Trang đầu
Điều kiện tự nhiên
Hà Nội nghìn năm văn hiến
Phố cổ
Du lịch quanh TP và Phụ cận
Thư viện Ảnh




 

<Về trước> • Giới thiệu • Tuyến dọc sông Hồng • Tuyến Kinh Bắc (Quốc lộ 1A lên phía bắc) • Tuyến Quốc Lộ 1A (Về phía nam) • Tuyến Quốc Lộ 2 • Tuyến Quốc Lộ 3 • Tuyến Quốc lộ 5 và đường 182 • Tuyến Đường 18A • Tuyến Xứ Đoài và Quốc lộ 32 • Tuyến Quốc Lộ 6 và Quốc lộ 22
   
 

 

        Quốc lộ 2 chạy theo hướng đông - tây, nương theo triền bắc của Sông Hồng. Trên tuyến này có nhiều điểm nên đến thăm.

 Hồ Đại Lải

Hồ thuộc thị trấn Xuân Hoà, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, nguyên là chỗ trũng nằm lọt giữa bốn bề núi non. Khoảng những năm 60, Nhà nước đầu tư, cải tạo thành một công trình thuỷ lợi và một điểm nghỉ mát.

Với sức chứa hơn 30 triệu m3 nước, hồ cung cấp cho các hệ thống thuỷ nông của hai huyện Mê Linh, Sóc Sơn. Nước hồ trong xanh, soi bóng rừng bạch đàn trên các đồi bao quanh góp phần cải tạo môi sinh toàn vùng. Bãi tắm Đại Lải khá đẹp. Núi bên hồ với rừng xanh phủ che rất gợi cảm, chạy dài từ tây bắc về phía tây là dãy núi Thằn Lằn, phía bắc và đông là những quả đồi xinh xắn. Bên cạnh thú tắm mát, ở đây còn có thể leo núi, thưởng thức những trái ngọt của rừng thiên nhiên như ổi, sim...Khi mực nước hạ thấp trong lòng hồ còn xuất hiện thêm một số đảo nhỏ.

Ở đây, mùa hè mát mẻ, mùa đông ấm áp, lượng mưa hàng năm thấp, số ngày mưa ít, phù hợp với nhiều loại hình du lịch trong cả năm.

Rừng Ngọc Thanh ở khu vực hồ còn hơn 500 ha tự nhiên và đã trồng thêm 300 ha rừng. Hiện nay, hồ đang được đầu tư trồng rừng phong cảnh và trồng cây ăn quả kết hợp phát triển nghề nuôi ong và sinh vật cảnh để phục vụ các yêu cầu đa dạng của du khách.

Làng gốm Hương Canh

Làng Hương Canh là một trong ba làng của Kẻ Cánh ngày xưa, nay hợp thành xã Tam Canh thuộc huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phúc. Theo một tư liệu của địa phương thì nghề gốm Hương Canh có khoảng hàng trăm năm trước. Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa có ba người thợ gốm được vua sai đi gây dựng nghề ở Thanh Hoá, Bắc Ninh và Hương Canh.

Mỗi người dạy cho địa phương làm một nghề gốm khác nhau. Bắc Ninh làm gốm dày, Thanh Hoá và Hương Canh làm gốm mỏng. Như vậy có lẽ địa phương làm gốm ở Bắc Ninh chính là làng Thổ Hà bên sông Cầu. Vì hàng năm phường gốm Hương Canh vẫn cử đại biểu về Thổ Hà để cúng giỗ tổ nghề. Còn ở Thanh Hoá có hai khu làm gốm đó là lò Nổi và Lò Chum đều ở bên sông Bến Ngự. Có lẽ Lò Nổi có trước Lò Chum vì nơi đó làm gốm mỏng.

Cũng như các làng gốm khác, quy trình sản xuất ở Hương Canh có năm khâu chính: làm đất, chuốt, tạo hình, sửa dáng, đun lò. Các khâu này được chuyên môn hoá đến mức từng dòng họ làm một  khâu riêng. Vì các khâu đều liên quan đến giá trị các thành phẩm nên nghề nghiệp ở đây đã gắn bó các dòng họ với nhau, cùng chịu trách nhiệm về sản phẩm, trong đó khâu đun lò là quan trọng nhất. Hương Canh trước đây sản xuất đồ gốm sành như lon, vại, chum, tiểu.... nay  đề phù hợp với yêu cầu thị trường, chuyển sang làm gạch ngói và các vật liệu xây dựng khác.

Tại làng, có một ngôi đình được giới mỹ thuật đánh giá cao về giá trị điêu khắc. Đình Hương Canh năm gian, hai chái hoành tráng đồ sộ, nổi tiếng về những trang trí chạm trổ. Các đầu đui, họng cột những phần gỗ thừa ra đều được biến thành những tác phẩm nghệ thuật. Những đầu kim được chạm rộng, sâu hàng gang tay, những đầu hoành đòn tay là những chú voi như đang khiêng, đội mái đình. Những bức trạm trên các cốn và ván gió thật tuyệt tác, là hình ảnh thu nhỏ của ngày hội làng sinh động.

Tam Đảo

Dãy núi Tam Đảo, có đỉnh cao nhất 1.591 m, chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam trên địa giới hai tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc.Gọi là Tam Đảo vì trên dãy núi đó có ba đỉnh cao là Thiên Thị, Thạch Bàn và Phú Nghĩa giống như ba hòn đảo nổi lên giữa biển mây.

Vào đầu thế kỷ XX, một khu vực trên sườn núi phía nam được xây dựng thành nơi nghỉ mát. Đây là một cái thung lọt giữa bốn biển núi đất, cao hơn mặt biển non 900 m, có dòng suối Bạc chảy qua, tiếp nước cho hai hồ bơi xây giữa khu nghỉ mát và chảy ra khe núi đổ xuống vực thành ra Thác Bạc. Nước từ trên cao ba bốn chục mét tuôn rơi mài mòn vách đá, bọt trắng xoá.

 Khí hậu Tam Đảo mát mẻ, nhiệt độ thường thấp hơn Hà Nội 100C. Ngày nóng nhất ở Tam Đảo cũng chỉ 270C. Mây Tam Đảo nhởn nhơ bay lượn quẩn quanh đây đó. Suối Tam Đảo lăn tăn uốn lượn in bóng thông xanh.

Tam Đảo có những loài hoa, rau quả ôn đới, có những chiếc cầu bằng mây song treo lơ lửng trên suối, trên vực. Khác với Sa Pa quanh năm giá lạnh, Tam Đảo trong một ngày có đủ bốn mùa.

Ở Tam Đảo có khu rừng quốc gia, diện tích khoảng 19.000 ha, có hơn 620 loài cây thân gỗ và thân thảo, trong đó tới 40 % là các loại sồi giẻ.

Có 120 loài chim, nhiều loại chim có bộ lông màu sặc sỡ như vàng anh, sơn tiêu trắng, sơn tiêu đỏ, gà tiền, gà lôi hoặc có giọng hót hay như hoạ mi, khước bách thanh...

Thú rừng có chừng 45 loài, trong đó có nhiều loài quý hiếm, như hổ, báo, gấu, sóc bay, chồn mực, vượn, vọc quần đùi, vọc đen.

Tam Đảo là nơi nghỉ mát trong mùa hè, nghỉ cuối tuần với thủ đô Hà Nội và các khu vực chung quanh, có đủ điều kiện triển khai loại hình du lịch núi.

Khu di tích lịch sử Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng

Vào mỗi mùa xuân, Đền Hùng ở Phú Thọ lại đông đúc với du khách. Họ đến đây để tạ ơn trời đất, để tưởng nhớ đến cội nguồn người Việt. Đền Hùng là một quần thể kiến trúc nằm trên núi Nghĩa Lĩnh thuộc xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, cao 195m so với mặt biển, đã trở thành địa danh thiêng liêng của lịch sử khởi nguồn dân tộc Việt Nam. Khu di tích bao gồm: Đền Thượng, Lăng Mộ Tổ, Đền Trung, Đền Hạ, Đền Giếng, gác chuông, chùa Thiền Quang - Thiền Tự.

Đền Thượng: Ở trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, nơi các vua Hùng cùng các hầu lĩnh tướng thường đến đây để cúng tế trời đất, mong cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt để muôn dân no ấm, đất nước thái bình. Vì thế Đền Thượng còn có tên "Kính thiên Lĩnh điện", tức là điện thờ trời ở trên núi. Đền Thượng được xây vào thế kỷ thứ XV và trùng tu từ năm 1914 - 1922. Cạnh Đền Thượng còn có một cột đá, tục truyền rằng, khi Thục Phán được vua Hùng nhường ngôi đã dựng một cột đá trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, thề nguyện muôn đời bảo vệ giang sơn gấm vóc và đời đời hương khói tại Lăng miếu Vua Hùng.

Lăng Tổ: (Hùng Vương Lăng) ở phía bên trái Đền Thượng, đặt theo hướng đông tây. Tương truyền là mộ Vua Hùng thứ VI, sau khi Thánh Gióng đánh thắng giặc Ân bay lên trời, vua cởi áo vắt lên cành cây kim giao rồi hoá ở đó. Lăng Tổ theo kiểu dáng hiện có được xây vào năm 1874.

Đền Trung: xuất hiện sớm nhất trên núi Hùng, vào thế kỷ thứ XIV. Cách đây khoảng 300 năm, Đền Trung được xây lại, theo kiểu chữ nhất, tồn tại đến bây giờ, là nơi các Vua Hùng thường họp bàn việc nước. Hùng Vương thứ VI đã gọi 18 người con về núi Nghĩa Lĩnh mở cuộc thi làm cỗ để tìm người có tài đức kế nghiệp. Lang Liêu là người con út thương dân, hiếu nghĩa đã sáng tạo ra hai thứ bánh dày và bánh chưng, tượng trưng cho trời và đất, dâng cha và được nhường ngôi.

Đền Hạ: được xây dựng vào khoảng thế kỷ XVII - XVIII, theo kiểu chữ nhị (=), tục truyền là nơi Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở trăm người con trai. Khi các con khôn lớn Lạc  Long Quân bàn với Âu Cơ chia các con đi mở mang bờ cõi. 50 người con theo cha về xuôi, 49 người con theo mẹ lên miền ngược, người con cả ở lại nối ngôi cha, truyền được 18 đời gọi là Hùng Vương.

Thiền Quang-Thiền Tự được xây dựng vào thời kỳ nhà Lê (1427-1573), Kiến trúc chủ yếu là cột gỗ đã kè và lợp ngói. Trước kia chùa xây theo kiểu chữ công, xung quanh có thành đá ong bao bọc, nay chỉ còn phần tiền tế. Trước chùa có cây thiên tuế khoảng 700 năm.

Đền Giếng: Từ Lăng Tổ đi xuống 700 bậc là tới Đền Giếng, nằm ở chân núi Nghĩa Lĩnh. Tại đây có Giếng Ngọc, nơi hai nàng công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa, con gái Vua Hùng thứ 18 soi gương chải tóc.

Đền Hùng ở một vị thế đẹp, cảnh quan hùng vĩ. Hai dãy núi Ba Vì (núi cha) - Tam Đảo (núi mẹ) như hai cánh cung ôm lấy vùng đất Tổ. Hai bên là dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa và dòng sông Lô xanh như dải lụa uốn lượn, gặp sông Đà ở Bạch Hạc.

Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội Đền Hùng là tình cảm sâu đậm, trở thành truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", ghi nhận công lao to lớn của các vua Hùng đã có công dựng nước Văn Lang, Nhà nước đầu tiên của người dân gốc Việt.

Tâm tưởng của người về dự lễ hội là hướng về tổ tiên, cội nguồn với sự tôn kính và lòng biết ơn sâu sắc. Sử xưa kể lại, thời phong kiến, định lễ 5 năm mở hội lớn một lần, còn hội thường hằng năm giao cho dân sở tại (xã Hy Cương và Chu Hoá) sửa lễ cúng Tổ vào ngày 12 tháng ba âm lịch. Từ đầu thế kỷ XX, triều đình nhà Nguyễn lệ định 5 năm một lần, có quan triều đình về cúng tế và quan hàng tỉnh và ông chủ tế người địa phương, cũng vào ngày 10 tháng ba âm lịch như ngày nay.

Nghi lễ ngày hội là có một lá cờ thần được treo trên đỉnh núi Hùng. 41 làng xã xung quanh rước kiệu dâng lễ về lễ Tổ. Trên các cỗ kiệu có bày lễ vật, đi kèm có phường bát âm, tấu nhạc, có quạt bát biểu, lọng tre cùng chiêng trống. Ngày hội thường tổ chức từ ba đến năm ngày, có nhiều hoạt động văn hoá mang đậm đà sắc thái dân gian truyền thống như đánh đu, đấu vật, chọi gà, kéo co, kéo lửa, nấu cơm thi, cờ tướng, hát xoan, hát ghẹo...

Sau Cách mạng Tháng Tám, kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, năm nào Nhà nước cũng tổ chức lễ hội Đền Hùng và lễ dâng hương tại Đền Thượng. Hầu hết các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước đã đến thăm viếng mộ Tổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần đến thăm Đền Hùng. Ngày 19 tháng 9 năm 1954, Bác lần lượt đi thăm khu di tích, viếng mộ Tổ và Đền Giếng, gặp gỡ và nói chuyện với Đại đoàn quân Tiên phong trên đường về tiếp quản thủ đô:

"Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".

Đền Hùng là khu di tích lịch sử -  văn hoá quốc gia. Gần đây, lễ hội đền Hùng được tổ chức với quy mô lớn hơn, thu hút hàng vài chục nghìn người các vùng trong nước, kiều bào ở nước ngoài và khách quốc tế về dự.