|
DANH NHÂN HÀ NỘI
1. Phạm
Tu (486-545)
Phạm Tu sinh
ra ở làng Quang Liệt
(nay là Thanh Liệt – Thanh Trì). Ông là vị tướng tài có công bậc nhất trong
việc giúp Lý Bí đuổi giặc Lương, lập nhà nước Vạn Xuân vào thế kỷ thứ 6.
Phạm Tu là một đô
vật giỏi. Năm 541, bất bình trước ách thống trị tàn ác của nhà Lương,
ông đã tập hợp trai làng chống lại. Năm sau, Lý Bí dựng cờ khởi nghĩa,
ông đem quân
gia nhập ngay và đi tiên phong đánh thành Long Biên, trị sở của bọn đô
hộ. Tên thứ sử tham bạo phải xéo chạy. Đất nước giải phóng, ông xây lũy
bên sông Tô để phòng vệ. Nhà Lương hai lần phản kích đều bị ông chặn
đánh từ biên ải.
Tháng Giêng
năm 544, Lý Bí lên
ngôi, Phạm Tu được cử thống lĩnh binh quyền, dẹp các cát cứ địa
phương, nên được vua ban tước Phụ Man tướng quân. Bởi vậy nhân dân còn
gọi ông là Lý Phục Man. Trong lần quân Lương sang xâm lược lần thứ ba, ông
hy sinh anh dũng trong một trận đánh ác liệt ở ngay cạnh dòng sông Tô
quê hương.
Các triều sau sắc phong ông
là Hộ quốc tế dân, Anh uy vĩ độ (có nghĩa là "Giúp nước cứu dân, anh hùng hào kiệt").
2. Lý Thường
Kiệt (1019-1105)
Tên thật là Ngô Tuấn, sinh ở
làng An Xá (hay còn gọi là làng Cơ Xá bên sông Hồng) sau về ở phường Thái Hòa (gần Hồ Tây).
Ông là con một vị võ quan nhỏ đời Lý Thái Tông. Ông mồ côi cha từ năm 13 tuổi,
được chồng cô nuôi ăn học. Ông miệt mài theo đuổi cả văn lẫn võ, tinh
thông binh pháp. Năm 23 tuổi ông đã là thị vệ theo hầu vua, trông coi nội
đình. Năm 1069 ông theo Lý Thánh Tông đi dẹp Chiêm Thành. Ông đã lập
nhiều công lớn nên được phong làm Phụ
quốc thái úy tước Khai quốc công và được vua ban cho họ Lý nên mới thành tên Lý Thường
Kiệt.
Năm 1072 Lý Nhân Tông nối ngôi
khi còn nhỏ tuổi nên Hoàng Thái hậu Ỷ Lan phải ra
nhiếp chính. Lý Thường Kiệt nắm giữ binh quyền và là trụ cột của triều nhà Lý
trong
hàng chục năm.
Năm 1075,
trước âm mưu xâm lược của giặc Tống, ông chủ
trương tấn công trước vào tận sào huyệt của chúng ở Châu Ung, rồi rút về xây
dựng phòng tuyến sông Cầu để cản giặc. Năm 1077 ông lãnh đạo cuộc kháng chiến
chống quân xâm lược Tống trên sông Cầu. Ông đã viết bài thơ “Nam quốc sơn hà”
để cổ vũ
quân ta anh dũng xông lên phá tan 30 vạn quân địch do Quách Quỳ, Triệu
Tiết cầm đầu và cũng là để khẳng định quyền độc lập thiêng liêng bất khả xâm phạm
của Tổ quốc.
Sau khi phá
tan giặc Tống vua Lý Nhân Tông nhận ông là em nuôi. Ông đựoc phong tước
Việt Quốc Công và được cử đi trông coi vùng
châu Ái (Thanh Hóa).
3. Ỷ Lan
(?-1117)
Ỷ Lan tên thật
là Lê Thị Yên (hoặc Lê Thị Mệnh), người làng Thổ Lỗi (hay
còn gọi là làng Sủi) sau là làng Siêu Loại (xã Dương Xá, huyện Gia Lâm).
Nhà
nghèo, mẹ mất sớm, bố lấy vợ bé, Ỷ Lan phải hái dâu chăn tằm, thân phận khổ
như cô Tấm trong truyện cổ tích.
Một lần, vua Lý Thánh Tông về chùa Dâu cầu tự, gặp cô đang hái dâu.
Vua hỏi chuyện thấy Ỷ Lan đối đáp thông minh nên đưa về triều và phong làm
Nguyên
phi. Ỷ Lan là người ham học hỏi, có tài quản lý nội chính trong cung. Vua đi đánh
Chiêm thành giao lại quyền nhiếp chính cho bà. Gặp năm mất mùa, đói kém, nhưng nhờ kế
sách trị nước đúng đắn bà đã làm yên lòng dân. Nhớ ơn bà, nhiều nơi lập đền thờ sống và gọi bà là Quan Âm nữ. Vua đánh lâu không thắng,
giao cho Lý Thường Kiệt chỉ huy, quay về đến nửa đường nghe tin Ỷ Lan
giữ vững yên hậu phương, vua hổ thẹn trở lại chiến trường và quyết đánh thắng
giặc mới về. Vua mất, bà là Hoàng thái hậu nhiếp chính, cùng Lý Thường
Kiệt – tể tướng Đại Việt đánh thắng quân xâm lược Tống năm 1077.
Bà khuyến khích nghề nông, mở
mang đạo Phật, được dân tin yêu, cảm phục, nổi danh là bà thái hậu hiền
thục trong sử sách. Bà thọ khoảng 70 tuổi, khi mất được hỏa táng, dâng
thụy là Long Nhâm Hoàng thái hậu, mai táng ở Thọ Lăng phủ Thiên Đức. Đền
chính thờ bà ở Dương Xá thường được gọi là đền Bà Tấm.
4. Trần Thị
Dung (?-1259)
Bà vốn là vợ
vua Lý Huệ Tông, là mẹ hai công chúa Thuận Thiên và Chiêu Hoàng. Sau khi
nhà Lý
truyền ngôi cho nhà Trần, bà là bạn đời của Thái sư Trần Thủ Độ. Cuối
năm 1257, quân Mông Cổ vào xâm lược nước ta, do lực lượng của ta còn
yếu, triều đình phải rút khỏi Thăng Long. Bà đứng ra chỉ huy việc sơ tán
toàn bộ hoàng gia, vợ con tướng sĩ bằng đường thủy xuống vùng Hoàng
Giang (Phủ Lý); điều động dân kinh thành di chuyển kho vũ khí, quân
lương chỉ dăm hôm đã xong, đồng thời khuyên dân dời nhà tạm lánh. Khi
giặc vào Thăng Long chỉ còn là một tòa thành rỗng, không có lương thực,
không có dân. Chúng bị động hoang mang, thừa cơ quân dân ta mở cuộc
phản công tại Đông Bộ Đầu (1-1258) và giành đại thắng. Trong chiến công lớn
lao này có phần đóng góp quan trọng của bà Trần Thị Dung – Linh Từ quốc
mẫu.
5. Trần Quốc Tuấn (1231
– 1300)
Ông là con An Sinh vương Trần
Liễu, gọi vua Trần Thái Tông là chú ruột. Họ Trần quê ở Tự Mặc (Nam Hà),
nhưng ông lại sinh ra ở Thăng Long. Từ nhỏ Trần Quốc Tuấn đã rất chăm học, lại ham tập
luyện võ nghệ và có
lòng yêu nước thương dân. Năm 1258, quân Nguyên sang xâm lược lần thứ
nhất ông chỉ huy một cánh quân chặn giặc ở biên giới. Hai lần đánh quân
Nguyên Mông sau (1258, 1288) ông là Quốc công Tiết chế, tổng chỉ huy
cuộc kháng chiến.
Với tri thức quân sự uyên bác,
tài binh lược sáng tạo, lòng yêu Tổ quốc thiết tha, quý quân sĩ như con,
ông đã điều binh, khiển tướng phá tan giặc Nguyên Mông và giành toàn thắng. Ông là tác giả bản hùng văn “Hịch tướng sĩ” làm nức lòng
quân sĩ và hai pho sách quân sự giá trị: Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp
tông bí truyền thư.
Sau chiến tranh, ông tiếp tục
chăm lo quốc phòng, không mưu lợi riêng. Vua Trần phong ông là Hưng Đạo
Đại Vương. Trần Hưng Đạo được coi là anh hùng bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Ông
là một tron g 10 vị tướng nổi tiếng trên thế giới.
6. Trần
Quang Khải (1241-1294)
Là con thứ vua
Trần Thái Tông, mẹ là hoàng hậu Thuận Thiên họ Lý, ông sinh ra ở kinh thành. Thuở
nhỏ, Trần Quang Khải đã tỏ ra là một cậu bé ham học, lại được nhà giáo, nhà sử học Lê Văn Hưu rèn cặp nên
về sau ông là người hiểu rộng, biết nhiều, lại thông thạo nhiều ngôn ngữ của các dân tộc khác. Ông
thường được gọi vào tiếp sứ thần các nước, đàm đạo văn chương. Năm 1258,
ông được vua phong làm Chiêu Minh đại vương, cũng là lúc quân Mông vào
xâm lược nước ta. Năm 1261, ông được phong làm Thái úy, sau đó vào quản đất Nghệ
An. Năm 1278 vua Thánh Tông nhường ngôi cho con là Nhân Tông. Hoàng đế Mông Cổ
lấy cớ không xin mệnh sai sứ sang trách cứ. Trần Quang Khải vâng lệnh vua
tiếp sứ vừa mền mỏng trong đàm phán, vừa kiên quyết trong bảo vệ chủ
quyền đất nước nhưng chiến tranh vẫn nổ ra, ông chỉ huy nhiều trận đánh, nổi
tiếng nhất là trận tập kích lớn ở bến Chương Dương trên sông Hồng (1285)
tiêu diệt căn cứ quan trọng của địch, mở đường giải phóng Thăng Long.
Sáu tháng sau khi rút khỏi
kinh thành, nay vua quan nhà Trần tưng bừng trở lại, ông đã làm bài thơ
“Tụng giá hoàn kinh sư” còn truyền đến nay. Ông là nhà ngoại giao tài ba,
vị tướng lỗi lạc và còn là một nhà thơ, tác giả của Lạc Đạo thi tập.
7. Chu Văn
An
Tên thật là Chu An, hiệu
là Tiều Ẩn, người thôn Văn, xã Quang Liệt (nay là Thanh Liệt, Thanh Trì), sau
được nhà Trần phong tước Văn Trinh Công nên người đời sau quen gọi là
Chu Văn An.Chu Văn An tính tình cương trực, đã từng đỗ Thái học sinh
nhưng không ra làm
quan mà mở trường dạy học ở làng Huỳnh Công, bên kia sông Tô. Ông nổi
tiếng là nhà giáo tài cao đức trọng nên được trò tứ trấn tìm về xin theo
học rất đông. Học trò của ông nhiều người thành đạt giữ những chức cao
trong triều, nhưng vẫn một lòng kính thầy.
Vua Trần Minh Tông
(1314-1329) vời ông ra làm tư nghiệp Quốc Tử Giám. Đến đời Dụ Tông, ông
thấy cảnh quyền thần làm nhiều điều vô đạo, ông dâng sớ xin chém 7 tên
gian nịnh, nhưng vua không nghe. Ông chán nản từ quan về ở núi Phượng
Hoàng (thuộc Chí Linh, Hải Dương) dạy học, viết sách cho tới khi mất. Cuộc đời
thanh bạch và tiết tháo của ông là tấm gương sáng của thời phong kiến.
Ông là một trong số rất ít bậc hiền nho được thờ ở Văn Miếu.
8. Nguyễn
Trãi (1380 – 1442)
Nguyễn Trãi quê gốc ở Ci Ngại,
Phượng Sơn (Chí Linh, Hải Dương), sau về ngụ cư ở Nhị Khê (Thường Tín, Hà Tây).
Ông
là con Nguyễn Phi Khanh, nhà văn thời Trần Hồ. Ông sinh ra ở Thăng Long
trong dinh ngoại là quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Thời trẻ ông đã nổi
tiếng về văn học. Năm 20 tuổi ông đỗ Thái học sinh và được cử làm Ngự sử đài Chánh chưởng
thời nhà Hồ. Năm 1406, quân Minh xâm lược nước ta, nhà Hồ chống lại
nhưng thất
bại. Cha ông bị giặc bắt giải về Tàu, ông theo đến ải Nam Quan, nghe lời
cha ông quay lại nuôi chí phục thù. Về đến Đông quan, Trương Phụ bắt ông, dụ
ra làm quan không được toan giết, sau tha nhưng giam lỏng ở trong thành,
khoảng 10 năm. Sau đó, Nguyễn Trãi tìm đường vào Lam Sơn theo Lê Lợi,
ông dâng “sách bình Ngô” và là 1 trong 18 người dự Hội thề Lũng Nhai
(1416), bộ tham mưu của nghĩa quân. Ông trở thành nhà chiến lược, nhà
ngoại giao lỗi lạc, có công lớn trong chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang và vây
hãm thành Đông Quan, buộc quân Minh phải hàng phục, xin rút quân về
nước. Năm 1428, đất nước giải phóng, ông viết Bình Ngô đại cáo-một áng văn
thiên cổ hùng tráng, trịnh trọng tuyên ngôn độc lập cho đất nước. Ông
được ban họ vua, được phong chức Quan Phục hầu nhập nội hành khiển. Trước tác
của ông rất đồ sộ: Ức Trai thi tập, Quân trung từ mệnh tập, Dư địa chí,
Băng Hồ di sự lục, Lam Sơn thực lực, Quốc Âm thi tập…
Khi triều đình bị lũng đoạn,
ông từ quan về ở ẩn tại Côn Sơn, rồi bị vu oan và chịu tru di tam tộc
bởi vụ án Lệ Chi Viên với cái chết đột ngột của ông vua trẻ mà lại có
mặt bà vợ lẽ ông là Nguyễn Thị Lộ. Ông là vị anh hùng dân tộc, nhà văn hóa,
nhà nhân đạo chủ nghĩa của nước ta và là danh nhân văn hóa thế giới.
9. Nguyễn
Như Đổ (1424-1526)
Ông là người làng Đại Lan (xã
Duyên Hà, Thanh Trì), có tên chữ là Mạnh An, hiệu Khiêm Trai. Năm 19
tuổi, ông đã đỗ đầu khoa thi hội đầu tiên của triều Lê (1442). Ông làm ở
Viện Hàn lâm, nhiều lần đi sứ sang triều Minh, làm An Phủ sứ bộ Quy Hóa
rồi được thăng chức Thượng thư bộ Lại, Thượng thư bộ Lễ, Thưa chỉ học sĩ Viện
Hàn lâm vào giai đoạn hưng thịnh nhất thời Hồng Đức nhà Lê.
Kỳ thi đình
năm Quý Mùi
(1463) đông tới 4000 sĩ tử, ông được cử độc quyền và lấy đỗ trạng nguyên
Lương Thế Vinh.
Năm 1486, ông giữ Tế tử Quốc
Tử Giám, hiệu trưởng trường đại học quốc gia này suốt 10 năm. Nhà sử học
Phan Huy Chú đã xếp ông là 1 trong 18 phò tá có công lao và tài đức nhất
thời Lê. Ông xứng đáng là bậc khoa danh đại thụ, trải qua 8 triều vua,
thọ 102 tuổi, cũng là điều hiếm có. Ông còn một số bài thơ chép trong
Hoàng Việt thi tuyển. Tên ông khắc trên tấm bia đá đầu tiên dựng tại Văn
Miếu (1484) và trong danh sách các bậc Tế tử Quốc Tử Giám ông ở hàng thứ
2 sau Chu Văn An.
10.
Lê Thánh
Tông (1442-1497)
Tên húy là Tư Thành, con trai
thứ tư của vua Lê Thái Tông và bà Ngô Thị Ngọc Dao. Ông sinh ra ở chùa
Huy Văn (ngõ Văn Chương, Đống Đa) khi mẹ ông đi lánh nạn. Sau ông được
đón về đưa lên ngôi năm 18 tuổi (1460) với hai niên hiệu Quang Thuận và
Hồng Đức, mang tinh thần nhân đạo, tiến bộ hơn hết các bộ luật trước
đó. Ông định ra các quy chế về tuyển chọn, đề bạt quan chức, chế độ bổng
lộc và hưu trí. Ông lo khuyến nông, lập các sở đồn điền khai hoang, đắp
đê biển, mở rộng lãnh thổ, chia nước ra làm 13 đạo, vẽ bản đồ cả nước,
phát triển giáo dục, mở nhiều khoa thi lấy nhân tài. Số tiến sĩ triều Lê Thánh Tông chiếm gần 1/4 tổng số tiến sĩ trong cả thời
phong kiến.
Về văn học, ông là nhà thơ,
nguyên soái của Hội Tao Đàn với 28 ngôi sao thơ văn nổi tiếng thời đó. Nhiều thơ
nôm của ông còn được truyền tụng đến ngày nay. Ông cũng là người đặt lệ
dựng bia tiến sĩ ở Văn Miếu và giao Ngô Sĩ Liên biên soạn bộ Đại Việt sử
ký toàn thư. Thời Hồng Đức đi vào lịch sử với những trang đẹp mà người
thiết kế là Lê Thánh Tông – một nhà cải cách lớn. Lăng mộ của ông hiện còn ở Lam Sơn.
11. Ngô Chi
Lan (thế kỷ 15)
Bà có tên là
Nguyễn Hạ Huệ, người làng Phủ Lỗ, huyện Kim Anh (nay là huyện Sóc Sơn), có truyền
thuyết nói bà mang họ Nguyễn vì là con nuôi Nguyễn Thị Lộ. Chưa rõ năm
sinh, năm mất của bà, chỉ biết bà sống chủ yếu dưới thời Lê Thánh Tông
(1460-1497), nổi tiếng về thi ca, từ khúc.
Bà lấy ông Phù Thúc Hoành,
người Phù Xá làng bên, ông giảng Kinh Dịch ở Quốc Tử Giám và làm ở Viện
Hàn lâm tới chức Đông các đại học sĩ.
Vợ chồng ông giao du với
nhiều bạn thơ như Thái Thuận, Nguyễn Dữ…và
thường tổ chức những buổi gặp gỡ bình luận văn chương.
Vua Lê Thánh Tông rất mến
phục bà, thường triệu bà vào hầu thơ, dự các cuộc xướng họa ở cung đình và
phong chức Phù Gia nữ học sĩ, giao bà đảm đương dạy đạo đức, nghi lễ cho
cung phi. Bà có tập thơ Mai Trang nhưng bị thất truyền, chỉ còn ít bài
in trong Truyền kỳ mạn lục, Lĩnh Nam chích quái, Trích diễm thi tập. Bài
thơ được nhớ đến nhiều nhất là bài Đề núi Vệ Linh. Thơ của bà mang bản
sắc riêng, không khuôn sáo, gò ép, có cái nhìn nhân ái trước cuộc đời và
con người. Có thể coi bà là nhà thơ nữ đầu tiên có đóng góp quan trọng
đối với sự phát triển của thơ ca Việt Nam.
12. Bùi
Xương Trạch (1451-1529)
Ông sinh tại làng Giáp Nhị
(xã Thịnh Liệt, Thanh Trì). Tổ tiên ông vốn là người làng Định Công bên
cạnh, đến đời cha ông mới chuyển sang đây.
Ông là con một gia đình nông dân
hiếu học, thời trẻ khi đi làm đồng ông cũng mang sách theo, nhà nghèo đêm
ông bắt đom đóm cho vào chai để thay đèn, mệt quá, ông nằm nghỉ trên hai
cái chày để đau mình sớm tỉnh lại. Năm 27 tuổi ông thi đỗ tiến sĩ, khoa ấy lấy
đỗ 62 người chỉ có mình ông người Thanh Đàm. Ông làm hiệu thư, sau được
bổ vào Viện Hàn lâm, khoa Đông Các rồi sau được thăng Đông các đại học
sĩ. Thiên đô ngự sử, Thượng thư bộ Binh chưởng lục bộ, Hiệu trưởng Quốc
Tử Giám. Ông còn được phong tước Quảng Văn Hầu vì đã viết rất hay bài ký Đình
Quảng Văn Hầu Ông là vị quan thanh liêm, không mảy may mưu
tính việc riêng tư, bổng lộc triều đình ông đem chia cho họ hàng, làng
xóm. Lòng nhân hậu và đức độ của ông được người đời ca tụng.
Dòng họ Bùi của ông qua 7 thế hệ, hơn 200 năm không đời nào không có
người làm nên sự nghiệp cả về văn lẫn võ.
13. Đặng
Trần Côn (Thế kỷ 18)
Ông là người làng Mọc, Hạ Đình
(xã Khương Đình, Thanh Trì)và là tác giả cuốn Trinh Phụ Ngâm bằng chữ Hán.
Chỉ biết ông sống vào nửa đầu thế kỷ 18. Thuở nhỏ ông rất ham học, thi đậu hương
cống khoảng năm 1726. Ông là người ưa phóng túng, chẳng màng danh vọng
nên không thi tiếp, đi nhận chức Huấn đạo trường phủ, làm tri huyện
Thanh Oai rồi đến chức Ngự sử đài chiếu khán. Ông nổi tiếng danh sĩ,
được xếp hạng đầu “tứ hổ” của huyện Thanh Trì là Côn, Hiến, Điền, Đẩu
(Đặng Trần Côn, Nguyễn Hiến, Hồng Điền, Trương Đẩu.. )Thời Cảnh Hưng có
việc đao binh, nhiều người phải ra trận để lại nhà người vợ trẻ trông
ngóng, ông xúc cảm viết nên khúc ngâm bi tráng này nhằm chia sẽ với
những người phụ nữ và tố cáo cuộc chiến tranh phi nghĩa. Thơ ông giàu
cảm xúc, gây tác động mạnh đến người đọc. Chinh Phụ Ngâm bản Hán văn của
ông viết theo lối “tập cổ”, nhưng đã được phổ biến rất rộng nhờ bản dịch
tài hoa của bà Đoàn Thị Điểm, sống cùng thời với ông. Mộ ông nay còn ở đồng Từ
Vũ, thôn Hạ Đình.
14. Nguyễn
Du
Ông là con Nguyễn Nghiễm, em
Nguyễn Khản, đều làm quan thời Lê Trịnh. Quê gốc của ông ở Tiên Điền (Nghi Xuân,
Hà Tĩnh) nhưng ông sinh ở phường Bích Câu và lập nghiệp ở Thăng Long. Cha mẹ
mất sớm, ông ở với anh trai. Năm 20 tuổi ông đậu tam trường (tú tài) và ra làm
quan thời nhà Lê. Khi có biến động giữa Lê - Trịnh và Tây Sơn,
gia đình ông tan tác, ông trải qua hàng chục năm gió bụi phong trần nên
đã gửi niềm
tâm sự vào tập thơ Thanh Hiên. Năm 1790, nhà Tây Sơn mời nhân sĩ Bắc
Hà ra giúp nước, ông giữ chức Tạ thị lang bộ Lại, tước Hải Phái hầu,
được cử sang sứ Trung Quốc. Ông vẫn có ý phò Lê nên lui về quê vợ ở Thái
Bình, sau lại về Hà Tĩnh, rồi năm 1815 ra làm Tham tri cho nhà Nguyễn.
Thời kỳ này ông tìm đến với đạo phật, đạo Lão, lấy thú đọc sách, ngâm
thơ, uống rượu, đi hát phường vải, đi săn làm khuây. Ông lấy bút danh là
Tố Như, Thanh Hiên. Tính hào hoa phong nhã lại đa tình, ông được nhiều
cô gái để ý. Ông có 4 vợ và 20 con, trong đó có Nguyễn Huy Hổ, tác giả
truyện thơ nôm Mai Đình mộng ký. Ông có nhiều bài thơ tâm đắc viết về
Thăng Long và để lại cho đời nhiều tác phẩm giá trị như Thanh Hiên tiền
hậu tập, Bắc hành tạp lục, Văn chiêu hồn và một kiệt tác trong gia tài
văn học đất nước ta là Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh). Ông mất tại
quê nhà, nay còn phần mộ và nhà thờ ông.
15. Phạm
Đình Hổ (1768-1839)
Quê ông ở làng nhuộm Đan Loan
(Hải Hưng) nhưng lên 6 tuổi ông đã ở phường Hà Khẩu (Hàng Buồm),
ông trưởng thành và lập nghiệp ở kinh thành. Người đời quen gọi ông là
Chiêu Hổ, “chiêu” là tiếng gọi con nhà quan và là nho sinh Chiêu Văn
quán. Cha ông làm tuần phủ Sơn Tây nhưng mất sớm nên lớn lên ông
mới vào học ở Quốc Tử Giám và đỗ tú tài. Ông được chứng kiến trận chiến
thắng Đống Đa lịch sử lúc 21 tuổi. Là con quan nhà Lê, ông về ở ẩn, dạy
học ở Nguyệt Áng, Cung Hoàng (Thanh Trì). Năm 1821, Minh Mệnh ra bắc
tuần, ông dâng sách, vua thấy ông học rộng cho làm hành tẩu nhị giảng
học sĩ Viện Hàn lâm,
được ít lâu ông từ chức về quê dạy học và quan tâm đến các mặt lịch sử,
địa lý, phong tục tập quán, tình hình xã hội để viết sách. Về lịch sử,
địa lý có An Nam Chí, Ai Lao sứ trình, Kiền không nhất lãm gồm bản đồ cả
nước. Văn thơ có Vũ trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục (chung với
Nguyễn Án) và 2 tập thơ khác. Vũ trung tùy bút phản ánh tình hình xã hội
và sinh hoạt ở Thăng Long thời ấy rất sinh động, là tư liệu quý dể tìm
hiểu lịch sử, địa lý kinh thành. Ông là nhà văn sống và gắn bó với 36
phố phường cả đời mình.
16. Lý Văn
Phức (1785-1894)
Ông sinh ở làng Hồ Khẩu, một
làng giấy bên Hồ Tây, tự là Lân Chi, hiệu Khắc Trai, đỗ cử nhân năm
1819, ông được bổ làm Hàn Lâm biên tu trong Quốc sử quán, Thiêm sự bộ
Lễ, Hiệp lý Quảng Nam trấn vụ rồi làm Hữ thị lang bộ Hộ, thự hữu tham
tri. Sau ông bị tước chức, đi hiệu lực ở Tiểu Tây Dương và Tân Gia Ba; được
khôi phục và đi công cán nhiều lần ở nước ngoài với chức Tham tri bộ
Công, kiêm quản chiếc thuyền lớn Phấn Bằng, coi sự vụ thủy sư ở kinh kỳ.
Vì không khéo trong vụ tàu Tây Dương đến Đà Nẵng ông lại bị phát vãng,
cuối đời mới khôi phục đến chức Quang Lộc tự khanh. Ông viết thơ văn bằng
chữ Hán có những nét mới mẻ, độc đáo, trong sáng. Ông viết về chuyến đi
như: Tây hành kiến văn kỷ lược, Mân hành tạp vịnh, Chu Nguyên tạp vịnh,
Sứ trình tiện lãm khúc. Nhiều truyện nôm của ông được truyền tụng rộng
như Nhị thập tứ hiếu, Bất phong lưu truyện. Ông viết cả sách sơ học
thiên tự văn diễn âm.
17. Ngô Thì
Nhậm (1746-1803)
Ông là người
làng Tả Thanh Oai (Thanh Trì) trong dòng họ Ngô Thì nổi tiếng có nhiều người thành
danh trên mọi lĩnh vực và hình thành cả một văn phái của họ Ngô. Năm 29
tuổi ông đỗ tiến sĩ, ra làm quan và được thăng chức Công Bộ thị lang nhà
hậu Lê. Bị phe Chúa Trịnh khủng bố, ông phải tránh về vùng Sơn Nam sáu
năm. Khi Quang Trung ra Bắc, ông được tiến cử phụ tá cho Ngô Văn Sở giữ thành
Thăng Long.
Năm 1788, quân
Thanh sang xâm lược nước ta, ông chủ trương rút quân về Tam Điệp để bảo
toàn lực lượng chờ đại quân của Tây Sơn. Nước cờ này đã góp phần cho
Quang Trung làm cuộc hành quân thần tốc ra Bắc đại thắng quân Thanh
trong trận Ngọc Hồi-Đống Đa lịch sử. Sau đó, ông phụ trách ngoại giao
với triều Thanh và sang sứ báo tang vua Quang Trung. Nhà Tây Sơn mất,
ông bị triều Nguyễn bắt giam đánh đòn ở sân Văn Miếu, về nhà mấy hôm thì mất.
Ông là nhà văn hóa lớn của nước
ta để lại khá nhiều tác phẩm văn thơ, lịch sử, ngoại giao, triết học.
Dòng họ Ngô Thì của ông đóng góp cho đất nước khá nhiều nhân tài như
Ngô Thì Chí, Ngô Thì Du, Ngô Thì Hương, Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Ức…
18. Hồ Xuân
Hương (cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19)
Bà sinh ra ở phường Khán Xuân
(Bách Thảo), quê gốc ở Quỳnh Lưu xứ Nghệ nhưng lớn lên trên đất kinh thành. Cuộc đời bà có nhiều bí
ẩn, chỉ biết bà sống vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19. Hồ Xuân Hương
là một tài năng đầy bản lĩnh. Xuất thân trong gia đình nhà nho, bà lại
phản kháng và hạ bệ tất cả những gì nó đề cao. Ở bà có cả hai đòn đánh bằng thơ: đòn đánh ngấm ngầm thâm nho và
nhát đập chết tươi của bình dân. Thơ nôm của bà được nhân dân trân trọng
bảo tồn còn phái nhà nho thì hết lời miệt thị vì thơ bà là tiếng
nói đòi tồn tại, đòi nhan quyền, tranh đấu cho quyền sống và giá trị của
người phụ nữ. Tương truyền bà có tới ba đời chồng, số phận hẩm hiu để
lại niềm cay đắng trong thơ bà. Nghệ thuật thơ Xuân Hương phập phồng hơi
thở ca dao tục ngữ dân gian, được nâng lên tầm cao cách tân táo bạo.
Thiên nhiên trong thơ bà ngồn ngộn sức sống, bà dựng Cổ Nguyệt Đường bên
hồ Tây làm nơi gặp gỡ bạn thơ. Ngoài thơ nôm, bà còn viết thơ chữ Hán
trong Lưu hướng Ký. Các văn tài đương thời như Tốn Phong Thị, Sơn phủ,
Chí Hiên và Nguyễn Du thường lui tới nhà bà. Nhà thơ Xuân Diệu đã gọi bà
là “Bà chúa thơ Nôm”.
19. Nguyễn
Văn Siêu (1799 – 1872)
Ông sinh ra tại làng Kim Lũ
(xã Đại Kim, Thanh Trì), là một danh sĩ Bắc Hà được người đời tôn sùng là
“Thần Siêu”. Từ nhỏ ông đã ra ở thôn Cổ Lương, tổng Đồng Xuân, chỗ cửa
sông Tô. Ông là học trò thày Hoa Đường Phạm Quý Thíc. Ông đỗ phó bảng năm
1838 và ra làm quan thời nhà Nguyễn qua nhiều tỉnh, lúc là phó sứ sang nhà
Thanh, khi làm Án sát Hà Tĩnh, Hưng Yên. Lúc 55 tuổi, ông thác bệnh xin về
hưu, viết sách và mở trường Phương Đình ở nhà dạy học, học trò rất đông. Ông là bạn thân của Cao Bá Quát.
Ông học rộng biết nhiều và là người thày có tiếng trong
vùng. Thơ văn ông thấm đượm tình yêu quê hương, tự hào về đất nước, quan
tâm đến đời sống dân chúng, nhiều bài thơ ông tả thiên nhiên Hà Nội rất
tinh tế.
20. Cao Bá
Quát (1808-1855)
Ông là người làng Phú Thị (Gia
Lâm) và là em sinh đôi với Cao Bá Đạt. Năm 23 tuổi ông đậu cử nhân. Năm 33 tuổi,
ông vào
kinh làm Hành tẩu bộ lễ. Khi được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một
số bài hay lại phạm húy, ông thương tình chữa hộ thế là mang vạ, bị cách
chức và đi hiệu lực ở In-đô-nê-xi-a để chuộc tội. Lúc trở về ông vào làm ở Viện
Hàn lâm. Ông là bạn thơ của nhiều danh sĩ đương thời như Miên Thẩm, Nguyễn
Văn Siêu, Nguyễn Hàm Ninh…
Sau đó vì chán cảnh bon chen nơi cung đình, ông lui về làm giáo thụ ở Quốc Oai (Hà
Tây). Cũng vì căm ghét chế độ hà khắc của nhà Nguyễn nên năm 1852, nhân
lúc mất mùa vì
nạn châu chấu, ông mượn cớ phù Lê, khởi nghĩa ở Mỹ Lương (Chương Mỹ, Hà
Tây) nhưng chỉ vài tháng sau đã bị dập tắt. Cao Bá Quát hy sinh tại trận,
họ hàng ông bị tội tru di.
Ông là nhà thơ nổi tiếng,
được tôn là “thánh Quát”. Thơ ông biểu hiện lòng yêu nước, thương dân
sâu sắc, ca ngợi lẽ sống cao thượng.
Ông có tên tự là Chu Thần,
hiệu Cúc Đường. Ông sáng tác rất nhiều thơ cả bằng chữ Hán và chữ Nôm
nhưng do gặp
nạn, bản thảo mất mát chỉ còn nhặt nhạnh được khoảng 1000 bài tập hợp
trong Cao Bá Quát thi tập, Cao Chu Thần đi cảo, Mẫn Hiên thi tập. Tứ
thơ ông bay bổng, khoáng đạt, nói cái chí lớn làm người với bút pháp đặc
sắc.
21. Bà Huyện
Thanh Quan (thế kỷ 19)
Tên thật là Nguyễn Thị Hinh, người
làng hoa Nghi Tàm trên bán đảo Hồ Tây. Chưa rõ năm sinh, năm mất. Bà nổi
tiếng là nhà thơ trữ tình đầu thế kỷ 19. Bà lấy chồng là Lưu Nguyên Ôn
(còn gọi là Lưu Nghi) người Nguyệt Áng (Thanh Trì) đổ cử nhân năm 1828, làm
tri huyện Thanh Quan (Thái Thụy, Thái Bình) nên bà được gọi là Bà Huyện
Thanh Quan.
Bà có làm thơ chữ Hán, đặc
biệt thơ nôm của bà được nhiều người biết đến như bài:Qua đèo Ngang,
Thăng Long thành hoài cổ, Hành cung Trấn Bắc. Bằng lời thơ trang nhã,
thanh lịch có lúc u hoài, có khi chua chát, nhưng đều cẩn trọng, tinh
tế. Có giai thoại cho rằng bà đã thay chồng phê đơn cho cô Đào đi lấy chồng
bằng 4 câu lục bát, vì vậy mà ông huyện bị cách chức. Triều Nguyễn vời
bà vào Phú Xuân làm nữ quan dạy cung nữ. Ở đây bà có dịp giúp dân làng
xin vua xóa bỏ lệ tiến sâm cầm Hồ Tây, tránh cho quê hương khỏi bị nha
lại sách nhiễu.
22. Hoàng
Diệu (1829-1882)
Hoàng Diệu là một trong hai người
không phải là người Hà Nội nhưng đã chết cho Hà Nội và sẽ sống mãi trong
lòng người Hà Nội. Người kia là Nguyễn Tri Phương đã hy sinh không chịu
khuất phục giặc Pháp khi chúng đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất (năm
1873). Hoàng Diệu nhận chức Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội – Bắc Ninh) năm
1880 khi Pháp chuẩn bị đánh Hà Nội lần thứ 2, Lúc này ông đã 51 tuổi.
Hoàng Diệu vốn là người Quảng Nam, tự là Quang Viễn, Tham tri bộ Hinh rồi
thăng Binh bộ thượng thư. Ông đến Hà Nội lúc tình hình đã căng thẳng,
quân Pháp đổ bộ 600 tên lên đóng ở Đồn Thủy. Ông xin chi viện, triều
đình không cho. Ông tự lực tu bổ thành quách, xẻ hào, đắp ụ, mộ thêm
quân. Pháp hạ tối hậu thư bắt ông giao thành nhưng ông không chịu. Chúng
tấn công thành ngày 25/4/1882. Pháo từ tàu chiến bắn vào cửa Bắc, quân
bộ tiến đánh Cửa Đông. Các quan bố chánh, lãnh binh, đề đốc bỏ chạy. Gần
trưa, thành vỡ, ông về dinh ăn mặc chỉnh tề viết biểu tâu vua về việc
giữ thành và kết luận bằng câu: “Trung nguyên mà đắm chìm thành đất
giặc, sống càng sạn mặt với than sĩ kinh kỳ, cố trung quyết sống thác
với thành Rồng thì xin theo bậc tiên thần họ Nguyễn (tức Tri Phương)
dưới chín suối”. Ghi nhớ người chết vì Hà Nội, sau Cách mạng tháng
Tám và trong kháng chiến chống Pháp, Hà Nội được gọi là Thành Hoàng
Diệu.
23. Ngô Tất
Tố (1894-1954)
Ngô Tất Tố là
người Lộc Hà, xã Mai Lâm
(Đông Anh). Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, ông nội 7 lần
thi hương chỉ đỗ tú tài, bỏ 6 lần lều chõng về không. Năm 22 tuổi, ông đỗ
đầu xứ trong kỳ khảo hạch ở địa phương. Lớn lên trong lúc nho học suy
tàn, ông bỏ bút lông cầm bút sắt viết báo, viết văn. Trước tác của ông
phong phú trên nhiều lĩnh vực: biên khảo, dịch thuật, sáng tác. Trước
cách mạng, ông viết Vua Hàm Nghi, Phê bình Nho giáo của Trần Trọng Kim,
Lão Tử, Mặc Tử, Văn học đời Lý, Văn học đời Trần, dịch Đường thi, Hoàng
Lê Nhất thống chí. Viết báo ông là tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà
nho, có mặt trên nhiều tờ báo: An nam tạp chí, Thần Chung, Đông Phương,
Thực Nghiệp, Tương Lai, Đông Pháp, Con Ong…
Ông ký nhiều bút danh: Lộc Hà, Phó Chi, Thôn Dân, Hy Cừ…
Trong thời kỳ Mặt trận Bình dân, nhờ ảnh hưởng của phong trào đòi dân
sinh dân chủ ông đã viết nhiều tiểu phẩm, tạp văn đả kích bọn thống trị
và tay sai khá sắc bén. Sáng tác văn học nổi tiếng của ông có Tiểu
thuyết Tắt đèn, Lều Chõng, Việc làng.
Ngô Tất Tố là
nhà văn chân thành đến với
cách mạng, tham gia hội Văn hóa cứu quốc. Ông đã từng lên chiến khu kháng chiến, làm
ca dao tuyên truyền, làm thơ, viết ký, truyện ngắn, viết chèo, dịch sách
văn nghệ cách mạng nước ngoài, viết báo Cứu quốc, Thông tin, Văn nghệ và
phụ trách Văn nghệ Liên khu I. Ông mất 6 tháng trước ngày giải phóng Thủ
đô ở Yên Thế, Bắc Giang. Ông là nhà văn xuất sắc của Nông thôn Việt Nam,
tiêu biểu nhất của dòng văn học hiện thực phê phán trước Cách mạng.
24. Nguyễn
Tuân (1910- 1987)
Nguyễn Tuân người làng Mọc,
Thượng Đình (Nhân Mục, Từ Liêm), sinh ở Phố Hàng Bạc, là con trai cụ Tú
Hải Văn. Cụ là nhà nho thi đỗ tú tài khoa Hán học cuối cùng, phải đi làm
ký lục lang thang qua nhiều tỉnh miền Trung và đều đem ông theo. Ông học
trung học ở Thành Nam nhưng tham gia bãi khóa nên bị đuổi học. Ông đi ngao du bất
hợp pháp sang Thái và bị đưa về giam ở Thanh Hóa. Ra tù, ông cầm bút
viết cho các báo Trung Bắc tân văn, Đông Tây, An Nam tạp chí, Tiểu
thuyết Thứ Bảy, sống hẳn bằng ngòi bút từ năm 1937, với nhiều bút danh:
Ngột Lôi Quật, Thanh Hà, Nhất Lang, Tuân, Tuấn Thừa Sắc, Nguyễn…
Ông còn say mê diễn kịch và cũng là diễn viên điện ảnh đầu tiên của nước
ta với phim Cánh đồng ma (1938). Tác phẩm chính của ông trước cách mạng
có: Vang bóng một thời, Thiếu quê hương, Tùy bút, Chiếc lư đồng mắt
cua, Tóc chị Hoài, Nguyễn. Ông là nhà văn tiêu biểu cho dòng văn
học lãng mạn thời kỳ phát triển cuối cùng. Văn của ông toát lên cái “tôi” ngang
tàng, hào hoa, khinh bạc, muốn nổi loạn chống lại cả xã hội phàm tục,
trật tự đen tối, nhưng cũng nâng lên thành triết lý cái lối sống phóng
đãng, tài tử…
Cách mạng đã làm thay đổi
Nguyễn Tuân. Nhà văn đi theo cách mạng và trở thành chiến sĩ trên mặt trận
văn hoá - nghệ thuật. Tại
hội nghị Văn nghệ toàn quốc Việt Bắc năm 1947 ông được cử làm Tổng thư
ký Hội Văn nghệ Việt Nam. Sau cách mạng ông viết Tùy bút Sông Đà, Đường
vui, Tình Chiến Dịch và đặc biệt là tập ký Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi ghi
lại rất xuất sắc cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của nhân dân
Thủ đô. Ông gắn bó với thể tùy bút bằng văn phong nghệ thuật độc đáo, sử
dụng ngôn ngữ điêu luyện, đóng góp đáng kể vào sự phát triển của văn học
hiện đại Việt Nam.
25. Vũ Trọng
Phụng (1912-1939)
Vũ Trọng Phụng sinh ra ở Mỹ
Hào (Hải Hưng cũ) nhưng sống và gắn bó cả cuộc đời ngắn ngủi với Hà Nội.
Ông mồ côi cha từ khi mới 7 tháng tuổi. Năm lên 16 tuổi ông đã phải bỏ học
để đi làm
kiếm sống đỡ mẹ. Ông đánh máy cho hãng buôn GôĐa, nhà in Viễn Đông, rồi
chuyển hẳn sang viết văn từ năm 1930. Ông viết nhiều cho báo: Nhật Tân,
Công dân, Ngọ Báo, Tiểu thuyết thứ Ba, Tiểu thuyết thứ Bốn, Tao Đàn,
Tương Lai…
Ông còn ký tên Thiên Hư. Tác phẩm xuất bản đầu tiên của ông là bi kịch "Không một
tiếng vang", nhưng tác phẩm khiến ông nổi danh là các phóng sự đặc sắc:
Cạm bẫy người, Kỹ nghệ lấy tây, Cơm thầy cơm cô, Lục xì…
Từ năm 1935 ông cho in báo
nhiều kỳ rồi xuất bản thành sách một loạt tiểu thuyết và truyện dài như
Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê, Làm đĩ…
Vũ Trọng Phụng đả kích cay
độc cái xã hội tư sản bịp bợm, đua đòi văn minh rởm, đầy lố lăng, phơi
trần bộ mặt xã hội nửa thực dân nửa phong kiến đương thời với những tên
tư sản hãnh tiến, đểu cáng, dâm dật cũng như chính sách bần cùng hóa
người lao động và người nông dân. Tuy nhiên bên cạnh giá trị hiện thực phê
phán, tác phẩm của ông đôi lúc cũng sa vào tự nhiên chủ nghĩa. Năm 28 tuổi
đời ông đã có 10 tuổi văn và đã để lại một sự nghiệp đáng kể. Ông là cây tiểu
thuyết và phóng sự mang tính hoạt kê, có phong cách nghệ thuật độc đáo
trong làng văn Việt Nam.
26. Nguyễn Huy Tưởng
(1912-1960)
Ông sinh ra trong một gia
đình nhà nho khá giả có tinh thần yêu nước ở xã Dục Tú huyện Đông Anh.
Ông học ở Hải Phòng và ra làm thư ký nhà Đoan rồi về Hà Nội nuôi chí viết
văn để ký thác tấm lòng với đất nước. Ông có khuynh hướng khai thác đề
tài lịch sử qua những tiểu thuyết Đêm hội Long Trì, An Tư công chúa,
kịch Vũ Như Tô, Cột Đồng Mã Viện trong cao trào Tiền khởi nghĩa, Ông
được hội Văn hóa cứu quốc cử đi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào. Sau Cách
mạng, ông viết kịch Bắc Sơn; kháng chiến chống Pháp có Những người ở
lại, Ký sự Cao Lạng. Hòa bình lập lại, ông viết truyện Anh Lục, Bốn năm
sau, Lỹ hoa và Sống mãi với Thủ đô - bộ tiểu thuyết trường thiên về Hà
Nội kháng chiến, nhưng mới chỉ hoàn thành được một tập thì ông mất.
Ông còn là nhà văn viết cho thiếu nhi, các truyện lịch sử, cổ tích như An Dương Vương xây thành ốc,
Lá cờ thêu sau chữ vàng, Kể chuyện Quang Trung được ông kể bằng lời văn
đôn hậu, trong sáng và hấp dẫn. Ông tham gia sáng lập và là giám đốc đầu
tiên của Nhà Xuất bản Kim Đồng. Nhiều kịch, truyện của ông đã được
chuyển thể sang các tác phẩm điện ảnh như: Sống mãi với Thủ đô, Đêm hội
Long Trì…
Ông là nhà văn người Hà Nội và có nhiều tác phẩm về Hà Nội có nhiều giá
trị.
Đang tiếp tục cập nhật thêm.....
|