|
|
Từ trung tâm Hà Nội đi theo quốc lộ 1A về
phía nam với lộ trình sáu chục km là đi trên đất
của Hà Nội, tỉnh Hà Tây, rồi đến tỉnh Hà Nam.
Khách có thể thăm đài tưởng niệm Ngọc Hồi ghi
dấu chiến trận năm 1789 (vua Quang Trung hạ đồn
của quân Thanh xâm lược); thăm làng Bằng Sở -
cái nôi của nghề đan mây tre; rồi sang đất tỉnh
Hà Tây, thăm Nhị Khê quê hương của Nguyễn Trãi,
nhân vật lịch sử Việt Nam thế kỳ XV, đã từng
được UNESCO công nhận là Danh nhân Văn hoá Thế
giới và tổ chức kỷ niệm 600 năm sinh của ông vào năm 1980,
đồng thời lại là làng có nghề tiện mỹ nghệ. |
 |
Đi xuôi ít nữa sẽ có dịp
thăm một làng thủ công mỹ nghệ chuyên ngành thêu và hai
ngôi chùa cổ nổi tiếng: Chùa Đậu và Chùa Mui. Sau đó đến
km 36 nơi sắp hết địa phận tỉnh Hà Tây sẽ được gặp một
làng chuyên nghề khảm trai, khảm xà cừ. Trên địa phận
tỉnh Hà Nam, đến km 50 rẽ vào huyện Kim Bảng thăm một
dãy núi có hang động đẹp gọi tên là Ngũ Động - Thi Sơn.
Tượng đài Ngọc Hồi
|
Từ trung tâm thành phố Hà Nội đi về phía nam
đến làng Ngọc Hồi, thuộc huyện Thanh Trì. Bên
phải là tượng đài Ngọc Hồi bề thế, một công
trình hoành tráng tạo hình ba mũi tên lao về
phía bắc, tượng trưng cho bước tiến vũ bão của
đại quân Tây Sơn tiến về giải phóng Thăng Long.
Mùa đông năm 1788, sáng sớm ngày 30-1-1789, vua
Quang Trung tấn công đồn Ngọc Hồi, tiêu diệt
quân xâm lược nhà Thanh, tiến lên hạ thành Thăng
Long. |
 |
Làng mây tre đan
Đến cầu Ngọc Hồi rẽ trái
tới làng Bằng Sở nay thuộc xã Ninh Sở, huyện Thường Tín,
tỉnh Hà Tây, một trong những chiếc nôi sinh thành của
nghề mây tre đan.
Hàng mây Bằng Sở đã đi
khắp các châu lục, có tới gần hai trăm mẫu hàng: lớn có
bàn ghế sa lông, tủ rượu... nhỏ là đĩa, lẵng, làn, chậu,
bát, khay, lọ hoa, chao đèn. Bát có loại răng cưa, rua
miệng, đáy dày, trơn mộ...; lẵng có loại bán nguyệt,
quai chai, hình thuyền đuôi chim én...
Có những mẫu đẹp được định
hình trên hàng mây: hồ Hoàn Kiếm, chim đại bàng, chú bé
cưỡi trâu thổi sáo...
Những sợi mây tạo ra cảnh
sóng nước, mây trời, chim bay, hoa nở, lâu đài, đình
miếu và đặc biệt là thể hiện chân dung, không chỉ giống
như thật mà phải toát lên tâm hồn và tính cách con người.
Hàng mây tre Bằng Sở đã đi
dự Hội chợ Pa-ri năm 1931. Ngày nay các hàng mây tre như
túi xách, lẵng hoa, giỏ đựng hoa quả, bàn ghế... thường
được khách tìm mua.
Nhị Khê - làng văn, làng nghề
Nhị Khê là tên hiệu của
Nguyễn Phi Khanh, thân sinh Anh hùng dân tộc, danh nhân
văn hóa thế giới Nguyễn Trãi (thế kỷ XV), đã từng sống
và dạy học tại đây. Sau khi lên ngôi, vua Lê Thánh Tông
đã minh oan vụ án Lệ Chi Viên và lập đền thờ Nguyễn Trãi
ở Nhị Khê.
Làng Nhị Khê là làng của
nghề tiện gỗ, tiện sừng, tiện ngà... Nhỏ là bộ quân cờ,
tẩu thuốc lá, chuỗi hạt nữ trang, các hộp đựng mỹ phẩm.
Lớn là các bộ phận trong công việc xây dựng nhà cửa: bộ
lan can tay vịn cầu thang, trấn song cửa, cốt các loại
bình hoa, lộc bình sơn mài ...
Các máy tiện cổ truyền vốn
đạp bằng chân đã được lắp mô tơ điện và trục quay đã
được lắp vòng bi nhưng vẫn mang dáng dấp cũ, khách vẫn
có thể hình dung được các thao tác của người thợ từ hàng
trăm năm trước.
Chùa Đậu
|
Chùa tên chữ là
Thành Đạo Tự nằm trong thôn Gia Phúc, xã Nguyễn
Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây thờ nữ thần
Pháp Vũ trong hệ thống Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp
Lôi, Pháp Điện. Theo văn bia thì Thành Đạo Tự
được xây dựng từ thời Lý. Các triều đại kế tiếp
đều có sửa sang tu bổ. Lần trùng tu năm 1635 do
cung tần Ngô Thị Ngọc Nguyên đứng ra làm hội chủ
hưng công, khiến chùa thêm phần rộng lớn đẹp đẽ.
|
 |
Chùa dựng theo kiểu chữ (I) trên khu đất cao, phía trước có
hồ rộng, phía sau là sông Nhuệ. Tam quan chùa đồng thời
cũng là gác chuông: Giữa là một kiến trúc hai tầng tám
mái với đầu đao cong vút; tầng trên có lan can vây bọc,
các bộ phận bằng gỗ được chạm trổ rồng, phượng, hoa lá,
chim thú, bên trong treo quả chuông lớn đúc năm 1801.
Tầng dưới là cửa lớn, gắn
liền với hai cửa vòm và hai cột trụ cao ở hai bên một
cách hài hoà, tạo ra một chỉnh thế kiến trúc bề thế. Qua
Tam quan tới một sân gạch rộng, hai bên có hai nhà giải
vũ. Cuối sân là lối lên nhà tiền đường. Có hai dãy hành
lang trong và dãy nhà Tổ nằm ngang ở phía sau nối tiếp
nhau tạo thành một khung vuông bao bọc lấy toà thiêu
hương và điện thờ thần Pháp Vũ ở giữa. Phía sau chùa còn
có am thờ nhỏ. Quanh chùa có nhiều cây cao bóng cả. Chùa
Đậu lưu giữ được nhiều di vật và đồ thờ cổ rất có giá
trị như: đôi rồng đá thành bậc trước nhà tiền đường,
mang dấu ấn nghệ thuật điêu khắc thời Trần (thế kỷ XIV);
gạch cỡ lớn có chạm trổ trang trí thời Mạc (thế kỷ XVI);
sách bằng đồng thời Lê (gồm tám lá đồng khổ 0,20x0,50m,
khắc chữ cả hai mặt, ghi lại việc xây chùa và những điều
liên quan đến việc thờ phụng tế tự ở chùa ); hai tấm
biển gỗ sơn son thiếp vàng khắc hai bài thơ nôm do Định
Vương Trịnh Căn (1682 - 1709) và An Đô Vương Trịnh Cương
(1709-1729) sáng tác khi về thăm chùa; nhiều tấm bia cổ
chạm khắc công phu; có hai pho tượng ngoài bó sơn ta và
quang dầu, bên trong là thi hài hai nhà sư Vũ Khắc Minh
và Vũ Khắc Trường đã tu ở chùa trong khoảng nửa đầu thế
kỷ XVII, được thể hiện trong tư thế "toạ thiền nhập định".
Nghiên cứu hai pho tượng
này bằng các công cụ và phương pháp khoa học đã cho phép
đi đến kết luận: trong tượng quả thật có cốt xương, vị
thế liên kết bộ xương phù hợp với cơ sở giải phẫu học.
Như vậy sự xuất hiện hai pho tượng độc đáo này về cơ bản
là phù hợp với những truyền thuyết xoay quanh quá trình
tu luyện theo lối khổ hạnh của hai nhà sư nói trên (đặc
biệt là nhà sư Vũ Khắc Minh được gọi là sư Rau, sư Thiêu)
và rõ ràng là có liên quan đến thuật ướp xác của Việt
Nam mà hiện nay vẫn đang còn là điều bí ẩn.
Làng thêu Quất Động
|
Khu vực xã Quất Động, huyện Thường Tín, tỉnh
Hà Tây gồm bốn làng nhưng chỉ có làng mang tên
xã là làng nôi của nghề thêu đặc sắc. Làng Quất
Động được coi như đất tổ nghề này. Ngày trước
làng thêu chủ yếu phục vụ cung đình và các nhà
quyền quý, đền chùa và phường tuồng. Kỹ thuật
thêu cũng đơn giản, và dùng năm mầu chỉ: Vàng,
đỏ, tím, xanh, lục. |
 |
Tới đầu thế kỷ XX, nghề
thêu phát triển, kỹ thuật thêu tinh vi lên, những ngành
thêu mới ra đời như thêu hàng trắng, hàng nổi, thêu kết
hợp dua ...
Người thợ thêu, bên cạnh
đức tính cần thiết như cần cù, tỉ mỉ, tinh mắt, còn phải
có óc thẩm mỹ cao, biết điều khiển những đường kim mũi
chỉ để hoà hợp các mầu sắc.
Công phu nhất là thêu các
đường ven đường lượn, như gân lá, đài hoa, mắt chim, mắt
người. Những cánh chỉ quện lấy nhau; chân chỉ của từng
chiếc lá, đài hoa, khoé mắt phải đều và đường chỉ càng
mềm, chân chỉ càng lẳn thì sản phẩm càng giá trị.
|
 |
Có nhiều mặt hàng mới đáp ứng nhu cầu thị
hiếu của thời đại. Những mặt gối thêu hoa sen,
hoa cúc; những áo ki-mô-nô thêu rồng chầu,
phượng múa... Riêng mặt hàng khăn trải giường
bốn góc có hoạ tiết giàn hoa, giữa là bức thêu
lớn với nhiều màu đặc sắc như: "Tùng hạc" - đôi
chim hạc trắng muốt có điểm vài nếp cánh viền
đen hoà hợp với màu xanh của lá xanh cổ thụ;
"Uyên |
|
ương trong đầm sen"
với những cánh hoa, lá sen, nụ sen, hồng phớt,
hoà sắc khá phức tạp, chen lẫn là đôi uyên ương
tạo lên không khí nồng ấm trên nền lam; Rồi "Công
múa bên bụi trúc", "Rồng vờn mây", "Phượng ngậm
thư"..v..v... |
Lại có những bức tranh
thêu phong cảnh hoặc cảnh sinh hoạt : chợ quê, đình làng,
cô gái gảy đàn... nhưng tinh xảo nhất là thêu tranh chân
dung.
Chùa Mui
Chùa Mui nay thuộc địa
phận thôn An Duyên, xã Tô Hiệu, huyện Thường Tín, tỉnh
Hà Tây có tên chữ là Hưng Thánh Quán, trước là một quán
của đạo Giáo.
Chùa dựng theo kiểu chữ
(I) phía trước là nhà tiền bái, phía sau là điện thờ Mẫu,
hai bên là hai dãy hành lang, tạo thành một khung vuông.
Nổi bật lên ở giữa khung vuông này là toà thượng điện.
Nhà tiền bái có năm gian hai chái, với bộ mái đồ sộ lợp
ngói vẩy rồng.
Chính giữa bờ nóc đắp nổi
ba chữ "Hưng Thánh Quán", hai đầu bờ nóc là hai hình đầu
rồng bằng đất nung nguyên khối khá lớn, mũi sư tử, mắt
lồi, bờm hất ngược, miệng há to ngậm một khung vuông có
hình tròn ở giữa - biểu tượng "Trời tròn đất vuông". Bên
trong nhà tiền bái có nhiều mảnh chạm khắc trang trí
rồng mây hoa lá mang dấu ấn thế kỷ XVII. Toà thượng điện
được dựng trên nền cao hơn nền đất gần một mét, có mặt
bằng gần vuông : một hệ thống bốn cột cái, 12 cột con đỡ
bộ mái đồ sộ, được trang trí bằng đôi rồng (đất nung
nguyên khối, cao tới gần 1 m) có sừng hai chạc, tai thú,
mặt lồi, mũi sư tử, miệng há rộng, nhe răng cắn hình lá
để trang trí; hai sừng tê vắt chéo (một trong những biểu
tượng của tín ngưỡng đạo Giáo). Trong toà thượng điện có
đặt một bệ tượng đất nung khá lớn (cao khoảng 1 m, rộng
1,50 m dài 2,50m). Trên cùng là đài sen trang trí hình
rồng, hoa lá và bốn góc là chim thần garuda trong tư thế
nâng đội đài sen.
Chùa Mui với kiến trúc cổ
kính, nhất là những di vật đất nung độc đáo, giúp cho
việc nghiên cứu tìm hiểu về các hoạt động tín ngưỡng tôn
giáo và nghệ thuật kiến trúc cổ.
Làng khảm trai, xà cừ
Làng Chuyên Nghiệp thường
gọi là làng Chuôm, ở Phú Xuyên, làng tổ nghề khảm trai,
khảm xà cừ.
Đồ gỗ đánh bóng sơn mài đã
đẹp, nhưng nếu khảm thêm lên những mảnh xà cừ, mảnh trai
nhiều mầu óng ánh và được tạo thành những hình, những
đường nét thì càng đẹp lên gấp nhiều lần. Người thợ khảm
dùng vỏ con xà cừ và vỏ con trai làm chất liệu chính.
Xà cừ là một loại ốc ở
biển, vỏ có vân nhiều màu. Trai có nhiều loại: con vỏ
trắng như bông hoặc vàng như nghệ, con cửu khổng vân đẹp
như bảy sắc cầu vồng... Từ vỏ trai, vỏ xà cừ, người thợ
vẽ mẫu, mài, cưa, đục, mảnh, chạm hình, gắn lên gỗ, lại
mài, lại đánh bóng, cuối cùng hoàn thiện công việc chế
tác.
Ngày trước hàng khảm là
những đồ gỗ dân dụng: tủ chè, sập gụ, hộp trầu, bàn ghế,
khung ảnh... Đề tài chọn từ các mặt hàng: hộp đựng đồ
trang sức, mỹ phẩm, bàn cờ và quân cờ, khay dựng hoa
quả, cốc chén... Về sau, bên cạnh hoa lá, chim bướm, còn
thể hiện các danh lam thắng cảnh ở Việt Nam.
Ngũ Động - Thi Sơn (Quyển Sơn)
Từ thị trấn Quế, huyện lỵ
của Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, men bờ sông Đáy đến chùa Bà
Đanh. Gần đấy có một hang động đẹp. Qua cầu của thị trấn
Quế gặp Thi Sơn, nghĩa là núi cỏ thi, một loại cỏ mà
ngày xưa các nhà nho thường dùng để bói toán. Núi còn có
tên là núi Quyển với truyền thuyết, khi tướng Lý Thường
Kiệt (1019-1105) đóng quân ở đây, bỗng có gió nổi, các
lá cờ bay lên đỉnh núi và cuốn tròn lại, ông bèn đặt tên
núi là Quyển Sơn tức là núi cuốn.
Thi Sơn là dãy núi đá vôi
nối với dãy núi Hương Tích, có nhiều hang động. Cách đây
dăm năm, đã tìm ra một quần thể hang động có năm lớp
hang sâu trong lòng núi, nhiều nhũ đá hình thù kỳ lạ,
giống ông sư ngồi gõ mõ, nhà hiền triết suy tư, Tôn Ngộ
Không đánh Bạch Cốt Tinh, một đàn hươu đang chạy, con hổ
vươn mình... Thêm vào đó là ở một vài ngóc ngách, nước
giỏ xuống những tảng đá rỗng nghe loong boong như tiếng
trống vỗ âm vang.
Ở chân núi có ngôi đền thờ
danh tướng Lý Thường Kiệt, bao quanh là những rặng trúc
bốn mùa xanh nên còn gọi là đền Trúc. Hằng năm, đền mở
hội vào mồng mười tháng giêng âm lịch, có thi bơi chải
dành cho nam trên sông Đáy và thi hát dặm cho nữ trước
sân đền.
Còn một lối đi nữa, dài
hơn chút ít nhưng thẳng đường hơn. Đó là xuống tới thị
xã Phủ Lý rẽ phải qua ngay cầu Hùng Phú bắc qua sông Đáy,
theo đường nhựa mới làm theo bờ tây ngược lên là tới Ngũ
Động - Thi Sơn. Nếu muốn thăm chùa Bà Đanh thì qua cầu
Quế, trở sang bờ đông là tới ngay chùa này.
Cố
đô Hoa Lư
|
Trên cánh đồng chiêm bát ngát một màu xanh
mát mắt của hai huyện Gia Viễn và Gia Khánh,
tỉnh Ninh Bình là 99 ngọn núi đá vôi lô nhô nối
tiếp nhau kéo dài như bức trường thành. Đôi chỗ
có một ngọn đột ngột vươn cao như toà tháp canh
sừng sững vây quanh những thung lũng rộng thoáng,
có sông ngòi uốn khúc, có hồ đầm mặt nước lấp
loáng như gương in bóng cảnh núi non hùng vĩ và
bầu trời khoáng đãng. Đó là thắng cảnh "Hạ Long
trên cạn" của Ninh Bình, có khu di tích Hoa Lư-
kinh đô của nước Đại Cồ Việt xưa. |
 |
Cồ Việt quốc đường Tống
Khai Bảo
Hoa Lư đô thị Hán Trường An
( Nước Đại Cồ Việt ngang hàng với nhà Tống đời Khai Bảo; Hoa Lư là kinh đô Đại Cồ Việt cũng như Tràng An là kinh đô nhà Hán vậy).
Đôi câu đối bên cột đền
vua Đinh ở Hoa Lư nói lên lòng tự hào của tổ tiên ta
trước tầm vóc lớn lao của Tổ quốc bước vào giai đoạn độc
lập tự chủ.
Những ghi chép trong sách
cũ thì cố đô Hoa Lư nằm trên địa phận của hai xã Trường
Yên Thượng và Trường Yên Hạ ngày nay. Tường thành cao từ
8 - 10 m, đắp bằng đất, bó gạch lớn, có in chữ "Đại Việt
quốc quân thành chuyên". Thành Hoa Lư rộng khoảng 300ha,
chia làm hai khu vực: Thành ngoại ở phía đông và thành
nội ở phía tây ăn thông với nhau qua một ngách núi gọi
là quèn Võng. Giữa hai khu từng có cổng lớn xây bằng đá,
cầu đá bắc qua hào sâu, mang tên Cầu Đông, Cầu Dền... Từ
thời Đinh đến Tiền Lê, qua 41 năm (968-1009), nhiều cung
điện được xây dựng trong thành.
Về thăm Hoa Lư, thoạt đầu
đến động Thiên Tôn, nằm dưới chân núi Dũng Đương. Động
chia làm hai phần: Phần ngoài rộng khoảng 200 m vuông,
nền đẳng, trần cao, giữa có hương án khá đồ sộ. Bên trái
là bệ thờ 18 vị La hán. Bên phải treo quả chuông lớn đúc
thời Cảnh Hưng. Phía sau hương án là một hành lang ngắn
ăn thông vào một hang nhỏ tạo thành hình chuôi vồ, có án
thư, bệ thờ, Long Đình đôi rồng chầu toàn bằng đá. Trong
Long Đình có tượng Trấn Vũ Thiên tôn bằng đồng, nặng
khoảng bốn tạ, đứng chống gươm trên lưng rùa đá, trông
oai nghiêm đường bệ. Phía sau Long Đình có một giếng
tròn gọi là giếng Rồng, quanh năm có nước. Từ động Thiên
Tôn đi tiếp đến Quèn Ổi.
|
Đền thờ vua Đinh
và đền thờ vua Lê được xây dựng trên nền cung
điện chính thuở xưa, nằm ở trung tâm khu vực
thành ngoại. Đền vua Đinh tựa lưng vào dãy núi
Phi Vân, phía trước là Mã Yên Sơn (núi Yên Ngựa).
Theo lời các cố lão ở địa phương thì đền được
xây từ thời Lý, quay về hướng bắc. Sau đợt trùng
tu lớn vào thời Hậu Lê (cuối thế kỷ XVII); đền
mới hướng về phía đông. Đền làm theo kiểu "nội
công ngoại quốc". Ngoài cùng là cổng lớn được
gọi là "Ngọ môn quan", tiếp đó là hồ sen núi giả,
rồi đến nghi môn ngoại (cổng ngoài). |
 |
|
Một con đường lát gạch, hai bên
là vườn hoa, dẫn tới hai cột trụ cao có đôi câu
đối nêu bật địa thế hiểm trở của núi non sông
nước Hoa Lư. Gần đó là tấm bia lớn dựng năm
Chính Hoà thứ 17 (1696), ca tụng công chúa Phật
Kim. Qua hai trụ cổng là đến sân rồng. Giữa sân
rồng là một sập rồng, đặt trên bệ cao dài khoảng
1,90 m rộng 1,40 m, mặt sập và thành sập là
nguyên một khối đá, một con rồng lớn có sừng
giữa trán, tai như tai trâu, râu xoắn dưới cằm,
bờm hất ngược, vùng vẫy trong mây, choán gần hết
mặt sập. Viền quanh sập, trên chân sập kiểu "châu
quỳ dạ cá" là các hình rồng, phượng, hoa tranh,
lá dẻ, vân mây... và còn có cả tôm tép, cua cá,
chuột. |
Hai bên sập rồng có đôi nghê đá rất sống động. Đền gồm ba
lớp: ngoài là toà bái đường; giữa là gian thiêu hương
thờ Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lu Cơ Bổn, những "khai
quốc công thần" triều Đinh.
Lớp trong cùng là toà
chính cung, chính giữa có tượng Đinh Tiên Hoàng đúc bằng
đồng, khoác mũ áo thiên tử, ngồi trên bệ rồng. Bên trái
là tượng Nam Việt Vương Đinh Liễn; bên phải là tượng
Đinh Toàn, Đinh Hạng Lang, là các con của vua Đinh.
Đền vua Lê cách đền vua
Đinh khoảng 500 m, bên một nhánh của sông Hoàng Long,
dựa vào núi Đìa, phía trước là núi Đèn, kiểu thức xây
dựng về đại thể cũng giống như đền thờ vua Đinh, cũng có
nghi môn ngoại, hồ sen núi giả, nghi môn nội, sân rồng,
sập rồng, bia ca ngợi vua Lê Đại Hành dựng năm Hoàng
Đinh thứ 9 (1608), ba toà bái đường thiêu hương, chính
cung. Đền vua Lê còn giữ được nhiều dấu tích kiến trúc
trang trí cổ. Đặc biệt có sáu đầu bẩy chạm sáu con rồng,
mỗi con một dáng vẻ, con vờn ngọc, con đấu hổ, con phun
lửa... rất sinh động và bộ cánh cửa toà chính cung có
hình độc long trên nền gấm chữ triện hoa, tranh chạm trổ
rất công phu. Nhiều mảng trạm trổ trên cổng ván bưng,
trên điểm bia, bệ đá... với các hình rồng ổ, rồng đàn,
tôm, cua, khỉ, sóc... thể hiện cảm hứng nghệ thuật phóng
khoáng và tài năng điêu luyện của các nghệ nhân đương
thời. Trong chính cung đền Lê có đặt tượng vua Lê Đại
Hành ngồi trên ngai vàng, mang dáng dấp võ tướng; bên
phải là tượng Lê Long Đĩnh, bên trái là tượng Dương Vân
Nga.
Lăng vua Đinh Tiên Hoàng
đặt trên đỉnh Mã Yên Sơn có thể nhìn bao quát toàn cảnh
khu di tích. Ở giữa là dòng Hoàng Long quanh co uốn
khúc. Bên tả sông Hoàng Long có ngọn Kiếp Lĩnh (núi cắm
gươm). Ven sông, ruộng đồng chia ô như bàn cờ. Dưới
những lùm cây xanh tốt um tùm vây quanh chân núi, thấp
thoáng ẩn hiện những lớp mái rêu phong của các đền miếu
cổ xưa.
Hằng năm để tưởng nhớ công
lao người anh hùng đã dựng nền thống nhất độc lập cho
đất nước, nhân dân vùng Trường Yên - Hoa Lư tưng bừng mở
hội vào ngày mùng mười tháng ba âm lịch. Hội có lễ dâng
hương có tổ chức nhiều trò chơi mang tinh thần thượng võ,
có những màn đồng diễn "cờ lau tập trận", xếp chữ "Thái
Bình" là niên hiệu đầu tiên của Đinh Tiên Hoàng, đua
thuyền, đấu vật, rước rồng...
Bích Động - Tam Cốc
|
Khu di tích thắng
cảnh nổi tiếng này, nằm trong rặng núi đá vôi
Trường Yên, gần khu di tích Hoa Lư. Bích Động được gọi
là "Nam thiên đệ nhị động". Phía trước động là
đồng lúa mênh mông, có nhánh sông Hoàng Long
chảy qua, uốn khúc quanh năm ngọn núi quây quần
thành cụm như đoá hoa sen. |
 |
|
Trên núi, cây cối xanh um; thấp
thoáng ẩn hiện những vạt mái ngói rêu phong của
ngôi chùa cổ. Chùa Bích Động được dựng với quy
mô lớn từ đầu thời Lê. Trong chùa còn quả chuông
lớn đúc từ đời Lê Thái Tổ, mộ tháp các vị hoà
thượng có công xây dựng chùa. Thời Cảnh Hưng
chùa được trùng tu mở rộng thêm, bao gồm Chùa Hạ,
Chùa Trung, Chùa Thượng, trải ra trên ba tầng
núi. Vào Chùa Hạ phải qua một cầu đá ba nhịp.
|
|
 |
Chùa xây bằng đá tảng mài nhẵn trên khối nền
kè đá cao tới gần 2m, trông khá bề thế: Cột thềm,
lan can... chủ yếu đều được tạo dựng bằng chất
liệu đá, mái chồng lợp ngói mũi hài to bản, hai
bên là hai toà giải vũ, phía trước là sân gạch
rộng và phương đình. Bên trái Chùa Hạ có lối lên
Chùa Trung đục đá thành bậc, mát rượi dưới tán
lá cây lưu niên. Chùa Trung nằm kề cửa động,
trên vách đá có khắc hai chữ Hán "Bích Động".
|
|
Phía bên trái có tấm bia "Bích
Sơn thiền tự bi" (Bia Chùa Bích Sơn) dựng thời
Lê Dụ Tông, phía bên phải là tấm bia thời Cảnh
Hưng, tạc ngay dưới sườn núi. Từ Chùa Trung,
trèo 22 bậc đá nữa qua Hang Tối có chuông cổ,
tượng phật bằng đồng, qua cổng đá cuốn, sẽ lên
tới Chùa Thượng. Chùa dựng trên điểm cao chót
vót gần đỉnh núi, đã đổ nát, chỉ còn lại mấy cột
đá đứng chơ vơ giữa những cây đại cồ thụ.
Gần Bích Động là động nước
Tam Cốc, đền Thái Vi và khu hành cung Vũ Lâm thời Trần.
Từ Bích Động đến Tam Cốc tuy gần nhưng chỉ có đường thuỷ.
Dòng sông nhỏ nước xanh thẫm, in bóng vách núi hoa rừng,
đến núi Kiều thì thắt hẹp lại, luồn qua ba cái hang (Tam
Cốc): Hang Cả, Hang Hai, Hang Ba. Trong hang nhiều nhũ
đá lóng lánh đủ màu sắc lại như được pha lẫn kim nhũ,
ngân nhũ dưới ánh đèn đuốc. Không khí trong hang mát
lạnh.
Nhà thờ Phát Diệm
|
Là một công trình
kiến trúc tôn giáo, làm bằng đá, tổng thể quy
hoạch khá bề thế. Nhà thờ như hiện
nay được khởi công xây dựng từ năm 1875 và đến
năm 1898 cơ bản hoàn tất. Nhà Thờ Phát Diệm gồm
nhiều công trình kiến trúc, chủ yếu chia làm hai
khu vực chính là khu nhà thờ và khu vực nhà
chung. Đây là một tổng thể mang rõ
phong cách kiến trúc đình làng Việt Nam, do
người Việt Nam thiết kế và thi công. |
 |
Trên một mặt bằng rộng lớn,
khu nhà thờ có một trục chính là phương đình và nhà thờ
chính toà. Các điện thờ và hang đá khác được xây dựng
cân đối ở hai bên. Hang Táng xác xây dựng đầu
tiên để thử nghiệm độ lún của đất bột phù sa Phát Diệm.
Năm 1876 khởi công xây
dựng phương đình bằng đá, độc đáo và bề rộng lớn có một
trục chính là phương đình và nhà thờ chính thể, cao 25m
dài 24m, rộng 17m. Tầng dưới có cả cửa lớn, ở gian giữa
kê một sập đá toàn khối. Tầng trên là gác chuông. Chuông
đúc năm 1891; nặng 1,5 tấn.
|
 |
Phương đình có năm
nóc mái cong lợp ngói, nóc giữa đặt thánh giá,
còn bốn nóc ở bốn phía đặt các tượng thánh sư. Năm 1889 dựng điện
Trái tim Đức Bà toàn bằng đá, sau hang Táng xác.
Điện rộng 9 m, dài 15 m, nền cột, xà hoành đều
bằng đá, tường bên trong chạm nổi hình con
phượng hàm thư và hình sư tử. Điện trái tim chúa Kitô làm bằng
gỗ mít, sáu gian. Chính diện điện này cũng dựng
bằng đá khá lớn và đẹp, kiểu tam quan. |
Năm 1891 xây dựng Nhà thờ
chính toà. Mặt chính toàn bằng đá cao ba tầng, mái cong.
Cột, kèo, tường, nền bằng đá, mái lợp ngói, trên đỉnh
cao có thánh giá. Các công trình bên trong bằng gỗ và đá.
Đây là công trình lớn nhất ở nhà thờ Phát Diệm, bao gồm
48 cột lim, chia làm sáu hàng, mỗi cột chu vi 2,4 m.
Riêng 16 cột ở hai hàng giữa, mỗi cột cao 12m.
|
Hai gian thánh điện có 14 bức phù điêu bằng
đá miêu tả cuộc đời chúa Ki tô. Còn mặt chính
điện được chạm gỗ sơn son thiếp vàng rực rỡ ở
chín gian tiếp theo, hai bên có 72 bộ cửa gỗ bức
bàn, tháo mở thuận tiện. Nhà thờ chính toà mang
rõ kiến trúc đình làng xoay theo chiều dọc tiền
đao hậu đốc, kết cấu gỗ theo kiểu trồng diêm với
ba lớp mái. Năm 1894 xây dựng các điện thánh
Giuse, Phêrô và Rôcô. |
 |
|
Cũng với gỗ, đá và tam quan, mái cong như kiểu
đình chùa, nhà thờ Phát Diệm còn sử dụng nhiều
nét chạm khắc gỗ đá dân tộc với tay nghề vững
vàng, điêu luyện. Về đề tài động vật có sư tử,
phượng, hươu nai, chim chóc các loại. Về thực
vật có tùng, mai, cúc, trúc, đặc biệt là nhiều
hoa sen, hoa chanh. Các phù điêu, chạm đá kể
chuyện thánh nhưng được thể hiện với phong cách
dân gian Việt Nam. |
|
|