Trang đầu
Điều kiện tự nhiên
Hà Nội nghìn năm văn hiến
Phố cổ
Du lịch quanh TP và Phụ cận
Thư viện Ảnh




 

<Về trước> • Giới thiệu • Tuyến dọc sông Hồng • Tuyến Kinh Bắc (Quốc lộ 1A lên phía bắc) • Tuyến Quốc Lộ 1A (Về phía nam) • Tuyến Quốc Lộ 2 • Tuyến Quốc Lộ 3 • Tuyến Quốc lộ 5 và đường 182 • Tuyến Đường 18A • Tuyến Xứ Đoài và Quốc lộ 32 • Tuyến Quốc Lộ 6 và Quốc lộ 22
   
 

       

            Lấy Hà Nội làm trung tâm, đi lên phía bắc theo quốc lộ 1A với một cung đường khoảng năm sáu chục ki lô mét, có nhiều di tích lịch sử - văn hoá.

Cụm di tích Phù Đổng

Làng Phù Đổng, thuộc huyện Gia Lâm còn có tên nôm là làng Gióng, quê hương của người anh hùng truyền thuyết đã đánh tan giặc Ân ở thời vua Hùng thứ VI. 

Làng nằm ngay trên bờ bắc sông Đuống, có ba ngôi đền.

Đền Gióng còn ghi là đền Thượng to và đẹp, tương truyền được vua Lý Thái Tổ (974 - 1028) cho dựng trên nền nhà cũ của ông Gióng ngay từ khi nhà vua dời đô ra Thăng Long (1010). Đền còn giữ được nhiều bộ phận kiến trúc thế kỷ XVII như chính diện, bái đường, nhà thiêu hương. Tượng Thánh Gióng khá lớn đặt trong chính điện. Ngồi giữa hai dãy tượng quan văn võ, hai người hầu cận, phỗng quỳ và bốn lính hầu. 

Hiện vật đáng chú ý là đôi rồng đá cách điện ở bậc thềm nét chạm khoẻ và phóng khoáng, đôi sư tử đá từ đời Lê Dụ Tông (1705), một số gạch trang trí rồng ở ven thềm đền, cỗ ngai thờ khá đẹp thời Lê, tấm bia khắc năm 1660, đôi choé cổ sứ tương truyền là của bà chúa Chè - Đặng Thị Huệ cung tiến.

Đền Mẫu còn gọi là Đền Mẹ, tên chữ là Khánh Quang điện, ở ngoài đê, là nơi thờ mẹ Thánh Gióng, xây năm 1693. Trước đền có cái ao hình bầu dục là nơi hàng năm tiến hành lấy nước rước về đền Thượng cúng. Cách đền Mẫu một đoạn về phía đông bắc là khu vườn cũ của mẹ Thánh Gióng, có bia đá đặt trong một nhà bia nhỏ và còn tảng đá in dấu chân người khổng lồ đã từng dẫm nát vườn rau trong một đêm mưa, mẹ Gióng ướm  thử chân vào đó nên đã có thai sinh ra Gióng.   

Cụm Đình Bảng

Trở lại quốc lộ 1A, tiếp tục đi lên phía bắc, đến km 15 là hết địa phận thành phố Hà Nội, sang tỉnh Bắc Ninh và đó là đất làng Đình Bảng thuộc huyện Tiên  Sơn. Dân sống vừa bằng nghề nông vừa bằng nghề buôn, ngày trước buôn tơ lụa, nay buôn nhiều hàng công nghệ phẩm. Tại đây có ba di tích: Ngôi đình làng, đền Lý Bát Đế (còn gọi là đền Đô) và khu lăng mộ các vua Lý:                                   

Đình dựng trên nền đất cao, hướng nam, chung quanh là mười bảy hồ ao lớn nhỏ vết tích của sông Tiêu Tương, tương truyền do các vua nhà Lý cho đào ăn thông với sông Đuống, để có thể từ Thăng Long về thẳng quê bằng đường thuỷ. Đình trước đây vốn có tam quan, đôi cột trụ cao đắp đèn lồng với cửa tò vò mái giả, sân gạch rộng thênh thang và hai dãy tả vu, hữu vu, nay chỉ còn toà bái đường (đại đình) với ống muống ăn thông vào hậu cung thành hình chữ I. Toà bái đường hình chữ nhật, chia làm bảy gian, hai chái, nằm trên nền cao bó đá xanh có bậc cấp. Bốn mái đình lợp ngói mũi hài, trông rất bề thế nhưng vẫn thanh thoát với những đầu đao cong vút lên. Nâng đỡ bộ mái nặng hàng mấy tấn này là 60 cột lim lớn nhỏ và một bộ khung cũng toàn bằng gỗ quý, được chạm trổ tinh vi với những đồ án trang trí quen thuộc như rồng, phượng, tùng cúc, trúc, mai, bầu rượu, thanh gươm... Bốn mặt bái đường đều lắp khung lùa cửa bức bàn. Nền bái đường, chính giữa lát gạch lá nem, các gian bên bắc rầm xà, lát ván làm sàn. Kết cấu bộ khung đinh rất vững chắc tuy chỉ gắn bó với nhau bằng các loại mộng.

Đồ trần thiết trong đình, đáng chú ý nhất là bức cửa võng và tấm trần che mái ở gian giữa, chạm trổ tinh vi với các đồ án chữ triện, hoa lá, thể hiện tài năng điêu luyện của các nghệ nhân trang trí. Bức trạm nổi "bát mã quần phi" trên ván nong phía dưới bao lớn nối đàng cột cái với cột con mô tả những đáng hình ngựa phi, ngựa lồng, ngựa nô rỡn, gặm cỏ, uống nước .... Đình khởi công xây dựng từ năm 1736, hoàn thành sau hàng chục năm thi công liên tục.

Hằng năm, vào ngày 12 tháng hai âm lịch, dân làng Đình Bảng lại mở hội để tưởng nhớ công lao của các phúc thần.

Trong ngày hội, trên bãi rộng trước cửa đình có các cuộc vui như đánh cờ, đánh vật, đánh đu, chọi gà... Ban đêm có hát chèo. Đặc biệt, trên hồ có hát quan họ trên thuyền, bên gái bên trai cử người hát đối đáp và hát đệm hoà theo.

Đình cũng là nơi thờ Lục Tổ tức sáu vị có công lập làng vào thế kỷ XV. Cách đình khoảng 500 m về phía bắc là đền Lý Bát Đế còn gọi là đền Đô thờ tám vua Nhà Lý (1009 -1225). Gần đây, đền đã được làm lại, bên trong có tám pho tượng các vua Lý và tám cỗ kiệu để rước trong ngày hội rằm tháng ba âm lịch. Bên cạnh ngôi đền chính còn một ngôi đền nhỏ thờ bà Chiêu Hoàng là vị vua thứ chín đã nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh tức Trần Thái Tông.

Ở giữa cánh đồng làng, xưa vốn là một cánh rừng lớn, tên là Rừng Bàng, có các lăng mộ tám vua nhà Lý.

  Làng nghề gỗ Đồng Kỵ

Làng này nay thuộc xã Đồng Quang, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Đồng Kỵ là làng làm đồ gỗ mỹ nghệ cao cấp đặc sắc. Khắp làng, suốt ngày không ngớt tiếng cưa đục. Các mặt hàng chủ yếu là bàn, ghế, tủ, sập có chất lượng cao. Khách có thể tự ý chọn lựa, từ chủng loại nguyên liệu đến các hình dáng kiểu cách.

Gỗ có nhiều loại: những đồ vật lớn, chịu lực cao thì dùng gỗ dồi, hoặc những đồ vật có bề mặt cần đánh bóng thì có gỗ gụ, gỗ lim, gỗ lát. Những đồ vật nhẹ, nhỏ và nhiều trang trí chạm khắc thì dùng gỗ vàng tâm... Về kiểu dáng thì có những hàng truyền thống như tủ chè, sập gụ... có những mặt hàng mới như bàn, sa-lông, tủ áo... Về trang trí , tất cả được chạm khắc rất diệu nghệ và khảm xà cừ óng ánh với các hình cỏ cây, hoa lá, bướm ong hoặc hình người, hình núi sông với lái đò, ngọn núi, nhịp cầu... 

Chùa Tiêu Sơn

Từ Đồng Kỵ trở lại thị trấn Từ Sơn vẫn theo quốc lộ 1A lên phía bắc khoảng 2 km, bên trái có con đường dẫn vào một ngôi chùa đã dư nghìn tuổi gọi là Tiêu Sơn.

Chùa được dựng trên một ngọn đồi cao khoảng 20m. Diện mạo chùa ngày nay không phải là cổ vì qua bao biến động, chùa được làm đi làm lại nhiều lần, nhưng thực tế thì chùa có từ thời Lý. Sử cũ chép vào năm 1061, vua Lý Thánh Tông đã tới làm lễ ở chùa này và năm 1063 cho xây lại ngôi chùa, là Thiên Tâm Tự hoặc Ưng Thiên Tâm Tự. Tương truyền đây là nơi tu hành của nhà sư Vạn Hạnh (?- 1018), người đã có công nuôi Lý Công Uẩn từ khi lọt lòng và dạy bảo nên người, sau trở thành vị vua sáng lập vương triều Lý.

Chùa có cảnh quan đẹp. Giữa đồng bằng trải rộng nổi nên một ngôi chùa trên một ngọn đồi mà ở đỉnh của đồi này sừng sững pho tượng nhà sư Vạn Hạnh, cao 10m mới được dựng gần đây.

Đồi Lim - Chùa Phật Tích

Đồi Lim là đất hội tụ của trai gái quanh vùng vào dịp xuân, hát giao duyên quan họ, một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo. Từ bao đời, họ hát trên đồi, hát trên đồng cỏ, hát cả ở mạn thuyền lướt trên sông Tiêu Tương chạy dưới chân đồi.Đồi Lim cũng là điểm khởi đầu của con đường đi theo hướng Bắc - Nam chạy về núi Phật Tích. Trước hết, chạy giữa hai ngọn núi Long Khám và Vân Khám.

Trên đỉnh Vân Khám trước đây có ngôi chùa Bách Môn (trăm cửa) kiến trúc hình vuông, có tới hàng trăm cửa. Từ hai núi Khám, con đường chạy qua một cánh đồng rộng tới núi Đông Sơn. Vòng quanh núi Đông Sơn, tới đợt núi Bát Vạn cao hơn 150m.

Đến lượt thứ tư là núi Lạn Kha (rìu mục) tên gọi này bắt nguồn từ câu chuyện chàng Vương Chắt một lần lên núi đốn củi thấy hai ông già đánh cờ. Chàng dựa rìu vào đá, đứng xem. Hết ván cờ, hai ông già bay lên trời, thì ra họ là tiên. Vương Chất cầm rìu toan đi đốn củi thì cán rìu đã mục, tức là hàng trăm năm đã trôi qua! Núi Lạn Kha còn có tên núi Phật Tích vì ở sườn núi phía nam có ngôi chùa Phật Tích (tức chùa Vạn Phúc). Ngôi chùa này được tạo dựng năm 1057, đã qua nhiều đợt tu bổ.

Di vật cổ chỉ còn: ba lớp nền bó bằng đá, 16 tượng thú bằng đá, một tượng Kim cương, các tảng đá kê cột có chạm khắc đẹp, pho tượng A-di-đà bằng đá tạc từ thế kỷ XI.  Đặc biệt trong chùa có pho tượng một nhà sư, không bằng gỗ, bằng đá mà là tượng bó cốt tức là thi hài thật được bó bằng sơn ở tư thế ngồi. Đây cũng là một bằng chứng của cách ướp xác thời xưa. Nhà sư này có thể là người ở thế kỷ XVII.

Đền Bà Chúa Kho

Ngôi đền có liên quan đến sự kiện Lý Thường Kiệt lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống năm 1076.

Vào thời đó ở làng Cổ Mễ, núi Kho, Cầu Gạo... vốn là những nơi đặt kho lương thực của quân Lý ở bờ nam chiến tuyến Như Nguyệt (Sông Cầu). Núi Kho, núi Đinh, Thị Cầu cũng vốn là một vị trí chiến lược có thể kiểm soát con đường từ Lạng Sơn qua sông Cầu về Thăng Long xưa.

Đền Cổ Mễ thờ Bà Chúa Kho chính là nơi tưởng niệm một người phụ nữ Việt Nam đã khéo tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, trông nom kho tàng quốc gia trong thời kỳ trước và sau chiến thắng Như Nguyệt.

Bà Chúa Kho xuất thân từ một gia đình nghèo khó ở làng Quả Cảm gần đó. Sau khi lấy vua Lý, thấy ruộng đất ở đây bị hoang hoá, bà xin vua cho về làng chiêu dân lập ấp, khai khẩn ruộng hoang. 

Không ai biết tên bà, khi bà qua đời, nhân dân lập đền thờ để ghi lại công ơn bà là đã hết lòng chăm lo cho dân ấm no, trông coi các "Lẫm thóc, lẫm tiền" của Nhà nước. Công lao của bà đã được triều đại phong kiến ghi nhận qua việc sắc phong đền thờ bà là "Chủ khổ linh từ" (Đền thiêng thờ bà Chúa Kho).

Ở thôn Cổ Mễ còn một ngôi đình và ngôi chùa cổ. Chùa Cổ Mễ có từ lâu đời. Ngày nay trong chùa còn ba pho tượng đá khá đẹp mang rõ phong cách điêu khắc thời Mạc. Chùa còn lại đến nay là kiến trúc thế kỷ XIX, làm theo kiểu chữ T chạm khắc công phu.

Đình Cổ Mễ kiểu chữ nhất với năm gian, hai vì. Các mảng chạm khắc gỗ thể hiện theo các đề tài long vân khánh hội, ngũ hổ tranh châu với nghệ thuật điêu luyện. Đình thờ Trương Hồng, Trương Hát là những anh hùng có công giúp Triệu Quang Phục (549-570) chống giặc Lương.