| Đây là tuyến đi về
phía đông, qua vùng đất có nhiều di tích lịch sử văn hoá.
Cụm đền thờ Bà Ỷ Lan
|
Ỷ Lan là vợ vua Lý
Thánh Tông (1054-1072) và là mẹ vua Lý Nhân Tông
(1072-1128). Bà được ghi tên trong sử sách do
nguồn gốc xuất thân và tài năng trị nước.Đến nay, chưa rõ
tên thật của bà là gì. Chỉ biết đó là một thôn
nữ chăn tằm, dệt lụa, quê ở hương Thổ Lỗi, có
thể là một vùng đất nay là cả xã Phú Thị, Dương
Xá (thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội) và Như Quỳnh (thuộc
huyện Mỹ Văn, Hưng Yên). Ở vùng này có tới hai
chục ngôi đền thờ bà. |
 |
Khi còn là trẻ, bà lọt vào
cung nhờ có lần xa giá vua Lý Thánh Tông qua Thổ Lỗi.
Mọi người đổ xô ra đón nhưng riêng có một cô gái vẫn
đứng dựa gốc cây Ngọc Lan nhìn về xa. Vua cho gọi lại
hỏi, cô ứng đáp trôi chảy. Vua đem vào cung đặt tên là Ỷ
Lan (dựa cây lan) rồi lấy làm vương phi. Sau được tôn là
Hoàng Thái Hậu. Ỷ Lan đã hai lần nhiếp chính, một lần
khi vua Thánh Tông cầm quân đi dẹp giặc phương nam
(1069) và một lần là lúc Nhân Tông còn nhỏ (từ 1072 đến
khoảng 1080), bà tỏ rõ tài điều hành việc nước.
Khu vực thờ bà Ỷ Lan ở đền
và chùa xã Dương Xá, còn có tên là đền và chùa bà Tấm vì
nhân vật lịch sử Ỷ Lan sau được đồng nhất với nàng Tấm
trong truyện cổ tích.
Chùa có từ lâu nhưng mới
làm lại. Di vật thời Lý còn sót lại là một bệ đá chạm
hai đầu sư tử nằm phục, tư thế vững vàng, miệng ngậm
ngọc, nhân dân quen gọi là "ông Sấm". Đây vốn là bệ của
tượng phật, cao 1m, ngang 1,35m. Chùa còn một thềm cửa
dài 1,8m; cao 1,2m phía trên chạm tượng một con vật đang
chồm tới, mặt ngoài là con phượng đang múa, cánh xoè
rộng, chân phải co lên, chân trái đứng trên một đoá sen
nở mềm mại.
Đền ở gần chùa. Trong đền
hiện còn một số hiện vật quý, nổi bật là đôi sư tử đá
tạc từ một khối đá lớn, cao 1m, rộng 1,36m, nằm phủ phục,
đường nét vừa uyển chuyển, vừa oai hùng, mạnh mẽ.
Trong đền còn có tượng
Thánh Mẫu (mẹ Ỷ Lan) và tượng Ỷ Lan tạc rất đẹp. Từ cửa
đền đi theo đường 179 chạy về phía sông Đuống chừng 2 km
đến làng Phú Thị cũng được coi là thuộc hương Thổ Lỗi
xưa, có đền và chùa thờ bà Ỷ Lan xây dựng vào năm 1115.
Chùa Dâu
|
Chùa Dâu được xây
dựng khoảng cuối thế kỷ thứ II. Cảnh chùa ngày nay
là kết quả của đợt xây dựng lại vào thế kỷ XIV
và nhiều lần trùng tu về sau. Cụm kiến trúc
chính bao gồm ba toà: Tiền đường, thiêu hương,
thượng điện và ngọn tháp Hoà Phong nằm lọt vào
giữa bốn dãy mái nhà dài vây quanh theo hình chữ
nhật. Toà thượng điện dựng trên nền cao, bốn mái
với đầu đao cong, trùm lên hành hiên rộng bao
quanh, tựa trên 16 cột lớn và một hệ thống vì
kèo chắc chắn, thông thoáng, có nhiều bộ phận
còn lưu giữ được bóng dáng nghệ thuật chạm khắc
thời Trần. |
 |
|
Tượng Pháp Vân bày ở gian giữa,
cao gần 2m ngồi trên toà sen cùng với tượng Ngọc
Nữ và Kim Đồng, khuôn mặt bầu bĩnh, dáng người
thanh tú được coi là những tác phẩm có giá trị
trong kho tàng điêu khắc cổ. Gian bên trái có
tượng Mạc Đĩnh Chi, người đứng ra làm lại chùa. |
|
Tháp Hoà Phong vượt trên những lớp mái nâu
sẫm, xây bằng gạch mộc to bản, vốn có chín tầng,
nay chỉ còn ba tầng, cao khoảng 17 m. Tầng chân
tháp hình vuông mỗi bề gần 7 m, như một gian nhà
rộng, tường rất dày, trổ bốn cửa vòm cuốn. Hai
cửa chính (tây và đông) từ thềm xuống sân. Mặt
trước tầng hai có gắn bảng đá khắc chữ "Hoà
Phong tháp" và cho biết tháp dựng vào năm 1737.
Trong lòng tháp có treo chuông đúc năm 1793.
Tháp Hoà Phong với chất liệu thô khác, kiểu thức
độc đáo, có một vẻ đẹp giản dị, cổ kính. |
 |
Chùa Bút Tháp
|
 |
Từ làng Dâu (km25) đi theo đường ra hướng
sông Đuống ở phía bắc, tới chùa Bút Tháp. Khuôn
viên chùa có một ngọn tháp, trên đỉnh có hình
một ngòi bút lông. Chùa có tên chữ là Ninh Phúc
Tự, ở về phía tây thôn Bút Tháp, xã Đinh Tổ,
huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Từ trên bờ đê
sông Đuống, nơi có lối rẽ xuống thôn Bút Tháp,
có thể ngắm nhìn toàn cảnh chùa với cây tháp đá
như ngọn bút khổng lồ vươn cao trên lớp lớp mái
nhà cổ kính giữa những tán lá xanh tươi. Ngoài
cùng ngôi chùa là tam quan, tiếp đó là gác
chuông hai tầng tám mái, rồi đến Chùa Hộ, trong
đặt hai pho tượng Hộ Pháp rất lớn, cao gần chạm
nóc. |
|
Sau Chùa Hộ là nhà thiêu
hương, rồi đến thượng điện. Thượng điện dựng
trên nền cao hơn 1 m, vây quanh thềm cao bó đá
xanh là hàng lan can gồm 26 phiến đá được chạm
khắc cảnh cỏ cây hoa lá. Chùa có nhiều tác phẩm
điêu khắc sinh động, đặc sắc nhất là pho tượng
Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay cao 3,7m, khuôn mặt
chính diện trông hiền hậu mà trang nghiêm. |
Làng tranh Đông Hồ
|
Từ ngã tư Đông Côi rẽ sang trái về phía Bắc
Ninh, tới bến đò làng ở trên bờ nam sông Đuống
có làng Đông Hồ, tức làng Mai. Đây là làng nghệ
thuiật cổ, còn gọi là làng tranh Đông Hồ vốn
được những người sành về mỹ thuật trong, ngoài
nước hâm mộ. Tranh Đông Hồ có nhiều mầu và mỗi
mầu phải khắc một bản ván riêng, do vậy mỗi gia
đình chứa rất nhiều ván khắc. Một bức tranh có
tới hàng năm sáu ván. Người sáng tác mẫu vẽ lên
giấy, sau đó dán giấy lên các ván và khắc, nét
khắc khá sâu và đứng thành.
|
 |
|
 |
Giấy in thì phải là giấy dó tức loại giấy
làm theo kỹ thuật thủ công cổ truyền với nguyên
liệu chính là cây dó mọc hoang ở các vùng rừng
núi. Lại phải quét lên trên giấy một lượt điệp,
là một loại sò lấy vỏ nó giã nhỏ, xay mịn rồi
nấu với hồ thành một thứ nước, đem quét lên giấy
vừa tạo mầu trắng vừa tạo sắc óng ánh. Cách in
theo một quy trình đồ hoạ chặt chẽ: in các màu
trước rồi in nét đen sau cùng. Các loại màu đều
tự làm và lấy từ thiên nhiên: màu vàng của hoa
hoè, màu xanh của lá chàm hay rỉ đồng, màu đỏ
của hoa hiên hay gỗ vang. màu đen của than lá
tre ...Tranh Đông Hồ có nhiều loại: tranh thờ
cúng, tranh mô phỏng các tình tiết trong truyện
cổ, tranh các danh nhân lịch sử. tranh chúc tụng
bình an, hạnh phúc... |
|
Nhiều tranh được đánh giá cao
như: Tranh gà, tranh lợn ăn lá ráy, tranh lợn mẹ
và đàn con, tranh đánh vật, tranh đánh ghen,
tranh hứng dừa, tranh thầy đồ cóc, tranh đám
cưới chuột… |
|