|
Tuyến đường này sẽ dẫn du
khách tới các di tích - danh thắng nổi tiếng ở phía đông.
Có thể theo quốc lộ 1A đi Bắc Ninh rẽ sang huyện Chí
Linh hoặc đến Hải Dương đi qua huyện Nam Sách.
Vạn Kiếp
|
Vạn Kiếp là địa
điểm chiến lược từng ghi nhiều chiến công oanh
liệt của quân dân thời Trần trong cuộc kháng
chiến chống Nguyên Mông, nơi Hưng Đạo Vương -
Trần Quốc Tuấn lập phủ điện nay thuộc địa phận
hai thôn Dược Sơn và Vạn Kiếp, xã Hưng Đạo huyện
Chí Linh tỉnh Hải Dương. Hiện còn đền thờ (Đền
Vạn Kiếp) xây trên nền phủ điện cũ. |
 |
|
Trong những đợt khai quật khảo
cổ ở quanh đền đã tìm thấy nền nhà lớn, thềm cao,
sân rộng lát gạch hoa, ống thoát nước, nhiều
gạch ngói và đồ gốm cổ chứng tỏ nơi đây xưa kia
đã từng có nhiều dinh thự lớn. |
Vạn Kiếp nằm gọn giữa
thung lũng rộng và sâu, phía trước là sông Lục Đầu, ba
phía còn lại đều là núi, vây quanh thành hình cánh cung,
có ngọn Nam Tào, Bắc Đẩu tạo thành thế hổ phục, rồng
chầu theo thuyết phong thủy, ngày xưa phủ điện của Hưng
Đạo Vương vốn ở sâu phía trong (gọi là thung trong), địa
thế chật hẹp, sau chuyển ra phía thung ngoài. Hiện nay
còn di tích con đường nhỏ nối hai thung, gọi là "đường
gánh gạch".
Đến thăm Kiếp Bạc, theo
đường thủy, từ xa đã trông thấy khu đền, mái nâu lớp lớp
nối nhau, tường hồi trắng xoá, cổng lớn ba cửa vào ra
nguy nga đồ sộ.
Toà hậu cung còn khá
nguyên vẹn, trong có đặt tượng Hưng Đạo Vương Trần Quốc
Tuấn, tượng Hưng Đạo Vương phu nhân, tượng Hưng Vũ Vương
và tượng Hưng Nhượng Vương là hai con trai, tượng hai bà
và tượng Điện Suý Thượng tướng quân Phạm Ngũ Lão là con
rể. Sau này có thêm tượng Yết Kiêu, Dã Tượng là hai gia
tướng nổi danh; tất cả đều bằng đồng.
Trước tượng Hưng Đạo Vương
có đặt một thanh kiếm. Trong đền có bia ghi việc trùng
tu. Gần đền là Viên Lăng, nơi an táng Hưng Đạo Vương. Đó
là một quả núi thấp hình tròn, cây cối mọc um tùm.
Chung quanh đền còn có một
số địa danh lịch sử thường được nhắc tới qua truyền
thuyết, có liên quan đến vị trí quân sự xung yếu, Vạn
Kiếp đã từng được đặt hành dinh trong chiến tranh chống
quân Nguyên - Mông xâm lược có Dược Sơn (đồi trồng
thuốc để điều trị thương bệnh binh); xưởng thuyền, hang
tiền, hang thóc...
Hội đền Vạn Kiếp mở vào
ngày 16 tháng tám âm lịch.
Côn Sơn
|
Tên một quả núi đất pha đá, cao khoảng 200
mét, có ba mỏm nhô lên như con kỳ lân phủ phục
nên còn gọi là núi Kỳ Lân. Thắng cảnh Côn Sơn
bao gồm núi non chùa tháp, rừng thông, khe suối...
và những di tích nổi tiếng gắn liền với cuộc đời
của nhiều danh nhân trong lịch sử. Thời Trần,
Côn Sơn là một trong những ba trung tâm Phật
giáo lớn (Côn Sơn - Yên Tử - Quỳnh Lâm). |
 |
|
Nhiều vị cao tăng như Pháp Loa,
Huyền Quang đã dựng am cỏ tu hành. Núi nằm trên
địa phận thôn Chi Ngại (huyện Chí Linh, tỉnh Hải
Dương) là quê gốc của Nguyễn Trãi. Hồi nhỏ, ông
đã được ông ngoại là quan tư đồ Trần Nguyên Hãn
đưa về nuôi dạy trong trong Thanh Hư động ở Côn
Sơn. |
Cuối đời, khi cáo quan,
Nguyễn Trãi đã về đây. Chùa Côn Sơn, tên chữ là Tư Phúc
Tự, còn gọi là chùa Hun được dựng ở chân núi phía nam,
có từ trước thời Trần. Vua Trần Thái Tông (1225-1258) đã
từng đến thăm chùa.
Chùa Hun ngày nay còn hai
cây đại ngoài sáu trăm tuổi, gốc sù sì, cành giao nhau,
thân ngả sát đất, mùa hoa nở vàng rực. Chùa có tượng A
di đà cao gần 3m, đặt trên bệ. Phía sau là nhà Tổ, có
tượng Trúc Lâm Tam tổ, tượng ông bà Trần Nguyên Đán và
hai pho tượng nữa, gần đây đã xác định được là tượng
Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ.
Phía trước chùa có dựng
bốn nhà bia (hai nhà bia cũ bên phải có tấm bia "Côn Sơn
Tự Phúc thiền tự bi" hình trụ sáu mặt, nóc bia tạc kiểu
long đình, dựng năm Hoàng Định thứ tám (1608) đời vua Lê
Kính Tông, nội dung ghi lại việc trùng tu chùa. Nhà bia
mới bên trái có tấm bia lớn đặt trên lưng rùa, khắc ba
chữ "Thanh Hư Động", bút tích của Trần Duệ Tông
(1373-1377).
Khu mộ tháp ở phía sau
chùa, bên đường lên núi, dưới vòm lá xanh tươi của những
hàng cây. Nổi bật nhất là "Đăng Minh bảo tháp" dựng bằng
đá xanh, cao hơn 5 m, gồm ba tầng đặt xá lị và tượng của
Huyền Quang (1254 -1334).
Phía sau khu mộ tháp là
con đường khá rộng, có xây bậc ở từng đoạn dẫn lên đỉnh
núi. Hai bên lối đi là hàng thông cổ thụ, những cây
hương bài toả hương thơm dịu và những bụi mẫu đơn lá
xanh sẫm đơm hoa đỏ rực giữa vạt đất của những am thờ
Phật thuở xưa. Từ trên núi theo
lối mòn có kê đá đi xuống phía chân núi, rẽ đến một nơi
có tảng đá lớn, mặt phẳng nhẵn, nằm kề ven suối gọi là
Thạch Bàn.
Thanh Hư Động là ở khoảng
này. Thơ của Nguyễn Trãi cũng nói nhà ông ngoại ở chân
núi Côn Sơn-Ngũ Nhạc. Đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là
công trình mới thu hút nhiều du khách đến tưởng niệm
Người, một danh nhân văn hoá thế giới.
Yên
Tử
|
Yên Tử còn gọi là Bạch Vân Sơn (núi giữa mây
trắng) cao 1068 m, cách thị xã Uông Bí (Quảng
Ninh) khoảng 15 km về phía tây bắc, từ xa xưa đã
được coi là "núi tổ miền Hải Đông", nơi phát
tích của Thiền phái Trúc Lâm do vua Trần Nhân
Tông (1258 - 1308) sáng lập. Trúc Lâm chủ trương
"nhập thế" và "tu tại tâm", gắn bó đạo với người,
đoàn kết dân tộc và thống nhất ý chí giữ gìn nền
độc lập, tự chủ của đất nước, là một thiền phái
mang đậm bản sắc Việt Nam. Yên Tử cảnh đẹp nhưng đường khá cheo leo, lắm
suối, nhiều đèo dốc cao, khe sâu, lối mòn ngoắt
ngoéo luồn qua thung trúc rừng tùng, dẫn lên đến
đỉnh quanh năm mây phủ.
|
 |
|
Gần đây, ở Yên Tử đã có cáp treo,
tạo thuận lợi cho khách hành hương. Đường vào
Yên Tử ngày nay bắt đầu từ Dốc Đỏ, cạnh quốc lộ
18. Thoạt tiên là suối tắm. Gần suối Tắm là chùa
Cầm Thực, tiếp đó là chùa Lâu Động, cũng gọi
Chùa Lâu???, đã được dựng lại khá bề thế. Vượt
qua đèo Voi, là chùa Giải Oan (tên cũ là Hổ Khê).
|
|
 |
Qua núi Hạ Kiệu có con đường nhỏ dẫn tới
chùa Hoa Yên vừa được dựng lại theo phong cách
kiến trúc thời Trần. Dốc núi cheo leo xếp đá
thành bậc. Trên đường lên chùa, có khu tháp gần
Hòn Ngọc, tương truyền có đặt xá lị của Trúc Lâm
đệ nhất Tổ: Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông.
Tháp cao 10 m, có sáu tầng. |
|
Nền tháp hình sáu cạnh ghép bằng
những tảng đá lớn, chạm hoa văn sóng nước hình
núi; bệ tháp tạc hình đài sen 102 cánh đỡ lấy
thân tháp hình trụ, càng lên cao càng thu nhỏ
lại. Tầng trên mở cửa hướng nam, trong có tượng
Trần Nhân Tông khoác áo cà sa để trần vai bên
phải, đang ngồi trong tư thế nhập thiền, tạc
bằng đá trắng, đặt trên bệ đá chạm rồng. |
Đỉnh tháp tạc búp sen đá.
Tháp được đặt giữa một khu đất hình vuông, có tường cao
xây bằng gạch vổ nung già vây quanh bốn mặt. Bờ tường
lợp ngói mũi hài kép, trông như sóng gợn. Mặt tường phía
nam và mặt tường phía bắc có cửa vòm cuốn. Từ chân tháp
ra tới cửa phía bắc hướng đi lên đỉnh núi có lối đi lát
gạch vuông cỡ lớn, màu đỏ sẫm, trang trí hoa cúc, vòng
tròn đồng tâm. Bên ngoài tường vây là bốn ngọn tháp của
tôn thất nhà Trần đã tu hành và viên tịch ở Yên Tử. Phía
sau tháp Tổ là chùa Hoa Yên. Đường từ tháp lên chùa rất
đẹp, cúc mọc san sát hai bên lối đi gặp mùa hoa nở rộ,
trông như những dải gấm vàng rực rỡ. Chùa có từ thời Lý
mang tên Phú Văn, tới đầu thời Trần, vị sư trụ trì được
phong làm Quốc Sư. Thời Trần Nhân Tông, chùa mang tên
Vân Yên, đến thời Lê gọi là chùa Hoa Yên.
Trong chùa Hoa Yên, chính
giữa hậu cung có tượng vua Trần Nhân Tông. Chùa có quả
chuông đúc thời Lê Mạt, trên khắc bài văn về Trúc Lâm
Tam Tổ. Sau chùa, cách khu vườn trúc là tháp Độ Nhân xây
bằng gạch, tráng men xanh, gần tám thế kỷ dãi dầu mưa
nắng vẫn bền vững. Từ Chùa Hoa Yên đi men theo sườn núi
phía tay phải qua suối Ngự Dôi sẽ tới ngọn Vân Am.
Am dựa vào vách núi, nhìn
ra biển đông, chung quanh thông trúc xanh rờn, mờ mờ ẩn
hiện giữa làn mây mỏng. Đi theo vách núi, có các chùa
Một Mái, Bảo Sái, Vân Tiên, tượng An Kỳ Sinh, chùa Đồng
và cuối cùng là bia Phật ở đỉnh cao chót vót.
Yên Tử đã có hệ thống cáp
treo đưa khách từ chân núi lên chùa Hoa Yên.
Vịnh
Hạ Long
|
Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo ở phía đông - bắc
Việt Nam, danh thắng bậc nhất và có kiến tạo đặc
biệt, đã được UNESCO công nhận là di sản thiên
nhiên thế giới và mang giá trị toàn cầu về địa
chất, địa mạo. Giữa khoảng trời nước mênh mông,
đảo quần tụ như giăng luỹ, dựng thành, lúc đứng
dọc, khi nằm ngang, vừa xúm xít vừa tách biệt,
đứt và nối, tĩnh và động, tạo nên sự tương phản
trong chỉnh thể thống nhất của bức tranh thiên
nhiên kỳ vĩ. Đảo ở Hạ Long thật muôn vẻ về hình
dáng, sắc màu, chủ yếu là đảo đá và có những đảo
đất xen kẽ. |
 |
Bên trong đảo chứa những hang động, chỗ rất rộng, nơi
lại hẹp, vòm trần lô nhô nhũ đá và dưới là măng đá. Bốn
mùa trên vịnh Hạ Long thay đổi rõ rệt, in đậm dáng nét
riêng của khung cảnh, đầy sức gợi cảm. Phương tiện thăm
vịnh là tàu, thuyền rất thuận lợi, có thể len lỏi trong
các luồng lạch, ghé sát chân đảo được nước biển bào mòn
giống tựa các bức phù điêu hoặc các bãi cát mịn màng.
Thực vật trên đảo đá có khoảng 1000 loài, nhiều loại quý
hiếm, chẳng hạn: khổ cử đại nhung, khổ cử đại tím, thiên
tuế Hạ Long, cọ Hạ Long, nhài Hạ Long.
Dưới biển, là rừng
hoa nước mặn với những cồn, bãi san hô loại cành và loại
quạt, tảo và rong câu đung đưa. Hạ Long có nhiều đặc sản
biển độc đáo, trong đó có ngọc trai, bào ngư, hải sâm,
sá sùng. Những hiện vật tìm thấy tại các di chỉ khảo cổ
minh chứng nền văn hoá Hạ Long có từ rất sớm và phát
triển không ngừng cùng với lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Hạ Long là đề tài phong phú của thi ca, nhạc, hoạ, điêu
khắc đã được danh nhân thể hiện trong những tác phẩm
rung động lòng người. Hiện đã có tám tuyến đưa du khách
tham quan và nghiên cứu các giá trị ngoại hạng của vịnh
Hạ Long. |