Trang đầu
Điều kiện tự nhiên
Hà Nội nghìn năm văn hiến
Phố cổ
Du lịch quanh TP và Phụ cận
Thư viện Ảnh




 

<Về trước> • Giới thiệu • Tuyến dọc sông Hồng • Tuyến Kinh Bắc (Quốc lộ 1A lên phía bắc) • Tuyến Quốc Lộ 1A (Về phía nam) • Tuyến Quốc Lộ 2 • Tuyến Quốc Lộ 3 • Tuyến Quốc lộ 5 và đường 182 • Tuyến Đường 18A • Tuyến Xứ Đoài và Quốc lộ 32 • Tuyến Quốc Lộ 6 và Quốc lộ 22
   
 

              Quốc lộ 3 nối với quốc lộ 1A ở Yên Viên, bên bờ Bắc cầu Đuống và chạy, lên Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng.Trong phạm vi phụ cận Hà Nội, trên tuyến này có hai cụm di tích Cổ Loa và Sóc Sơn.

Cụm di tích Cổ Loa

Ở xã Cổ Loa, huyện Đông Anh gồm dấu tích của ba nếp thành đất do Thục Phán An Dương Vương cho đắp sau khi đã hợp nhất Âu Việt và Văn Lang, đổi quốc hiệu là Âu Lạc, khoảng năm 257 - 255 trước Công nguyên và một số đền miếu.

Thục Phán đóng đô ở Cổ Loa. Theo các tư liệu ghi chép, thành Cổ Loa có chín vòng, chu vi vòng ngoài 8 km, chu vi vòng giữa 6,5 km; vòng trong cùng 1,6 km, xoáy chôn ốc, tường thành cao, có hào sâu và các ụ nhô ra ngoài lũy để bắc nỏ xuống. Các cửa của ba vòng thành được bố trí lệch, do đó đường nối hai cửa thành ở cùng một hướng đều quanh co. Sau năm chục năm ở ngôi, Thục Phán để nước Âu Lạc rơi vào tay Triệu Đà. Đà dùng mẹo hiểm cho con trai là Trọng Thuỷ sang giảng hoà và cầu hôn với công chúa Mỵ Châu.

Không nghe các triều thần can gián, Thục Phán chấp nhận. Sau ba năm ở rể, Trọng Thuỷ đánh cắp được nỏ thần - biểu tượng của bí mật kỹ thuật quân sự. Nhờ vậy, Triệu Đà đánh chiếm được nước Âu Lạc vào năm 179 trước Công nguyên. Tấn bi kịch này chứa đựng bài học đắt giá về thiếu cảnh giác.

Con đường mòn dẫn vào khu di tích qua bãi Mèn là tới cầu Sa. Cầu bắc trên một ngòi nước nhỏ. Thời An Dương Vương, đây là sông Hoàng thông với sông Ngũ Huyện Khê và ra Lục Đầu Giang. Truyền thuyết kể, chính chỗ cầu đá ấy là nơi thần Kim Quy hiện lên giúp vua phép mầu dựng thành, giữ nước. Qua cửa thành là tới đình làng Cổ Loa, trong đình có bức hoành phi "Ngự Triều di quy".

Cạnh đình là miếu thờ công chúa Mỵ Châu, nằm nép dưới gốc đa già cổ thụ. Trong am có một tảng đá hình người cụt đầu, các cụ già bảo đó là tượng Mỹ Châu. Đi tiếp tới đền Thượng tức đền An Dương Vương. Đền mới làm lại đầu thế kỷ XX, có đôi rồng đá ở bậc tam cấp là di vật thời Trần hoặc Lê sơ. Trong đền có tượng An Dương Vương bằng đồng. Trước đền là Ngọc Tỉnh (giếng Ngọc) - theo lưu truyền trong dân gian đây là nơi Trọng Thuỷ tự vẫn vì hối hận. Nước giếng này đem rửa ngọc trai thì ngọc sáng bội phần. Cái chết của Trọng Thuỷ là lời thú tội và là bằng chứng minh oan cho Mỵ Châu thơ dại.

Gần đây, ngành khảo cổ học đã phát hiện nhiều di chỉ đồ đá, đồ đồng ở khu vực Cổ Loa: Rìu, lưỡi cày, mũi tên đồng, vỏ trấu, xương thú vật và trống đồng. Tất cả đã nói lên rằng hàng ngàn năm, trớc khi Thục Phán tới Cổ Loa dựng kinh đô nơi đây đã có dân cư.

Đền Sóc Sơn

Núi Sóc ở làng Vệ Linh nay thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, là ngọn cuối của hệ núi từ Tam Đảo kéo về, hình thế đẹp, gần kề quốc lộ 3. Tục truyền sau khi đánh tan giặc Ân ở núi Trâu, ngoài Vũ Ninh, chàng Gióng phi ngựa sắt về sông Hồng, cho ngựa uống nước, rồi vượt sông, đến bờ tây thì nghỉ lại, mở cơm nắm ra ăn. Ăn xong chàng phi ngựa qua các làng Thanh Nhàn, Phù Lỗ. Những dấu chân ngựa sắt để lại thành ao chuôm.

Đến chân núi Sóc, Gióng ghìm cương. Ngựa hí vang, dẫm chân xoay bốn phía. Gióng thúc ngựa lên đỉnh núi, cởi áo sắt, vắt lên cành cây trầm rồi cả người lẫn ngựa bay về trời. Trên núi vốn có hai đền thờ Gióng. Nay đền Thượng không còn. Đền Hạ có từ xưa nhưng năm 1898 bị cháy, di vật còn lại là đôi ngựa gỗ. Lẽ hội đền Sóc mở vào mùng sáu tháng giêng với nghi thức "dâng hoa tre" và "chém tướng (giặc Ân)". Hoa tre là tượng trưng cho sinh thực khí của nam giới. Đó là những nan tre dài chừng ba gang tay, rộng khoảng 1cm, đầu nan chẻ xơ bông, nhuộm các màu. Tế lễ xong, người ta lấy một bông đặt trên bàn thờ, còn tất cả đem tung ra sân, ai tranh được là năm đó gặp may mắn.