|
Quốc lộ 2 chạy theo hướng
đông - tây, nương theo triền bắc của Sông Hồng. Trên
tuyến này có nhiều điểm nên đến thăm.
Hồ Đại Lải
Hồ thuộc thị trấn Xuân Hoà,
huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, nguyên là chỗ trũng nằm
lọt giữa bốn bề núi non. Khoảng những năm 60, Nhà nước
đầu tư, cải tạo thành một công trình thuỷ lợi và một
điểm nghỉ mát.
Với sức chứa hơn 30 triệu
m3 nước, hồ cung cấp cho các hệ thống thuỷ nông của hai
huyện Mê Linh, Sóc Sơn. Nước hồ trong xanh, soi bóng
rừng bạch đàn trên các đồi bao quanh góp phần cải tạo
môi sinh toàn vùng. Bãi tắm Đại Lải khá đẹp. Núi bên hồ
với rừng xanh phủ che rất gợi cảm, chạy dài từ tây bắc
về phía tây là dãy núi Thằn Lằn, phía bắc và đông là
những quả đồi xinh xắn. Bên cạnh thú tắm mát, ở đây còn
có thể leo núi, thưởng thức những trái ngọt của rừng
thiên nhiên như ổi, sim...Khi mực nước hạ thấp trong
lòng hồ còn xuất hiện thêm một số đảo nhỏ.
Ở đây, mùa hè mát mẻ, mùa
đông ấm áp, lượng mưa hàng năm thấp, số ngày mưa ít, phù
hợp với nhiều loại hình du lịch trong cả năm.
Rừng Ngọc Thanh ở khu vực
hồ còn hơn 500 ha tự nhiên và đã trồng thêm 300 ha rừng.
Hiện nay, hồ đang được đầu tư trồng rừng phong cảnh và
trồng cây ăn quả kết hợp phát triển nghề nuôi ong và
sinh vật cảnh để phục vụ các yêu cầu đa dạng của du
khách.
Làng gốm Hương Canh
|
Làng Hương Canh là
một trong ba làng của Kẻ Cánh ngày xưa, nay hợp
thành xã Tam Canh thuộc huyện Bình Xuyên tỉnh
Vĩnh Phúc. Theo một tư liệu
của địa phương thì nghề gốm Hương Canh có khoảng
hàng trăm năm trước. Truyền thuyết kể rằng, ngày
xưa có ba người thợ gốm được vua sai đi gây dựng
nghề ở Thanh Hoá, Bắc Ninh và Hương Canh. |
 |
|
Mỗi người dạy cho địa phương làm
một nghề gốm khác nhau. Bắc Ninh làm gốm dày,
Thanh Hoá và Hương Canh làm gốm mỏng. Như vậy có
lẽ địa phương làm gốm ở Bắc Ninh chính là làng
Thổ Hà bên sông Cầu. Vì hàng năm phường gốm
Hương Canh vẫn cử đại biểu về Thổ Hà để cúng giỗ
tổ nghề. Còn ở Thanh Hoá có hai khu làm gốm đó
là lò Nổi và Lò Chum đều ở bên sông Bến Ngự. Có
lẽ Lò Nổi có trước Lò Chum vì nơi đó làm gốm
mỏng. |
Cũng như các làng gốm khác,
quy trình sản xuất ở Hương Canh có năm khâu chính: làm
đất, chuốt, tạo hình, sửa dáng, đun lò. Các khâu này
được chuyên môn hoá đến mức từng dòng họ làm một khâu
riêng. Vì các khâu đều liên quan đến giá trị các thành
phẩm nên nghề nghiệp ở đây đã gắn bó các dòng họ với
nhau, cùng chịu trách nhiệm về sản phẩm, trong đó khâu
đun lò là quan trọng nhất. Hương Canh trước đây sản xuất
đồ gốm sành như lon, vại, chum, tiểu.... nay đề phù hợp
với yêu cầu thị trường, chuyển sang làm gạch ngói và các
vật liệu xây dựng khác.
Tại làng, có một ngôi đình
được giới mỹ thuật đánh giá cao về giá trị điêu khắc.
Đình Hương Canh năm gian, hai chái hoành tráng đồ sộ,
nổi tiếng về những trang trí chạm trổ. Các đầu đui, họng
cột những phần gỗ thừa ra đều được biến thành những tác
phẩm nghệ thuật. Những đầu kim được chạm rộng, sâu hàng
gang tay, những đầu hoành đòn tay là những chú voi như
đang khiêng, đội mái đình. Những bức trạm trên các cốn
và ván gió thật tuyệt tác, là hình ảnh thu nhỏ của ngày
hội làng sinh động.
Tam Đảo
|
Dãy núi Tam Đảo,
có đỉnh cao nhất 1.591 m, chạy dài theo hướng
tây bắc - đông nam trên địa giới hai tỉnh Thái
Nguyên, Vĩnh Phúc.Gọi là Tam Đảo vì
trên dãy núi đó có ba đỉnh cao là Thiên Thị,
Thạch Bàn và Phú Nghĩa giống như ba hòn đảo nổi
lên giữa biển mây. |
 |
| Vào đầu thế kỷ XX, một khu vực
trên sườn núi phía nam được xây dựng thành nơi
nghỉ mát. Đây là một cái thung lọt giữa bốn biển
núi đất, cao hơn mặt biển non 900 m, có dòng
suối Bạc chảy qua, tiếp nước cho hai hồ bơi xây
giữa khu nghỉ mát và chảy ra khe núi đổ xuống
vực thành ra Thác Bạc. Nước từ trên cao ba bốn
chục mét tuôn rơi mài mòn vách đá, bọt trắng xoá. |
Khí hậu Tam Đảo mát mẻ, nhiệt độ
thường thấp hơn Hà Nội 100C. Ngày nóng nhất ở
Tam Đảo cũng chỉ 270C. Mây Tam Đảo nhởn nhơ
bay lượn quẩn quanh đây đó. Suối Tam Đảo lăn tăn uốn
lượn in bóng thông xanh.
Tam Đảo có những loài hoa,
rau quả ôn đới, có những chiếc cầu bằng mây song treo lơ
lửng trên suối, trên vực. Khác với Sa Pa quanh năm giá
lạnh, Tam Đảo trong một ngày có đủ bốn mùa.
Ở Tam Đảo có khu rừng quốc
gia, diện tích khoảng 19.000 ha, có hơn 620 loài cây
thân gỗ và thân thảo, trong đó tới 40 % là các loại sồi
giẻ.
Có 120 loài chim, nhiều
loại chim có bộ lông màu sặc sỡ như vàng anh, sơn tiêu
trắng, sơn tiêu đỏ, gà tiền, gà lôi hoặc có giọng hót
hay như hoạ mi, khước bách thanh...
Thú rừng có chừng 45 loài,
trong đó có nhiều loài quý hiếm, như hổ, báo, gấu, sóc
bay, chồn mực, vượn, vọc quần đùi, vọc đen.
Tam Đảo là nơi nghỉ mát
trong mùa hè, nghỉ cuối tuần với thủ đô Hà Nội và các
khu vực chung quanh, có đủ điều kiện triển khai loại
hình du lịch núi.
Khu
di tích lịch sử Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng
|
Vào mỗi mùa xuân,
Đền Hùng ở Phú Thọ lại đông đúc với du khách. Họ
đến đây để tạ ơn trời đất, để tưởng nhớ đến cội
nguồn người Việt. Đền Hùng là một
quần thể kiến trúc nằm trên núi Nghĩa Lĩnh thuộc
xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, cao 195m so với mặt
biển, đã trở thành địa danh thiêng liêng của
lịch sử khởi nguồn dân tộc Việt Nam. Khu di tích bao gồm: Đền
Thượng, Lăng Mộ Tổ, Đền Trung, Đền Hạ, Đền Giếng, gác
chuông, chùa Thiền Quang - Thiền Tự. |
 |
Đền Thượng: Ở trên
đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, nơi các vua Hùng cùng các hầu lĩnh
tướng thường đến đây để cúng tế trời đất, mong cho mưa
thuận gió hoà, mùa màng tươi tốt để muôn dân no ấm, đất
nước thái bình. Vì thế Đền Thượng còn có tên "Kính thiên
Lĩnh điện", tức là điện thờ trời ở trên núi. Đền Thượng
được xây vào thế kỷ thứ XV và trùng tu từ năm 1914 -
1922. Cạnh Đền Thượng còn có một cột đá, tục truyền rằng,
khi Thục Phán được vua Hùng nhường ngôi đã dựng một cột
đá trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, thề nguyện muôn đời bảo vệ
giang sơn gấm vóc và đời đời hương khói tại Lăng miếu
Vua Hùng.
Lăng Tổ: (Hùng
Vương Lăng) ở phía bên trái Đền Thượng, đặt theo hướng
đông tây. Tương truyền là mộ Vua Hùng thứ VI, sau khi
Thánh Gióng đánh thắng giặc Ân bay lên trời, vua cởi áo
vắt lên cành cây kim giao rồi hoá ở đó. Lăng Tổ theo
kiểu dáng hiện có được xây vào năm 1874.
Đền Trung: xuất
hiện sớm nhất trên núi Hùng, vào thế kỷ thứ XIV. Cách
đây khoảng 300 năm, Đền Trung được xây lại, theo kiểu
chữ nhất, tồn tại đến bây giờ, là nơi các Vua Hùng
thường họp bàn việc nước. Hùng Vương thứ VI đã gọi 18
người con về núi Nghĩa Lĩnh mở cuộc thi làm cỗ để tìm
người có tài đức kế nghiệp. Lang Liêu là người con út
thương dân, hiếu nghĩa đã sáng tạo ra hai thứ bánh dày
và bánh chưng, tượng trưng cho trời và đất, dâng cha và
được nhường ngôi.
Đền Hạ: được xây
dựng vào khoảng thế kỷ XVII - XVIII, theo kiểu chữ nhị
(=), tục truyền là nơi Âu Cơ sinh bọc trăm trứng, nở
trăm người con trai. Khi các con khôn lớn Lạc Long Quân
bàn với Âu Cơ chia các con đi mở mang bờ cõi. 50 người
con theo cha về xuôi, 49 người con theo mẹ lên miền
ngược, người con cả ở lại nối ngôi cha, truyền được 18
đời gọi là Hùng Vương.
Thiền Quang-Thiền Tự được
xây dựng vào thời kỳ nhà Lê (1427-1573), Kiến trúc chủ
yếu là cột gỗ đã kè và lợp ngói. Trước kia chùa xây theo
kiểu chữ công, xung quanh có thành đá ong bao bọc, nay
chỉ còn phần tiền tế. Trước chùa có cây thiên tuế khoảng
700 năm.
Đền Giếng: Từ Lăng
Tổ đi xuống 700 bậc là tới Đền Giếng, nằm ở chân núi
Nghĩa Lĩnh. Tại đây có Giếng Ngọc, nơi hai nàng công
chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa, con gái Vua Hùng thứ 18 soi
gương chải tóc.
Đền Hùng ở một vị thế đẹp,
cảnh quan hùng vĩ. Hai dãy núi Ba Vì (núi cha) - Tam Đảo
(núi mẹ) như hai cánh cung ôm lấy vùng đất Tổ. Hai bên
là dòng sông Hồng đỏ nặng phù sa và dòng sông Lô xanh
như dải lụa uốn lượn, gặp sông Đà ở Bạch Hạc.
Giỗ Tổ Hùng Vương - Lễ hội
Đền Hùng là tình cảm sâu đậm, trở thành truyền thống "Uống
nước nhớ nguồn", ghi nhận công lao to lớn của các vua
Hùng đã có công dựng nước Văn Lang, Nhà nước đầu tiên
của người dân gốc Việt.
Tâm tưởng của người về dự
lễ hội là hướng về tổ tiên, cội nguồn với sự tôn kính và
lòng biết ơn sâu sắc. Sử xưa kể lại, thời phong kiến,
định lễ 5 năm mở hội lớn một lần, còn hội thường hằng
năm giao cho dân sở tại (xã Hy Cương và Chu Hoá) sửa lễ
cúng Tổ vào ngày 12 tháng ba âm lịch. Từ đầu thế kỷ XX,
triều đình nhà Nguyễn lệ định 5 năm một lần, có quan
triều đình về cúng tế và quan hàng tỉnh và ông chủ tế
người địa phương, cũng vào ngày 10 tháng ba âm lịch như
ngày nay.
Nghi lễ ngày hội là có một
lá cờ thần được treo trên đỉnh núi Hùng. 41 làng xã xung
quanh rước kiệu dâng lễ về lễ Tổ. Trên các cỗ kiệu có
bày lễ vật, đi kèm có phường bát âm, tấu nhạc, có quạt
bát biểu, lọng tre cùng chiêng trống. Ngày hội thường tổ
chức từ ba đến năm ngày, có nhiều hoạt động văn hoá mang
đậm đà sắc thái dân gian truyền thống như đánh đu, đấu
vật, chọi gà, kéo co, kéo lửa, nấu cơm thi, cờ tướng,
hát xoan, hát ghẹo...
Sau Cách mạng Tháng Tám,
kế tục truyền thống cao đẹp của cha ông, năm nào Nhà
nước cũng tổ chức lễ hội Đền Hùng và lễ dâng hương tại
Đền Thượng. Hầu hết các vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và
Nhà nước đã đến thăm viếng mộ Tổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã hai lần đến thăm Đền Hùng. Ngày 19 tháng 9 năm 1954,
Bác lần lượt đi thăm khu di tích, viếng mộ Tổ và Đền
Giếng, gặp gỡ và nói chuyện với Đại đoàn quân Tiên phong
trên đường về tiếp quản thủ đô:
"Các vua
Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".
Đền Hùng là khu di tích lịch sử - văn hoá quốc gia. Gần
đây, lễ hội đền Hùng được tổ chức với quy mô lớn hơn,
thu hút hàng vài chục nghìn người các vùng trong nước,
kiều bào ở nước ngoài và khách quốc tế về dự. |