Trang đầu
Điều kiện tự nhiên
Hà Nội nghìn năm văn hiến
Phố cổ
Du lịch quanh TP và Phụ cận
Thư viện Ảnh




 

<Về trước> • Giới thiệu • Tuyến dọc sông Hồng • Tuyến Kinh Bắc (Quốc lộ 1A lên phía bắc) • Tuyến Quốc Lộ 1A (Về phía nam) • Tuyến Quốc Lộ 2 • Tuyến Quốc Lộ 3 • Tuyến Quốc lộ 5 và đường 182 • Tuyến Đường 18A • Tuyến Xứ Đoài và Quốc lộ 32 • Tuyến Quốc Lộ 6 và Quốc lộ 22
   
 

 

    Tuyến đường này sẽ dẫn du khách tới các di tích - danh thắng nổi tiếng ở phía đông. Có thể theo quốc lộ 1A đi Bắc Ninh rẽ sang huyện Chí Linh hoặc đến Hải Dương đi qua huyện Nam Sách.

Vạn Kiếp

Vạn Kiếp là địa điểm chiến lược từng ghi nhiều chiến công oanh liệt của quân dân thời Trần trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, nơi Hưng Đạo Vương - Trần Quốc Tuấn lập phủ điện nay thuộc địa phận hai thôn Dược Sơn và Vạn Kiếp, xã Hưng Đạo huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương. Hiện còn đền thờ (Đền Vạn Kiếp) xây trên nền phủ điện cũ.

Trong những đợt khai quật khảo cổ ở quanh đền đã tìm thấy nền nhà lớn, thềm cao, sân rộng lát gạch hoa, ống thoát nước, nhiều gạch ngói và đồ gốm cổ chứng tỏ nơi đây xưa kia đã từng có nhiều dinh thự lớn.

Vạn Kiếp nằm gọn giữa thung lũng rộng và sâu, phía trước là sông Lục Đầu, ba phía còn lại đều là núi, vây quanh thành hình cánh cung, có ngọn Nam Tào, Bắc Đẩu tạo thành thế hổ phục, rồng chầu theo thuyết phong thủy, ngày xưa phủ điện của Hưng Đạo Vương vốn ở sâu phía trong (gọi là thung trong), địa thế chật hẹp, sau chuyển ra phía thung ngoài. Hiện nay còn di tích con đường nhỏ nối hai thung, gọi là "đường gánh gạch".

Đến thăm Kiếp Bạc, theo đường thủy, từ xa đã trông thấy khu đền, mái nâu lớp lớp nối nhau, tường hồi trắng xoá, cổng lớn ba cửa vào ra nguy nga đồ sộ.  

Toà hậu cung còn khá nguyên vẹn, trong có đặt tượng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, tượng Hưng Đạo Vương phu nhân, tượng Hưng Vũ Vương và tượng Hưng Nhượng Vương là hai con trai, tượng hai bà và tượng Điện Suý Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão là con rể. Sau này có thêm tượng Yết Kiêu, Dã Tượng là hai gia tướng nổi danh; tất cả đều bằng đồng.

Trước tượng Hưng Đạo Vương có đặt một thanh kiếm. Trong đền có bia ghi việc trùng tu. Gần đền là Viên Lăng, nơi an táng Hưng Đạo Vương. Đó là một quả núi thấp hình tròn, cây cối mọc um tùm.

Chung quanh đền còn có một số địa danh lịch sử thường được nhắc tới qua truyền thuyết, có liên quan đến vị trí quân sự xung yếu, Vạn Kiếp đã từng được đặt hành dinh trong chiến tranh chống quân Nguyên - Mông  xâm lược có Dược Sơn (đồi trồng thuốc để điều trị thương bệnh binh); xưởng thuyền, hang tiền, hang thóc...

Hội đền Vạn Kiếp mở vào ngày 16 tháng tám âm lịch.

Côn Sơn

Tên một quả núi đất pha đá, cao khoảng 200 mét, có ba mỏm nhô lên như con kỳ lân phủ phục nên còn gọi là núi Kỳ Lân. Thắng cảnh Côn Sơn bao gồm núi non chùa tháp, rừng thông, khe suối... và những di tích nổi tiếng gắn liền với cuộc đời của nhiều danh nhân trong lịch sử. Thời Trần, Côn Sơn là một trong những ba trung tâm Phật giáo lớn (Côn Sơn - Yên Tử - Quỳnh Lâm).

Nhiều vị cao tăng như Pháp Loa, Huyền Quang đã dựng am cỏ tu hành. Núi nằm trên địa phận thôn Chi Ngại (huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương) là quê gốc của Nguyễn Trãi. Hồi nhỏ, ông đã được ông ngoại là quan tư đồ Trần Nguyên Hãn đưa về nuôi dạy trong trong Thanh Hư động ở Côn Sơn.

Cuối đời, khi cáo quan, Nguyễn Trãi đã về đây. Chùa Côn Sơn, tên chữ là Tư Phúc Tự, còn gọi là chùa Hun được dựng ở chân núi phía nam, có từ trước thời Trần. Vua Trần Thái Tông (1225-1258) đã từng đến thăm chùa.

Chùa Hun ngày nay còn hai cây đại ngoài sáu trăm tuổi, gốc sù sì, cành giao nhau, thân ngả sát đất, mùa hoa nở vàng rực. Chùa có tượng A di đà cao gần 3m, đặt trên bệ. Phía sau là nhà Tổ, có tượng Trúc Lâm Tam tổ, tượng ông bà Trần Nguyên Đán và hai pho tượng nữa, gần đây đã xác định được là tượng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ.

Phía trước chùa có dựng bốn nhà bia (hai nhà bia cũ bên phải có tấm bia "Côn Sơn Tự Phúc thiền tự bi" hình trụ sáu mặt, nóc bia tạc kiểu long đình, dựng năm Hoàng Định thứ tám (1608) đời vua Lê Kính Tông, nội dung ghi lại việc trùng tu chùa. Nhà bia mới bên trái có tấm bia lớn đặt trên lưng rùa, khắc ba chữ "Thanh Hư Động", bút tích của Trần Duệ Tông (1373-1377).

Khu mộ tháp ở phía sau chùa, bên đường lên núi, dưới vòm lá xanh tươi của những hàng cây. Nổi bật nhất là "Đăng Minh bảo tháp" dựng bằng đá xanh, cao hơn 5 m, gồm ba tầng đặt xá lị và tượng của Huyền Quang (1254 -1334).

Phía sau khu mộ tháp là con đường khá rộng, có xây bậc ở từng đoạn dẫn lên đỉnh núi. Hai bên lối đi là hàng thông cổ thụ, những cây hương bài toả hương thơm dịu và những bụi mẫu đơn lá xanh sẫm đơm hoa đỏ rực giữa vạt đất của những am thờ Phật thuở xưa. Từ trên núi theo lối mòn có kê đá đi xuống phía chân núi, rẽ đến một nơi có tảng đá lớn, mặt phẳng nhẵn, nằm kề ven suối gọi là Thạch Bàn.

Thanh Hư Động là ở khoảng này. Thơ của Nguyễn Trãi cũng nói nhà ông ngoại ở chân núi Côn Sơn-Ngũ Nhạc. Đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là công trình mới thu hút nhiều du khách đến tưởng niệm Người, một danh nhân văn hoá thế giới.

Yên Tử

Yên Tử còn gọi là Bạch Vân Sơn (núi giữa mây trắng) cao 1068 m, cách thị xã Uông Bí (Quảng Ninh) khoảng 15 km về phía tây bắc, từ xa xưa đã được coi là "núi tổ miền Hải Đông", nơi phát tích của Thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông (1258 - 1308) sáng lập. Trúc Lâm chủ trương "nhập thế" và "tu tại tâm", gắn bó đạo với người, đoàn kết dân tộc và thống nhất ý chí giữ gìn nền độc lập, tự chủ của đất nước, là một thiền phái mang đậm bản sắc Việt Nam. Yên Tử cảnh đẹp nhưng đường khá cheo leo, lắm suối, nhiều đèo dốc cao, khe sâu, lối mòn ngoắt ngoéo luồn qua thung trúc rừng tùng, dẫn lên đến đỉnh quanh năm mây phủ.

Gần đây, ở Yên Tử đã có cáp treo, tạo thuận lợi cho khách hành hương. Đường vào Yên Tử ngày nay bắt đầu từ Dốc Đỏ, cạnh quốc lộ 18. Thoạt tiên là suối tắm. Gần suối Tắm là chùa Cầm Thực, tiếp đó là chùa Lâu Động, cũng gọi Chùa Lâu???, đã được dựng lại khá bề thế. Vượt qua đèo Voi, là chùa Giải Oan (tên cũ là Hổ Khê).

Qua núi Hạ Kiệu có con đường nhỏ dẫn tới chùa Hoa Yên vừa được dựng lại theo phong cách kiến trúc thời Trần. Dốc núi cheo leo xếp đá thành bậc. Trên đường lên chùa, có khu tháp gần Hòn Ngọc, tương truyền có đặt xá lị của Trúc Lâm đệ nhất Tổ: Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Tháp cao 10 m, có sáu tầng.

Nền tháp hình sáu cạnh ghép bằng những tảng đá lớn, chạm hoa văn sóng nước hình núi; bệ tháp tạc hình đài sen 102 cánh đỡ lấy thân tháp hình trụ, càng lên cao càng thu nhỏ lại. Tầng trên mở cửa hướng nam, trong có tượng Trần Nhân Tông khoác áo cà sa để trần vai bên phải, đang ngồi trong tư thế nhập thiền, tạc bằng đá trắng, đặt trên bệ đá chạm rồng.

Đỉnh tháp tạc búp sen đá. Tháp được đặt giữa một khu đất hình vuông, có tường cao xây bằng gạch vổ nung già vây quanh bốn mặt. Bờ tường lợp ngói mũi hài kép, trông như sóng gợn. Mặt tường phía nam và mặt tường phía bắc có cửa vòm cuốn. Từ chân tháp ra tới cửa phía bắc hướng đi lên đỉnh núi có lối đi lát gạch vuông cỡ lớn, màu đỏ sẫm, trang trí hoa cúc, vòng tròn đồng tâm. Bên ngoài tường vây là bốn ngọn tháp của tôn thất nhà Trần đã tu hành và viên tịch ở Yên Tử. Phía sau tháp Tổ là chùa Hoa Yên. Đường từ tháp lên chùa rất đẹp, cúc mọc san sát hai bên lối đi gặp mùa hoa nở rộ, trông như những dải gấm vàng rực rỡ. Chùa có từ thời Lý mang tên Phú Văn, tới đầu thời Trần, vị sư trụ trì được phong làm Quốc Sư. Thời Trần Nhân Tông, chùa mang tên Vân Yên, đến thời Lê gọi là chùa Hoa Yên.

Trong chùa Hoa Yên, chính giữa hậu cung có tượng vua Trần Nhân Tông. Chùa có quả chuông đúc thời Lê Mạt, trên khắc bài văn về Trúc Lâm Tam Tổ. Sau chùa, cách khu vườn trúc là tháp Độ Nhân xây bằng gạch, tráng men xanh, gần tám thế kỷ dãi dầu mưa nắng vẫn bền vững. Từ Chùa Hoa Yên đi men theo sườn núi phía tay phải qua suối Ngự Dôi sẽ tới ngọn Vân Am.

Am dựa vào vách núi, nhìn ra biển đông, chung quanh thông trúc xanh rờn, mờ mờ ẩn hiện giữa làn mây mỏng. Đi theo vách núi, có các chùa Một Mái, Bảo Sái, Vân Tiên, tượng An Kỳ Sinh, chùa Đồng và cuối cùng là bia Phật ở đỉnh cao chót vót. 

Yên Tử đã có hệ thống cáp treo đưa khách từ chân núi lên chùa Hoa Yên.

Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo ở phía đông - bắc Việt Nam, danh thắng bậc nhất và có kiến tạo đặc biệt, đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và mang giá trị toàn cầu về địa chất, địa mạo. Giữa khoảng trời nước mênh mông, đảo quần tụ như giăng luỹ, dựng thành, lúc đứng dọc, khi nằm ngang, vừa xúm xít vừa tách biệt, đứt và nối, tĩnh và động, tạo nên sự tương phản trong chỉnh thể thống nhất của bức tranh thiên nhiên kỳ vĩ. Đảo ở Hạ Long thật muôn vẻ về hình dáng, sắc màu, chủ yếu là đảo đá và có những đảo đất xen kẽ.

Bên trong đảo chứa những hang động, chỗ rất rộng, nơi lại hẹp, vòm trần lô nhô nhũ đá và dưới là măng đá. Bốn mùa trên vịnh Hạ Long thay đổi rõ rệt, in đậm dáng nét riêng của khung cảnh, đầy sức gợi cảm. Phương tiện thăm vịnh là tàu, thuyền rất thuận lợi, có thể len lỏi trong các luồng lạch, ghé sát chân đảo được nước biển bào mòn giống tựa các bức phù điêu hoặc các bãi cát mịn màng. Thực vật trên đảo đá có khoảng 1000 loài, nhiều loại quý hiếm, chẳng hạn: khổ cử đại nhung, khổ cử đại tím, thiên tuế Hạ Long, cọ Hạ Long, nhài Hạ Long.

Dưới biển, là rừng hoa nước mặn với những cồn, bãi san hô loại cành và loại quạt, tảo và rong câu đung đưa. Hạ Long có nhiều đặc sản biển độc đáo, trong đó có ngọc trai, bào ngư, hải sâm, sá sùng. Những hiện vật tìm thấy tại các di chỉ khảo cổ minh chứng nền văn hoá Hạ Long có từ rất sớm và phát triển không ngừng cùng với lịch sử của dân tộc Việt Nam. Hạ Long là đề tài phong phú của thi ca, nhạc, hoạ, điêu khắc đã được danh nhân thể hiện trong những tác phẩm rung động lòng người. Hiện đã có tám tuyến đưa du khách tham quan và nghiên cứu các giá trị ngoại hạng của vịnh Hạ Long.