn
chữ "Sơn thuỷ hữu tình".
Thuyền lượn quanh nhiều
núi đến bến lên chùa Thiên Trù, thường gọi là chùa Ngoài
hay chùa Chò. Từ chùa Ngoài rẽ về phía tay trái có một
con đường đá nhỏ men theo sườn núi, đấy là lối đi vào
động Hương Tích quen gọi là chùa Trong. Con đường này
qua nhiều chùa hang: chùa Tiên San dựng trên đỉnh một
ngọn núi cao, chùa Giải Oan ở bên cạnh giếng Long Tuyền.
Lối đi lại còn qua núi Chấn Song, trên có một ngôi đền
gọi là đền Cửa Võng. Đoạn đường cheo leo trên sườn núi
rất đẹp. Một lối đi thoai thoải men theo những sườn đá
gồ ghề bốn bề là núi rừng thăm thẳm. Những bụi cây thông
xanh bóng trùm mặt đất, những rừng mơ hoa nở trắng,
những quả đồi hình dáng như rồng, phượng, rùa, lân...
|
 |
Chùa Trong ở trong một hang núi được coi là
nơi tu hành của nàng công chúa hiếu nghĩa thuở
xưa. Trên cửa hang có hàng chữ "Nam thiên đệ
nhất động" (động thứ nhất của trời Nam). Vào
trong động, gặp cây đá được gọi là cây "gạo",
cây "tiền", "buồng tắm", "cũi lợn", "núi đàn"...
Có núi Tiểu Nhi gồm những hòn đá trông hệt như
những đứa trẻ ngồi nằm ngổn ngang. Trong động có
những nơi thờ cúng với các tượng vua cha, hoàng
hậu, bà chúa Ba. |
| Vào những đêm rằm, ánh trăng
tràn vào trong động, tường động như được thiếp
một lớp vàng óng ánh. Ở những nẻo thông lên trời,
vách đá lồi lõm lô nhô ngăn ánh sáng nên bóng
trăng đục mờ như sương khói. |
Từ Thiên Trù vào động Hinh
Bồng phải qua núi Lão, thung Lão; cũng có động, có chùa.
Cũng từ Thiên Trù, ngước nhìn sang phải, thấp thoáng một
ngôi tam quan, rẽ theo con đường mới đắp bên phải đi một
đoạn là đến động Đại Binh, lòng động sâu có ba tầng, với
nhiều nhũ đá hình thù voi chầu hổ phục, rùa, tiên nữ...
Suối Long Vân là một nhánh
của suối Yến, bên kia là cánh đồng Đục Khê. Dãy núi con
rất thấp và dài, đường đi ven chân núi qua núi Quy như
hình con rùa, qua núi ông sư - bà vãi, gần đó có chùa
Cây Khế, động Long Vân, đây cũng là đường lên hang Sũng
Sàm, di chỉ văn hoá Hoà Bình thời tiền sử.
Rồi còn con Suối Tuyết dẫn
vào chùa Bảo Đài, vào động Ngọc Long. Trên đỉnh động có
mỏm đá hình đức Phật...
Quần thể di tích Hương Sơn
là một thắng cảnh lớn, hằng năm có tới vài trăm nghìn
lượt người tới tham quan. |