Trang đầu
Điều kiện tự nhiên
Hà Nội nghìn năm văn hiến
Phố cổ
Du lịch quanh TP và Phụ cận
Thư viện Ảnh




 

<Về trước> • Giới thiệu • Tuyến dọc sông Hồng • Tuyến Kinh Bắc (Quốc lộ 1A lên phía bắc) • Tuyến Quốc Lộ 1A (Về phía nam) • Tuyến Quốc Lộ 2 • Tuyến Quốc Lộ 3 • Tuyến Quốc lộ 5 và đường 182 • Tuyến Đường 18A • Tuyến Xứ Đoài và Quốc lộ 32 • Tuyến Quốc Lộ 6 và Quốc lộ 22
   
 

Có một nhà thơ cổ điển Việt Nam ở thế kỷ XIX đã viết: "Lòng sông cuốn theo nước đỏ, thành làn sóng hoa đào". Du lịch trên sông Hồng dường như là lướt trên một dòng chảy hoa đào vậy. Từ xã Thượng Cát thuộc huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội, theo con sông đỏ nặng phù sa này đến làng Chèm, nằm ngay bên bờ phải sông Hồng.

Đền Chèm - Hội Chèm

Các lễ ở Hà Nội và vùng phụ cận chủ yếu là hội mùa Xuân. Riêng có một lễ hội hằng năm mở giữa mùa hè. Đó là hội Làng Chèm, ở tại đình nằm ngay sát cạnh sông Hồng vào các ngày 14, 15, 16 tháng 5 âm lịch. Làng Chèm tên chữ là Thuỷ Phương chạy dài trên bờ phải sông Hồng. Từ đây về tới cầu Chương Dương là 12 km. Khách đến thăm Chèm không chỉ là để dự một lễ hội đặc sắc mà còn để thăm một ngôi đình cũng không kém phần hấp dẫn.

Đình này lại là nơi thờ một nhân vật mà sự tích cũng thật độc đáo, có một không hai ở Việt Nam. Chuyện kể rằng vào thời An Dương Vương (tức thế kỷ II Tr.C.N) làng Chèm có một chàng trai lực sĩ tên là Lý Thân còn gọi là ông Trọng. An Dương Vương đã đem chàng cống nạp cho vua Trung Quốc lúc đó là Tần Thuỷ Hoàng. Tần Thuỷ Hoàng cử Lý Thân trấn ải Hàm Dương (phía Bắc Trung Quốc). Do có công đánh thắng giặc Hung Nô nên Lý được Thuỷ Hoàng gả con gái cho. Khi tuổi già, Lý xin về nước Nam, đem theo vợ con. Sau ngày ông qua đời, dân làng lập đình thờ.

Như vậy đình phải có từ hai nghìn năm trước. Nhưng diện mạo như hiện nay là có từ lần sửa chữa đầu thế kỷ XX này. Tuy nhiên trong đình còn lưu giữ được nhiều hình chạm khắc gỗ phong cách thể kỷ XVIII, có hai pho tượng vợ chồng Lý Thân bằng gỗ sơn son thiếp vàng tạc năm 1888.

Còn lễ hội Chèm thì kỳ thực là của một cụm làng ven sông Hồng, vì ngoài làng Chém còn có các làng Liên Mạc, Hoàng Mạc cùng tham gia với t­ư cách là hai làng em. Đáng xem nhất là lễ rước nước sáng ngày 15, có ba con thuyền rồng của ba làng bơi ra giữa sông Hồng múc nước sông đổ vào chĩnh rồi biểu diễn quay thuyền 3 vòng trước khi bơi vào bờ. Sau đó là dám rước nước vào đình. Đây là dấu vết của tín ngưỡng thờ nước của người thời cổ. Đám rước cũng có nhiêu nghi thức cổ truyền đáng để các nhà văn hoá học và dân tộc học quan tâm nghiên cứu. Và cuối cùng tại hội này còn có cuộc thi thả chim bồ câu, các đàn chim bồ câu được thả cho bay lên trời, thường là cao tới vài ngàn mét và nếu đạt được những quy định thì sẽ được giải.

Đền Lộ

Từ bến canô Chương Dương đi xuôi khoảng 18 km, bên bờ phải là làng Đại Lộ thuộc xã Ninh Sở, huyện Thường Tín, Hà Tây, có ngôi đền Lộ thờ tứ vị hồng nương tức "bốn người phụ nữ đẹp".

Tương truyền, khi quân Mông Cổ chiếm được Trung Nguyên dồn triều đình nhà Tống ra góc biển thì cả hoàng tộc này nhảy xuống biển tự tử. Thi hài của một bà hoàng hậu, ba công chúa và một thị nữ trôi dạt về vùng biển phương Nam, được dân vớt lên và lập đền thờ. Bốn người phụ nữ gia thế kể trên trở thành thánh, thường giúp đỡ cho những người buôn bán hay qua lại trên sông nước. Vì vậy có đền Lộ. Đền Lộ còn thờ bà Liễu Hạnh và các thánh mẫu khác của tín ngưỡng bản địa Việt Nam. Hằng năm, vào các ngày mồng bốn và năm tháng hai âm lịch, đền mở hội, rất đông người đến lễ, chủ yếu là xem biểu diễn các cuộc thi "lên đồng", một hình thức ca, múa, nhạc dân gian tổng hợp gần gũi với những hình thức "sa man" giáo.

Bãi Tự Nhiên

Bên bờ phải sông Hồng, cách đền Lộ chừng 6 km có một bãi cát mênh mông. Bãi này thuộc làng Tự Nhiên, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Hằng năm, vào mồng một tháng tư âm lịch, dân làng mở hội diễn lại sự tích cuộc gặp gỡ kỳ lạ của Chử Đồng Tử, chàng trai nghèo đánh cá được công chúa Tiên Dung con vua Hùng Vương thứ XVIII lấy làm chồng.

Đền Đa Hòa

Đối xứng với bãi Tự Nhiên, nằm bên kia bờ trái sông Hồng là làng Đa Hoà thuộc xã Bình Minh huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, có ngôi đền thờ Chử Đồng Tử, Tiên Dung và nàng Nguyễn, dựng ngay bên cạnh sông. Đây là một kiến trúc đẹp, tuy mới làm lại khoảng cuối thế kỷ XIX, gồm 18 tòa miếu điện khá uy nghi, mái cong hình thuyền. Những cây đa cổ thụ bên bến nước mênh mang rủ bóng che cho lầu Trấn Giang xây sát ngay mép nước.

Đền Đa Hoà mở hội vào giữa tháng giêng âm lịch, đặc sắc là đám rước lấy nước giữa dòng sông Hồng.Đi đầu là thuyền chở hai đám rồng. Rồng, đầu bằng giấy màu đắp theo khuôn, thân làm tấm vải vàng có trang trí hình vẩy, được khoảng mười người nâng cao bằng những cái gậy gắn vào thân rồng và uốn lượn nhịp nhàng theo nhịp trống phách dồn dập. Sau đó là cỗ kiệu, bên trên đặt một chiếc chóe sứ để đựng nước.

Cùng lúc các thuyền khác bẻ lái cho quây tụ thành một vòng tròn quanh chiếc thuyền mang chóe. Trên thuyền, các cụ già dùng gáo múc nước sông đổ vào chóe, dùng cho việc cúng lễ trong cả năm. Có thể đây là vết của tín ngưỡng cầu nước của những cư dân nông nghiệp xưa.

Đền Hóa Trạch

Từ Đa Hoà đi bộ xuôi khoảng 1 km là tới làng Yên Vĩnh nay thuộc xã Dạ Trạch, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên cũng có đền thờ vợ chồng Chử Đồng Tử nhưng quen gọi là Dạ Trạch Hoá Từ tức ngôi đền biến hóa ở đầm một đêm. Có truyền thuyết kể rằng đây là nơi Chử Đồng Từ cắm gậy, làm nổi lên thành thị và sau khi biến mất thì còn lại một cái đầm. Đầm đó có tên là đầm Một Đêm (Dạ Trạch) với nghĩa là chỉ một đêm mà thành ra đầm. Tại làng Yên Vĩnh đền thờ Chử Đồng Tử cũng khá đẹp và có thờ cả mô hình cái gậy và chiếc nón, lại có thêm một gian nhà thờ một con cá chép bằng gỗ sơn son thếp vàng.

Làng này có lệ mở hội từ ngày 10 đến 13 tháng hai âm lịch. Cũng có đám rước ra sông Hồng lấy nước, cũng có đôi rồng dẫn đường, đi vòng bên bờ đầm Dạ Trạch.

Làng Bát Tràng

Từ đền Đa Hoà đi ngược lên khoảng 5 km tới làng gốm Bát Tràng cổ truyền của Hà Nội, thuộc huyện Gia Lâm. Theo các thư tịch cổ, muộn nhất là vào thế kỷ XV, làng Bát Tràng đã được ghi nhận là trung tâm gốm có tầm quan trọng của đất nước. Đồ gốm Bát Tràng từ lâu đã được đưa sang các nước Đông Nam Á.

Các mặt hàng gốm rất phong phú, từ đồ gia dụng (đĩa, chậu, âu, bát, đỉnh....) đến đồ trang trí (tượng động vật, mang chạm hình hoa lá. mô hình nhà...) nhiều kiểu dáng nhiều màu men.

Ngày nay, nhiều hoạ sĩ, kỹ sư người Bát Tràng đã cải tiến nghề cổ, từ mẫu mã đến cách chế tác, nung đốt, tạo ra nhiều sản phẩm giầu tính nghệ thuật, trong cả ba lĩnh vực sứ gốm dân dụng, xây dựng và mỹ thuật.

Làng Chử Xá

Giữa đoạn đường từ Đa Hòa lên Bát Tràng, vẫn bên bờ trái, là làng Chử Xá, quê gốc của Chử Đồng Tử. Tại đây có khu lăng mộ của cha và mẹ Chử Đồng Tử.