|
Đây là tuyến nối Hà Nội
với Sơn Tây, Hưng Hoá, ngày trước là đường 11A, gần đây
gọi là đường 32. Con đường này chủ yếu là nối xứ Đoài (tức
phần phía bắc của tỉnh Hà Tây ngày nay) với Hà Nội.
Xứ Đoài là một vùng đất cổ.
Tại đây ngành Khảo cổ học đã khai quật những di chỉ có
tới ba bốn nghìn tuổi. Đặc biệt là ở đầu cung đường này
là Thăng Long- Hà Nội và đầu kia là núi Ba Vì, một ngọn
núi cao nhất ở đồng bằng Bắc Bộ, từ lâu đã được coi là
bức bình phong che chắn cho kinh thành Thăng Long. Do
những điều trên, xứ Đoài là một vùng văn hoá mang dấu ấn
xa xưa với những di tích lịch sử, những công trình kiến
trúc nổi tiếng.
Quán Linh Tiên
Quán cách trung tâm Hà Nội
không xa, nằm trên đất làng Cao Xá Thượng thuộc xã Đức
Thượng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây.
Quán nguyên là có sở hành
đạo của những tín đồ đạo Giáo cũng như Chùa là cơ sở
hành đạo của những tín đồ đạo Phật. Ngày trước khi đạo
Giáo còn phát triển thì ở kinh thành Thăng Long, Quán
Huyền Thiên (nay còn ở phố Hàng Khoai), quán Đồng Thiên
(vốn ở thôn Kim Cổ năm 1849 dời sang làng Yên Thái (nay
là số 8 ngõ Tạm Thương) và quán Đế Thích (21 phố Thịnh
Yên). Còn ở ven ngoại thành cũng có một số quán nhưng
lâu đời nhất thì phải là quán Linh Tiên. Tuy quán hiện
nay gọi là chùa, có tượng Phật nhưng vẫn còn cả một hệ
thống tượng khá hoàn chỉnh của đạo Giáo. Trong quán còn
tấm bia "Linh Tiên quán bi ký" có ghi công đức một danh
tướng nhà Mạc đồng thời là một tín đồ đạo Giáo: Đà quốc
công Mạc Ngọc Liễn, là người đã hưng công tu tạo quán
năm 1584. Cũng theo tấm bia này thì quán có từ thời Lữ
Gia (thế kỷ thứ II trước Công nguyên).
Quanh vùng Trôi, có di chỉ
Vinh Quang (xã Cát Quế gần Cao Xá) tìm thấy một đồng
tiền đồng mang niên hiệu Lã Hậu nhà Hán (187-180 trước
Công nguyên). Vậy vùng này là một điểm cư dân đông đúc
thời đầu Bắc thuộc. Trong hậu cung quán Linh Tiên có một
hố sâu mà dân làng gọi là huyệt đan sa, chính là vết
tích lò luyện linh đan của các đạo sĩ đạo Giáo.
Ở đây còn có một chuông
đúc năm 1797 và là chuông thời Tây Sơn lớn nhất hiện
thấy trên địa bàn Hà Nội.
Đình Đại Phùng
Theo quốc lộ 32, sẽ tới
chợ của làng Đại Phùng. Cách chợ chừng 200 m là đình
làng. Đại Phùng nay thuộc xã Đan Phượng, huyện Đan
Phượng, tỉnh Hà Tây, nằm trải dài trên bờ trái của sông
Đáy. Toàn bộ kiến trúc đình gồm nhà tiền tế, đại đình
hình chuôi vồ, nhưng chỉ có đại hình là cổ (thế kỷ 17),
còn hai nếp nhà kia mới xây gần đây.
Đình lợp ngói mũi hài, bốn
mái có dộ dốc lớn bốn góc đao cong vút. Các vị trí kiến
trúc đều có điêu khắc trang trí với các đề tài sinh hoạt
thật đa dạng: Uống rượu, trai gái tự tình, cô gái tắm hồ
sen, ông tiến sĩ vinh quy bái tổ, đấu vật... Về đề tài
động vật thì ngoài khỉ, hươu, chó, có rồng giao tranh
với kỳ đà, rồng quấn quít thành bầy, đùa giỡn với người,
rồng uốn lưng cho người cưỡi... Ngoài phần trang trí
chạm nổi, đình còn một số tượng hình tròn như voi, ngựa,
tiên có cánh...
Đình Đại Phùng thờ Vũ Hùng,
một võ tướng thời Trần Anh Tông (thế kỷ XIV) có công xây
dựng xóm làng an khang.
Quán Giá
Làng Giá nay thuộc huyện
Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Quán thờ thành hoàng làng.
Quán Giá thờ Lý Phục Man -
một chiến tướng đời Lý Nam Đế. Nay quán còn hai tam quan,
hai bức tường và hậu cung. Về hai tam quan, cái ngoài
cách cái trong 20m được các nhà nghiên cứu coi là trường
hợp duy nhất trong cấu trúc đình và đền Việt Nam. Trên
tam quan thứ hai có gắn 49 mảnh đất nung có trang trí.
Nhưng đặc biệt hơn là ở hai bức tường liền với hai cột
trụ lớn có những viên gạch nung hình vuông, có đường chỉ
viền chung quanh, giữa là những hình nổi. Không hình nào
giống hình nào, tạo thành một bức tranh sinh động. Dân
gian coi đó là phong cảnh sinh hoạt: Người dong trâu cày
ruộng, cô gái tắm ao sen, người cưỡi voi, người cỡi ngựa,
người gánh củi, hai người đánh cờ, người bơi thuyền đánh
cá, chú bé chăn trâu có hai em khác đứng bên đùa nghịch...
Nhưng các nhà nghiên cứu đạo Phật thì coi đó là những
tích trong Phật thoại: cảnh hươu và mặt trời (hay hoa)
là minh hoạ cảnh Phật Thích Ca thuyết pháp lần đầu ở Lộc
Uyển, cảnh ao sen có người tắm là phản ánh cảnh Phật tắm
trước khi lên ngồi gốc cây bồ đề, cảnh voi và hai người
ngả vật là cảnh voi điên ở Rajafgrha...
Trong hậu cung hiện vẫn
còn tượng Lý Phục Man. Làng Giá có lệ mở hội vào tháng
ba âm lịch, nổi bật nhất là đám rước. Người đi rước đầu
mặc áo đỏ, đội khăn đỏ, chỉnh tề như hành quân. Sau khi
rước có tổ chức một cuộc múa lớn ở trước tam quan gọi là
trò "Nghiêm quân", có hàng trăm người
tham gia. Múa "Nghiêm quân" đi theo hình trôn ốc, diễn
lại một trận đánh bị quân giặc bao vây bốn phía, nhưng
người tướng cầm lá cờ đại để phá vây, lộn từ trong trở
ra rất tài. Người xem khó nhận ra người tướng đó vòng
trở ra lúc nào.
Chùa Tây Phương
|
Chùa tên chính là
Sùng Phúc Tự, ở thôn Yên, xã Thạch Xá, huyện
Thạch Thất, tỉnh Hà Tây, có 18 pho tượng các vị
sư tổ rất đặc sắc. Chùa dựng trên một
ngọn núi cao chừng năm chục mét, hình cong cong
như chiếc lưỡi câu nên có tên núi Câu Lâu. Nhìn
từ xa, núi này cùng với những ngọn đồi vùng Kim
Quan trông như một đàn trâu, mà núi Câu Lâu là
con đầu đàn đang quay đầu lại tìm nước uống phía
đầm sen. |
 |
Từ chân núi leo lên 239
bậc lát đá ong lên đến đỉnh núi cũng là vừa đến cổng
chùa. Chùa có ba nếp, mỗi nếp có hai tầng mái. Các cột
gỗ đều kê trên tảng đá xanh, tròn, có chạm hình cánh sen.
Mái ngói lợp rất công phu, lớp trên là thứ ngói mũi đúc
hình lá đề nổi, lớp dưới là ngói lót hình vuông đều tăm
tắp. Chung quanh diềm mái của ba nếp nhà đều chạm trổ
tinh tế theo hình lá cuốn. Trên mái gắn nhiều con giống
bằng đất nung. Các đầu đao mái chùa cũng bằng đất nung,
đường nét nổi lên hình hoa lá rồng phượng.
Chùa Tây Phương hội tụ
những tác phẩm xuất sắc của nghệ thuật điêu khắc dân tộc
(bao gồm cả chạm trổ, phù điêu và tạc tượng). Khắp chùa
hầu như chỗ nào có gỗ là có chạm trổ các hình lá dâu, lá
đề, hoa sen, hoa cúc, rồng, phượng, hổ phù... vốn là các
kiểu cách trang trí quen thuộc của dân tộc Việt.
Đến thăm chùa, sẽ thấy một
thế giới tượng, một cuộc sống riêng của bảy tám chục pho
tượng bằng gỗ sơn son thiếp vàng, trong đó có những pho
nổi tiếng như tượng Bát Bộ Kim Cương, tượng Tuyết Sơn;
tượng các Tổ của Thiền Tông... Trong số này có những pho
đáng liệt vào hạng tuyệt tác của nghệ thuật điêu khắc
Việt Nam như pho La Hầu, La Đa và tượng Tuyết Sơn. La
Hầu, La Đa mang chân dung một cụ già Việt Nam: Khuôn mặt
dài, mắt nhỏ mũi thấp, gò má cao, môi mỏng và hơi xếch
hai mép ngoài. Dưới cái áo rộng với những nếp tự nhiên
là thân hình gầy gò. Những nếp áo tượng La Hầu, La Đa
này có thể nói là có một không hai trong nghệ thuật điêu
khắc diễn đạt y phục và hình thể một cách tài tình.
Những phần để lộ da thịt ra (như ở ngực, tay, bàn tay),
chứng tỏ nghệ nhân am hiểu cả về giải phẫu học. Hai bàn
tay gầy guộc thấy rõ từng đốt xương, dáng điệu một tay
cầm gậy, một tay để trên gối thật thoải mái.
Núi
Thầy và cụm di tích Chùa Thầy
|
Núi Thầy tên chữ là Sài Sơn, chùa Thầy tên
chữ là Thiên Phúc Tự. Núi cao 105m, có hình dáng
một con rồng đột ngột nổi giữa đồng bằng, chung
quanh là hình các con vật linh như rùa, lân,
phượng hoàng, có 16 trái núi mà trước gọi là "thập
lục kỳ sơn". Núi Thầy thuộc xã Sài Sơn huyện
Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, có nhiều hang động đẹp,
như hang Thánh Hoá có hình tượng nhà sư Từ Đạo
Hạnh (?- 1117), tu luyện ở đây, in trên vách đá,
hang Cắc Cớ với cơ man ngóc ngách, nhũ đá long
lanh như khảm bạc, dát vàng. Dưới chân và lưng
núi có nhiều ngôi chùa, mỗi ngôi ấp ủ sự tích
một huyền thoại |
 |
Chùa Thầy dựa vào sườn tây
nam núi Thầy. Phía trước chùa, bên trái là núi Long Đẩu.
Giữa hai ngọn Sài Sơn và Long Đẩu là một đầm rộng, mang
tên Long Trì (Ao Rồng). Giữa Long Trì có thuỷ đình xinh
xắn, nơi thường diễn trò múa "rối nước" đặc sắc. Hai
chiếc cầu cổ kiểu "thượng gia hạ kiểu" ba nhịp có mái
che do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan (1528-1613) xây dựng
vào năm 1602, làm tôn thêm vẻ đẹp phía ngoài chùa. Bên
trái là cầu Nhật Tiên, trông vào đền Tam Phủ, làm nên
một đảo nhỏ giữa ao. Bên phải là cầu Nguyệt Tiên nối vào
đường đi lên chùa Cao trên núi.
Cụm kiến trúc chính của
khu thắng cảnh Sài Sơn là Chùa Cả bao gồm ba lớp nhà lớn,
dựng trên nền cao bó đá xanh, đối diện với thủy đình.
Lớp ngoài là nhà tiền tế, lớp giữa thờ Phật; lớp trong
cùng thờ Từ Đạo Hạnh. Ở lớp trong cùng có bày ba pho
tượng diễn tả "ba kiếp" của thiền sư Từ Đạo Hạch. Chính
giữa là tượng thiền sư đã thành Phật, đội mũ hoa sen,
tay chắp trước ngực, khoác áo vóc vàng. Tượng đặt trên
bệ đá quý, chạm hoa sen, chim thần (đầu chim mình người
có thể là chịu ảnh hưởng chim Garuda của nghệ thuật Chăm),
rồng uốn khúc... Bên trái là tượng toàn thân thiền sư
bằng gỗ bạch đàn, chân tay có khớp cử động được. Khi tu
ở am Hương Hải trên đỉnh núi, thiền sư có làm thuốc chữa
bệnh cứu người và bày trò múa rối cho dân vui chơi giải
trí. Bên phải là tượng Vua Lý Thần Tông (1128-1138).
Sau chùa là động Phật Tích
cũng gọi là hang Thánh Hoá. Phía ngoài có bàn thờ, có
khe suối nhỏ từ trên núi chảy xuống qua một đầu rồng rót
vào bể xây chứa nước trong vắt, giữa động là vách đá,
lên cao là cửa vào ngăn trong, nhỏ hẹp có mấy vết lõm
trên đá. Từ chùa Cao, đi vòng theo lối mòn ven núi, qua
vài chục bậc đá nữa, sẽ đến hang Cắc Cớ. Hang khá tối,
rộng và sâu.
Đi ngược một quãng nữa,
dọc đường có nhiều cây đại cổ thụ tới đền Thượng. Sau
đền là hang Bụt Mọc có nhiều tảng đá lô nhô như tượng
Phật. Sài Sơn còn có hang Gió, trống cả hai đầu lúc nào
cũng có gió lùa mát lạnh; có Chợ trời - một mặt bằng
không rộng lắm ở phía trên chùa Cao, ngổn ngang nhiều
tảng đá hình bàn, ghế, kệ bày hàng. Chân núi phía tây có
chùa Bổi Am, còn gọi là chùa Một Mái, vì chùa chỉ có một
bên mái, bên kia là vòm hang, được dựng từ thế kỷ XVI,
và đã trải qua nhiều lần tu bổ. Phía sau chùa là nhà Tổ
gồm năm gian hai chái. Hội chùa Thầy mở vào tháng ba âm
lịch hằng năm.
Đường Lâm
|
Với 21 đồi gò, 18 rộc sâu và con sông Tích
xanh trong uốn quanh, cả xã Đường Lâm gồm các
thôn Cam Lâm, Đông Sàng, Mông Phụ nổi lên trong
một cảnh đẹp trung du. Tại đây còn đình thờ
Phùng Hưng, đình và lăng Ngô Quyền với các
chuông đồng, khánh đá, đồ gốm sứ. Các bức chạm
và các bia đá cổ lớn nhất là tấm bia dựng năm
1390 thời Trần, có giá trị cả về nghệ thuật và lịch sử. Đình
thờ Phùng Hưng, không rõ dựng từ đời nào, chỉ
biết công việc trùng tu để có dáng vóc như hiện
nay là vào năm 1889. Đình còn tấm bia ghi lại sự
tích của Phùng Hưng và Ngô Quyền, dựng năm Quang
Thái thứ 3 (1390). |
 |
Phùng Hưng, một thủ lĩnh
chống quân xâm lược nhà Đường vào thế kỷ Vlll vốn là hào
trưởng đất Đường Lâm. Không chịu nổi ách thống trị tàn
bạo của bọn đô hộ phương Bắc, ông đã phất cờ khởi nghĩa,
kéo dài 25 năm (766-791), tiến tới giải phóng Đại La (Hà
Nội bấy giờ) và đóng quân ở đấy bảy năm, cho đến khi mất
(788). Ngoài ngôi đình ở đây còn có những địa điểm liên
quan đến truyền thuyết về Phùng Hưng và em là Phùng Hải
đã trừ hổ dữ, luyện võ, tập trận, bắt giam giặc như Vũng
Hùm, đồi Hổ Gầm, đồi Sà Xâu, giếng Ngục, rặng duối buộc
voi ...
Đình và lăng Ngô Quyền ở
cách đình Phùng Hưng khoảng 300 m. Ngôi đình được tu sửa
lớn nhất vào năm 1858. Lăng của ông ở phía trước cửa
đình, có tường bao, giữa đặt một cỗ ngai rồng và tấm bia
đá có 4 chữ "Tiên Ngô Vương Lăng" khắc vào năm 1821.
Năm 938, Ngô Quyền, người
xã Đường Lâm, thống lĩnh binh mã chống quân xâm lược Nam
Hán. Với trận Bạch Đằng, Ngô Quyền đã đánh tan 20 nghìn
thủy bỉnh của tướng giặc Hoàng Thao, mở ra thời kỳ độc
lập, tự chủ cho dân tộc. Ông mất năm 944.
Nhà bảo tàng truyền thống
xã Đường Lâm còn lưu giữ những hiện vật quý: chiếc rìu
đá thuộc thời kỳ đồ đá mới đào được ở địa phương, cọc gỗ
dùng trong chiến trận xưa được đưa từ bãi cọc Bạch Đằng
về và pho tượng vị Anh hùng làm nên chiến thắng Bạch
Đằng. Làng cổ đá ong Đường Lâm là làng Việt điển hình
được bảo tồn và là một điểm du lịch hấp dẫn.
Chùa Mía
|
Chùa Mía có từ lâu,
tên chữ là Sùng Nghiêm Tự, được bà Ngọc Dung là
phi tần của chúa Trịnh Tráng (1623-1657) đứng ra
tôn tạo. Chùa nằm trên một ngọn đồi đá ong, quy
mô lớn, chia ra ba khoảng tách bạch. Ngoài cùng là gác
chuông, tiếp đó là mảnh sân. Ở bên góc phải có
một cây đa vài trăm tuổi. Qua một cổng gạch thì
vào khoảng thứ hai. Một sân gạch ở giữa có bồn
hoa, một bên là dãy nhà Tổ, một bên là nơi ở của
các nhà sư. Tiếp đó là khu chùa chính gồm nhà
bái đường, chùa hạ, chùa trong, thượng điện.
|
 |
| Ở nhà bái đường có một bia đá
dựng năm Đức Long thứ VI (1632) thời Lê, cao hơn
1,6 m, là một trong số ít tấm bia to và đẹp còn
lại tới nay. |
Chùa Hạ và chùa Trong nối
với nhau bằng hai dãy hành lang bao quanh nhà thượng
điện làm theo kiểu chuôi vồ, các cấu kiện gỗ đều được
chạm trổ rất đẹp mắt.
Toà gác chuông hai tầng
tám mái treo một chuông đồng đúc năm 1743 và một khánh
đồng đúc năm 1846.
Trong chùa có 287 pho
tượng lớn nhỏ trong đó có sáu tượng đồng, 107 tượng gỗ,
174 tượng đất luyện, sơn son thiếp vàng. Nhiều pho tượng
có thể coi là tác phẩm trứ danh của nghệ thuật tạo hình
Việt Nam Bát bộ Kim Cương, là hình tượng tám võ tướng.
Hình khối, bố cục vững vàng, thân hình cân đối, đường
nét phóng khoáng và khoẻ khoắn. Nếu các pho tượng sư Tổ
chùa Tây Phương diễn tả thành công nội tâm thì bát bộ
Kim Cương chùa Mía thể hiện tài tình ngoại hình, dung
mạo những dũng tướng. Hai dãy hành lang cũng có những
pho tượng tuyệt tác, tiêu biểu là pho "Quan âm Tổng tử"
thường gọi là tượng Bà Thị Kính. Tượng diễn tả một người
phụ nữ thuỳ mị, có duyên, vẻ mặt hơi buồn và rất hiền,
ẵm một đứa bé bụ bẫm, kháu khỉnh. Nét chạm mềm mại, trau
chuốt, thoải mái về dáng điệu, toát lên vẻ đẹp tinh thần
của người mẹ Việt Nam
Đình
Tây Đằng
|
Trở ra quốc lộ 32,
đi ngược lên phía tây bắc đến km 52 rẽ trái đi
khoảng 1 km sẽ gặp một ngôi đình cổ cũng rất đặc
sắc, đó là đình làng Tây Đằng, thuộc huyện Ba Vì,
tỉnh Hà Tây. Đây là một công
trình kiến trúc tín ngưỡng có giá trị nghệ thuật
điêu khắc, chạm trổ và trang trí trên các cấu
kiện bằng gỗ của công trình. |
 |
| Chính ở nếp đình này, những
người thợ của xứ Đoài đã gửi vào thớ gỗ, nhát
đục, đường xoi…những sáng tạo mang lý tưởng thẩm
mỹ lạc quan và hồn nhiên. |
Đình Tây Đằng có thể được
xây dựng vào thế kỷ XVI, là nơi thờ Sơn Tinh, một nhân
vật thần thoại, một anh hùng văn hoá có công trị thuỷ,
ngự trị trên đỉnh núi Tản Viên.
Đình gồm năm gian bốn mái.
Các đầu đao đều uốn cong có gắn các con giống hình long,
ly, quy, phượng bằng đất nung. Ở hầu hết các cấu kiện
bằng gỗ đều có chạm khắc hình rồng, phượng, và hoa lá
chiếm tỷ lệ lớn trong các đề tài trang trí, hình rồng ở
đây mềm mại và linh hoạt lạ thường. Chim phượng cũng vậy,
được chạm theo lối phượng múa. Loại hình điêu khắc này
là nét độc đáo riêng biệt của đình Tây Đằng.
Hoa lá được chạm trổ nhiều,
phổ biến là những hình hoa cúc cánh nở xoè, ở giữa có
những lớp cánh còn cụm lại, bên cạnh là những lá cúc
được cách điệu đôi chút. Ngoài hoa cúc còn có phù dung
với các cánh hoa nở xoè uốn sang hai bên một cách cân
đối với những đường cong nhẹ mát.
Hình mây cũng thật đặc
biệt: Toàn là loại mây xoắn ốc hoặc mây có cánh nhọn,
chứ không phải các loại mây hình tròn đăng đối hoặc mây
hình lưỡi mác quen thuộc ở các công trình khác.
Nhưng độc đáo là những bức
chạm trên các bức cốn, các ván lóng... phản ánh sinh
động nhiều mặt cuộc sống của người dân thôn dã. Chỉ với
vài ba nét đục giản dị, nghệ nhân đã để lại trên thớ gỗ
bao cảnh đời khác nhau; từ những cảnh lam lũ như người
tiều phu đốn củi, hào hứng như người làm trò trồng cây
chuối, say sưa như cảnh bơi thuyền chuốc rượu hay tình
tứ như cảnh trai gái chải tóc cho nhau hoặc trăn trở như
bức chạm "Mẹ gánh con". Ở đây, chân mẹ như lún sâu trên
đường đất gồ ghề. Cái nón đầy và rộng như úp chụp lên
toàn bộ thân hình người phụ nữ thời xưa... Tất cả nói
lên rằng đây chính là những nét độc đáo của nghệ thuật
điêu khắc Việt Nam vào khoảng thế kỷ XVI, XVII.
Hồ Đồng Mô - Ngải Sơn
|
Là công trình thuỷ
lợi mới xây dựng trong những năm 1966 - 1967, hồ
mang tên gọi của hai làng Đồng Mô thuộc xã Yên
Bái, huyện Ba Vì và Ngải Sơn thuộc xã Kim Sơn,
nay thuộc thị xã Sơn Tây. Trước đây là một
vùng đồi núi nhấp nhô, sau đó đắp các con đập
nối đồi Kiến (133m) và đồi Con Ma(102m) tạo
thành hồ. |
 |
|
Nước nguồn của sông Hang từ đó
được giữ lại trong hồ dài 17 km, rộng trung bình
4 km, diện tích mặt nước 1300 ha, chống úng và
hạn cho đồng ruộng bốn huyện Phúc Thọ, Thạch
Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ (tỉnh Hà Tây). |
Trong lòng hồ còn hơn 60
ha đất đồi chưa ngập, trở thành những hòn đảo nhấp nhô
với một thảm thực vật xanh dịu đẹp và mát mắt. Khách có
thể bằng ca nô du ngoạn trên mặt hồ hoặc ghé vào các đảo
để nghỉ ngơi. Đặc biệt có sân "Gôn" 18 lỗ dành cho những
khách yêu môn thể thao này trong thời gian rảnh rỗi.
Khu vực Đồng Mô - Ngải Sơn
đang trên đường trở thành khu nghỉ cuối tuần sáng giá
tại cửa ngõ phía tây Hà Nội.
Hồ Suối Hai
|
Suối Hai, tên gọi
chung của hai con suối Yên Cư và Cầu Rồng, được
đắp đập ngăn nước và thành hồ, cải tạo bài trí
lại thiên nhiên mà có. Hồ Suối Hai nằm
trên địa phận ba xã Thuỷ An, Cẩm Linh, Tân Lĩnh
của huyện Ba Vì. |
 |
| Trước đây, hằng năm, cứ vào mùa
mưa, nước từ các suối nhỏ trên sườn núi, sườn
đồi vùng xung quanh dồn vào Suối Hai rồi chảy ra
sông Tích, thường gây ra úng lụt. Nhưng tới mùa
khô sông Tích lại cạn kiệt và hạn hán đe doạ. |
Năm 1958, phương án xây
dựng hê thống Suối Hai, một công trình trị thuỷ sông
Tích được đề ra và thực hiện. Năm 1964, hồ Suối Hai được
khánh thành. Một hệ thống đập, cống. kênh, cầu... được
tạo nên, biến
Suối Hai cổ sơ và một
nghìn ha núi đồi gò đống ở đôi bờ thành ra một hồ điều
tiết nước với chiều sâu trên 20 m. Đứng trên bờ đập
chính nhìn về bốn bề, nhìn hút tầm mắt cũng chẳng thấy
bờ; chỉ thấy xa xa xanh một mầu núi màu trời.
Suối Hai có nhiều lợi ích.
Trước hết là về mặt thuỷ lợi, với sức chứa tới 50 triệu
mét khối nước, hồ này đủ tới cho ruộng đất vùng Ba Vì,
đồng thời loại trừ nạn úng lụt do sông Tích gây ra. Hồ
còn là vực cá và mặt hồ mênh mông là nơi cư trú của mòng,
két, vịt trời... Khi có gió bấc thổi, những loài chim
trời kia bay về đậu kín mặt hồ. Giữa hồ lại có đảo, viền
quanh hồ là những đồi gò thấp cao đứt, nối.
Suối Hai đã trở thành một
thắng cảnh và nơi nghỉ mát quen thuộc đối với du khách. |