|
Trong ăn uống của người Hà Nội cũng có
những nét khác biệt và thể hiện một
trình độ thẩm mỹ hay nói đúng hơn là
năng khiếu trong việc chế biến món ăn.
Chỉ cần quan sát mâm cơm ngày tết hay
mâm cơm khách của người Hà Nội là thấy
ngay được tính lịch sự và chu đáo trong
đó. Trong một mâm bao giờ cũng có rất
nhiều món, mỗi món một chút, mỗi món cho
một khẩu vị riêng. Đặc biệt, cách bài
trí các món ăn đều được trình bày rất
đẹp và hấp dẫn. Khi ăn uống, người Hà
Nội bao giờ cũng giữ nền nếp “ăn trông
nồi, ngồi trông hướng” và luôn luôn thận
trọng, ý tứ khi trong mâm có người già
cao tuổi hay khách khứa. Khi đi ăn tiệm
thì cũng rất sành điệu để tìm nơi, tìm
vị, chọn thời, chọn cơ, mà đã hợp với
nơi nào thì thuỷ chung với nơi đó. Chính
chất sành điệu trong ăn uống ấy mà người
Hà Nội đã làm ra biết bao món ăn nổi
tiếng và trở thành đặc sản chốn Thượng
Kinh: phở, bún thang, chả cá, cốm vòng,
rươi...
Tóm lại, đó chính là nếp sống thuần hậu,
khiêm nhường, thanh lịch của người Thăng
Long - Hà Nội mà xưa kia Phạm Đình Hổ
từng ca ngợi trong Vũ Trung tuỳ bút. Ông
cho biết vào thời ông còn nhỏ, tức thời
Lê Cảnh Hưng: "Phong tục chuộng thói
trung hậu, mọi người hàng ngày giao tiếp
với nhau có ý khoan dung, bình dị, giữ
thói khiêm nhường. Nếu ai có điều gì
sằng bậy, thì chỉ sợ người ta biết mà
chê cười. Đến như những kẻ thân quan,
quốc thích và những kẻ con em vô lại
rong chơi, cũng không dám công nhiên làm
càn. Nếu có kẻ nào không theo lễ phép mà
làm sằng, thì những bậc phụ lão nhà
lương gia lại ngầm đem chuyện ấy để răn
bảo con cháu".
Từ ngàn xưa, người Thăng Long - Hà Nội
đã có nếp sống “có lịch có lề”. Đó chính
là truyền thống văn minh - văn hiến ngàn
năm trong thế ứng xử của người Hà Nội.
2.
TRANG PHỤC
 |
| |
Trang
phục của người Hà Nội cổ thời kỳ "tiền
Thăng Long" chưa có gì khác biệt so với
trang phục của người dân Văn Lang - Âu
Lạc nói chung: Nam mình trần, đóng khố,
thân thể, chân tay đều có xăm hình giao
long (rồng) và các hình khác. Nữ mặc áo
ngắn đến bụng, xẻ ngực bó sát vào người,
phía trong mặc yếm che kín. Yếm tròn sát
cổ, có trang trí những hình hạt gạo,
ngoài ra cũng có một loại áo cánh ngắn,
cổ vuông, để hở một phần vai và ngực
hoặc kín ngực hở một phần vai và lưng.
Hai loại áo này có thể là chui đầu hoặc
cài khuy bên trái, trên áo cũng có hoa
văn trang trí. Thắt lưng có ba hàng chấm
trang trí cách đều nhau quấn ngang bụng
làm cho thân hình tròn lẳn. Đầu và cuối
thắt lưng thả xuống phía trước và sau
người, tận cùng bằng những tua rủ. Váy
bó sát thân với mô típ chấm tròn, những
đường gạch chéo song song và hai vòng
tròn có chấm ở giữa. màu sắc thường là
màu vàng, đen, đỏ nâu, xám nhạt, vàng
nhạt.
Các loại vòng tay, vòng cổ chân và vòng
tai bằng đá, bằng đồng cũng là những vật
liệu trang sức phổ biến cả ở nam và nữ.
Đặc biệt, có những vòng hoa tai bằng đá
gắn quả nhạc hay hình con thú. Những
chuỗi hạt thường thấy gồm các hạt hình
trụ, trái xoan hay hình cầu. Đàn ông đàn
bà đều nhuộm răng đen và có tục ăn trầu
cho đỏ môi.
 |
| |
Đến thời kỳ độc lập tự chủ (kỷ nguyên
Đại Việt) do điều kiện ổn định cả về
chính trị, xã hội và đặc biệt là về kinh
tế, Hà Nội đã trở thành kinh đô và là
một trung tâm kinh tế chính trị của cả
nước. Các cơ sở chăn tằm dệt lụa ra đời,
việc bang giao với bên ngoài cũng làm
cho thì trường vải vóc phục vụ cho nhu
cầu mặc ngày một phong phú. Trong xã hội
cũng đã có sự phân biệt đẳng cấp, trên
có vua, quan, dưới có sĩ- nông- công
-thương. Cách ăn mặc của người Hà Nội
thời kỳ này cũng theo đó mà phân ra các
phong cách và kiểu dáng, chất liệu khác
nhau.
Vua mặc áo bào vàng, quần tía, búi tóc,
cài trâm vàng đội mũ triều thiên. Quan
lại từ ngũ phẩm đến cửu phẩm mặc áo bào
gấm, từ cửu phẩm trở lên mặc áo bào bằng
vóc. Màu sắc của trang phục cũng được
phân rõ: quan nhất phẩm màu tía, nhị
phẩm màu đại hồng, tam phẩm màu đào
hồng. Khi vào triều phục phải đi tất, đi
hia và đội mũ phác đầu (mũ cánh chuồn).
Quan liêu, sĩ phu mặc áo dài tứ thân,
màu thâm, có cài khít, quần thâm, búi
tóc, cài trâm sắt, đầu quấn khăn sa đen,
đội nón chóp, đi dép ta, tay cầm quạt
lông hạc. Trang phục võ tướng áo dài đến
đầu gối, cánh tay áo may gọn gàng chật
bó sát cổ tay, toàn thân áo được phủ lên
những mảnh giáp hoặc những diềm vải
trang trí hình xoắn ốc lớn, có trang trí
thêm những quả cầu nhạc nhỏ hoặc tua rủ.
Đai lưng bằng da thắt sát bụng làm nổi
lên đường nét khoẻ khoắn của cơ thể.
Các thành phần khác như phi tần, cung nữ
mặc xiêm, người hầu trong cung mặc váy
mở; ca công, vũ công hay nhạc công trong
cung đình cũng có những lối ăn mặc
riêng: váy nhiều nếp, tóc búi cao, điểm
những bông hoa, chân quấn xà cạp có
trang trí hoạ tiết hoa văn. Binh lính
chỉ mặc một áo xanh rộng tay, không có
giáp, trụ (điển chế thời Lý -Trần- Lê
sơ).
Tầng lớp thứ dân trong kinh thành, nữ
thường mặc áo tứ thân cổ tròn, quần
thâm, khăn the bóng, thắt lưng lụa, đi
giày dép bằng da, cấm không được sử dụng
màu vàng, và búi tóc như cung nhân. Đàn
ông thường cởi trần hoặc mặc áo tứ thân
màu đen bằng the, quần mỏng bằng lụa
thâm, đa số cạo trọc đầu.
Sang thời Lê mạt do cơ cấu chính trị
trong triều đình có nhiều thay đổi và
trở nên phức tạp bởi hệ thống cung vua
phủ chúa nên lối phục sức của tầng lớp
quý tộc cũng ít nhiều thay đổi: Vua mặc
long cổn, đội mũ tam sơn hay áo hoàng
bào mang đai ngọc; Chúa mặc áo bào tía,
đội mũ xung thiên mang đai ngọc; Hoàng
thái tử (con vua) mặc áo xanh đội mũ
dương đường; Vương thế tử (con chúa) mặc
áo đỏ đội mũ cánh chuồn dát vàng, bố tử
kỳ lân... Học trò và người thường khi có
công việc đều mặc áo thâm, dân quê mặc
áo vải thô màu trứng. Đến cuối thời Lê
thì ai cũng mặc áo thanh cát màu thâm,
xanh sẫm, màu sừng, màu trắng ít dùng.
Có thời kỳ màu sừng là màu của tầng lớp
vương, công, khanh, sĩ. Nhưng về sau bất
kể người sang hèn đều mặc màu này. Còn
các màu xanh sẫm, xanh nhạt thì lại cho
là quê không dùng nữa.
 |
| |
Cuối thế kỷ XIIX đầu XIX, trang phục của
người Hà Nội đã có nhiều thay đổi cả về
chất liệu lẫn kiểu dáng. Những loại vải
như the, lĩnh, lượt, là được sử dụng khá
phổ biến với những kiểu dáng chính như
tứ thân cho nữ, áo dài cài chéo vạt cho
nam. Sang trọng nữa, đàn ông, đàn bà mặc
áo dài lụa trắng bên trong, ngoài lồng
áo may bằng sa, xuyến hoặc băng (là
những loại vải mỏng có độ bóng, đôi khi
có hoa).
Vương hầu, quan chức thì dùng hàng đoạn,
gấm, vóc. Đoạn gần như lĩnh nhưng dày
hơn. Vóc là thứ đoạn mỏng có hoa đồng
màu, còn gấm có hoa dệt màu sặc sỡ hoặc
bằng kim tuyến.
Hà Nội xưa còn có loại áo mặc trong đám
cưới, do nhà chủ giàu có may cho tất cả
các khách đến ăn cưới. Xong việc, những
áo ấy được nhuộm lại, đem bán rẻ, gọi là
“Cố y”.
Dân lao động thì chủ yếu dùng áo vải
nhuộm nâu, vải mỏng nhuộm nâu non lại là
mặt hàng ưa thích của các cô gái bình
dân để may áo cánh. Người khá giả cũng
dùng màu nâu nhưng là lụa, đũi nhuộm
nâu. Thế hệ người già thường thích màu
tiết dê, tam giang. Phường Đồng Lầm (nay
là làng Kim Liên, quận Đống Đa) có nghề
nhuộm nâu nổi tiếng.
Màu vàng vẫn bị cấm chỉ dành riêng cho
nhà vua và áo khoác các tượng Thần,
Phật. Màu đỏ chủ yếu dùng trong tầng lớp
công, hầu, khanh, tướng. Vóc đỏ hay gấm
đỏ tươi còn được gọi là màu đại hồng.
Con quan to mới sinh ra cũng mặc áo đỏ.
Còn nhà giàu chỉ khi bố mẹ khao thượng
thọ mới được con cháu mừng cho chiếc áo
the đỏ. Phường Hàng Đào chuyên làm nhuộm
điều. Màu hoa đào bị coi là lẳng lơ,
không đứng đắn, thường dùng cho người
múa hát. Màu xanh nhạt “hồ thuỷ” hoặc
“thiên thanh” được dùng nhuộm áo mặc lót
trong hoặc để lót lần trong áo kép, áo
bông. Các cô gái vùng ngoại thành lại
thích màu hoa hiên. Mặc áo cánh nâu non,
yếm lụa, thắt lưng màu hoa hiên, cũng là
“mốt” một thời của các cô gái Hà Nội.
Chị em nhỏ nhắn thì ưa thắt một dây lưng
màu quan lục, hay tam giang cho nổi rõ
cái lưng ong.
Kiểu áo phổ biến vẫn là tứ thân, thắt
lưng bằng dải lụa màu, còn gọi là “ruột
tượng”. Nhà buôn thành thị, nhà giàu xứ
quê, còn đeo vào thắt lưng một bộ “xà
tích” bằng bạc với chiếc ống vôi nhỏ,
quả đào xinh xinh đựng thuốc lào cũng
bằng bạc và chùm chìa khoá...
 |
| |
Ngoài ra kiểu áo 5 khuy, tay rộng cũng
được giới chị em 36 phố phường chấp
nhận. Khi mặc, các cô chỉ cài 4 chiếc,
để hở khuy cổ, khoe cái yếm cổ xây, ôm
lấy cái cổ trắng nõn nà, cao ba ngấn.
Phụ nữ phố phường hay dùng yếm trắng.
Phụ nữ ngoại thành dùng yếm nâu. Hội hè
mặc yếm đào, yếm hoa hiên. Các bà đứng
tuổi ưa cổ xẻ, từ cổ yếm có 3 đường khâu
xoè ra.
Nam giới mặc áo dài năm thân, vải thâm,
có khuy tết chỉ hoặc khuy đồng, khuy
bạc, khuy ngọc... người hào hoa phong
nhã thì mặc áo sa trơn, áo trong và quần
màu trắng. Mùa rét, dùng áo kép, có thêm
lần vải lụa lót màu tươi; áo bông cộc,
trần quân cờ.
Ngoài trang phục ra thì trong cách ăn
mặc của người Hà Nội còn có nhiều thứ
phụ trang đi kèm như giày dép, mũ, nón,
ô, lại thên chút đồ trang sức bằng vàng,
bạc như vòng, nhẫn, dây, xuyến... để làm
tăng vẻ đẹp ngoại hình.
 |
| |
Nhìn lại quá trình
lịch sử, trang phục của người Thăng Long
- Hà Nội đã có nhiều thay đổi qua từng
thời đại. Tuy nhiên cái vẻ đẹp lịch sự,
tranh nhã trong phong cách ăn mặc và
trong kiểu cách quần áo thì vẫn được bảo
tồn như là một đặc điểm riêng của trang
phục Hà Nội. Có nhà văn nói rằng, người
Hà Nội trong bộ quần áo cần lao giản dị
mà vẫn đượm vẻ phong lưu. Đó quả là một
nhận định tinh tế.
3. CHƠI HOA
CÂY CẢNH
 |
| |
Từ
xưa, thú chơi hoa không mang tính thực
dụng (đem bán). Trồng hoa để thưởng thức
cái đẹp của hoa vì thế nên mới có Khuất
Nguyên yêu hoa Lan; Đào Tiềm trồng hoa
cúc; Nguyễn Trãi sớm sớm ra vườn nhẹ tay
nâng đỡ từng bông hoa; Cao Bá Quát: Nhất
sinh đê thủ bái mai hoa (cả đời chỉ cúi
mình trước hoa mai).
Thưởng thức hoa là một thưởng thức không
vụ lợi, một nhu cầu thẩm mỹ, một thú vui
thanh tao của những con người đẹp cả về
tâm hồn và cuộc sống. Chơi hoa và thưởng
thức hoa cũng đã thành phong tục tao nhã
lâu đời của người Thăng Long, Hà Nội.
Từ đời Lý, thế kỷ XI, quanh Thăng Long
đã có mấy làng trồng hoa để phục vụ cho
nhu cầu trong kinh thành mà tên đất tên
làng còn ghi dấu đến ngày nay: "đồng
hoa", Yên Hoa, nay là làng Võng Thị (gần
Bưởi); Nghi Tàm gần Hồ Tây; rồi các tên
như Hồng Mai, Hoàng Mai, Tương Mai còn
gọi là Kẻ Mơ cũng là đất hoa xưa. Xa hơn
là Tây Hồ, Quảng Bá, Hữu Tiệp, Đại Yên
nối tiếp nhau thành đất hoa cùng với
dinh đào Nhật Chiêu (nay là Nhật Tân)
tạo thành một vành đai hoa xung quanh
chốn kinh kỳ.
Các triều đại Lý, Trần, Lê đều xây dựng
những vườn hoa đẹp trong kinh thành
Thăng Long. Tất nhiên đó chỉ là những
vườn ngự dành riêng cho vua chúa chứ
chưa phải là những công viên dành cho
dân chúng. Sử cũ còn ghi tên nhiều vườn
hoa nổi tiếng ở thời Lý như vườn Quỳnh
Lâm, vườn Thắng Cảnh, vườn Xuân Quang,
vườn Thương Lâm...
Nhà dân, những nhà có lối sống tao nhã
thông thường là bao bên ngoài một hàng
rào Râm bụt, lá xanh thẫm, hoa đỏ tươi,
một hàng Duối lốm đốm quả vàng, hoặc một
hàng Găng xén phẳng như bức tường. Một
giàn “Thiên lý thơm nghìn dặm xa” đón
khách vào cổng(Phùng Khắc Khoan). Ngõ
nhỏ với hai dãy Tóc Tiên bên cạnh, trước
sân là một luống Hồng, một luống Huệ,
mấy khóm Nhài. Bên bể nước là một cây
Lan tiêu hoặc một gốc Dạ Hợp. Trước hiên
nhà, một cây Tầm xuân nụ tầm xuân nở ra
xanh biếc. Hoặc cụm Ngâu to thành bụi
được cắt tỉa tạo hình tròn đầy như chiếc
mâm xôi, hương hoa Ngâu từ tốn, kín
đáo...
Hoa là biểu trưng cho cái đẹp, mỗi loài
hoa đều có ngôn ngữ riêng. Cúc tượng
trưng cho nếp sống khiêm tốn, điềm đạm
Phú quý lòng hơn phú quý danh (Nguyễn
Trãi). Mẫu đơn là vua hoa, hoa phú quý,
hoa Thiên hương quốc sắc. Đào đầm ấm khí
dương xuân, phù hợp với mọi người, mọi
nhà. Lan được gọi là vương giả hương,
thanh nhã, không phàm tục. Thuỷ tiên với
vẻ đẹp trang trọng tiêu biểu cho sự tinh
khiết. Trà mi, Hải đường, nụ lớn hoa to,
cánh dày mà hương kín đáo, biểu tượng
cho sự đầy dặn, phúc hậu. Nhài thoang
thoảng, hoa mộc ngát đậm, hoa hồng thanh
cao...
Ngoài các loại Đào bích, Đào phai, Đào
bạch. Hà Nội còn có giống đào Thất Thốn
(bảy tấc) hoa mọc đôi rất đặc biệt. Hiện
nay giống Đào này chỉ còn thấy ở một vài
tư gia.
Cùng họ với đào là Mai. Hà Nội có giống
Mai trắng rất đẹp. Chơi Mai phải chọn
thế cây phóng túng, cành thoáng, thân
gầy mà hoa to. Một gốc Mai già, dáng
“cằn cỗi” bỗng nảy chồi vút lên một
nhánh cao dài là cây quý, gọi là điềm
“lão mai sinh trưởng cán”. Làng Đông Mỹ,
huyện Thanh Trì lại có một giống Mai đặc
biệt, hoa cũng như quả đều từng đôi một,
gọi là “Song mai”. Quả Song mai to, thịt
thơm, được coi là một thứ quả quý, đặc
sản của Hà Nội.
Người chơi hoa sành thường cho Mai đi
với Cúc đại đoá vàng. Cúc là loài hoa
đẹp, bền, hình dáng phong phú, có loại
hoa đơn, có loại hoa kép, cánh cúc nhiều
mà không rối không xô đẩy nhau, cành dài
và cứng, lá xanh tươi, nhiều mầu sắc
nhất, cũng như nhiều chủng loại nhất
trong các loại hoa. Nào là Cúc châu sa,
Đầm hồng, Hạc linh, Hoàng long trảo,
Hoàng kim tháp, Bạch thọ mi, Hoàng yến,
Vạn thọ, Kim tiền... Đó là tên gọi cổ,
tên chữ, còn dân gian thì vẫn quen gọi
nôm na bằng hình dáng và mầu sắc của
hoa: Cúc vàng to, Cúc vàng nhỏ, Cúc vàng
cụp, Cúc tiền chinh, Cúc trắng, Cúc đỏ,
Cúc tía, Cúc hoa cà, Cúc mâm xôi, Cúc
gấm, Cúc móng rồng, Cúc chi.v.v...
Chơi Cúc có nhiều cách: cắm lọ để bàn,
trồng chậu đặt đôn sứ trong phòng hoặc
dưới mái hiên, cạnh lồng chim, bể cá.
Hay nhất là trồng từng khóm trong vườn
cảnh, cho hoa nở giữa sương thu, gợi
nguồn thi hứng cho khách làng thơ. Loài
Cúc nhỏ phơi khô (cúc trắng hoặc vàng)
còn dùng để làm vị thuốc và ướp chè.
Thanh nhã hơn thì chơi Lan, Địa lan hoặc
Phong lan. Hoa Lan đa dạng, có loài hoa
như đàn bướm bay, có loài hoa như chiếc
hài gấm. Các giò hoa cao thấp giao nhau,
xen nhau, đẹp ở chỗ không đơn điệu. Lan
đẹp cả ở lá, nào là hình trụ, hình kiếm,
lại có những thứ dóng trúc, có thứ mượt
như nhung, có thứ mang gân vàng lấp
lánh. Tết xưa, nhiều nhà có vài chậu Lan
trang trí trong phòng, ngoài hiên. Nào
Bạch ngọc, Hạc đính, Chu đính, Ngọc
trâm, Mộc lan, Tố lan, Tiểu kiều, Đại
kiều... Còn Phong lan được ốp vào một
gốc cây mục như mọc ký sinh, treo thõng
dưới giàn hoa leo hoặc dưới hàng hiên.
Mùa xuân nồng ấm, Lan tai trâu ra hoa.
Mùa hạ nắng gió có Phi điệp, Hồ điệp,
Hoàng thảo, Da báo, Đuôi cáo hồng khoe
sắc thắm. Muà thu mát mẻ có Quế lan
hương. Mùa đông giá lạnh thì Hài vệ nữ
chồi nụ... Mỗi giò Phong lan có tới vài
chục hoa. Họ nhà Lan rất phong phú, chưa
mấy ai, dù sành chơi, đã có được cả bộ
sưu tập về Lan.
Trong Vũ Trung tuỳ bút, Phạm Đình Hổ đã
bình luận về lan như sau: Đời xưa gọi
Lan là 'Vương giả hương, vì hoa lan
thanh nhã, bất phàm. Những thứ hoa kỳ
quái dễ làm cho người ta say mê không
thể ví với hoa Lan được... Ta biết rằng
người đời chơi Lan chỉ biết được cái
hình của hoa chứ không biết được cái
thần của hoa"...
Những người phong lưu thì chơi hoa Thuỷ
tiên vào dịp tết. Củ Thuỷ tiên mua rất
đắt nên không phải ai cũng dám chơi.
Trồng củ vào trấu, tưới nước thì hoa,
lá, mọc thẳng tự nhiên. Nhưng cái thú
chơi Thuỷ tiên ở chỗ khéo gọt, tỉa. Dao
tỉa phải sắc, người tỉa phải cắt, khía
sao cho lá phải uốn lượn theo ý mình,
còn củ thành hình con phượng, con lân,
con rùa. Củ đã gọt tỉa được đặt trong
chiếc cốc thuỷ tinh loe miệng có chân
dùng riêng để bày Thuỷ tiên. Lại phải
điều khiển hãm chậm lại hoặc thúc cho nở
sớm đúng vào ngày mồng 1 Tết. Nhưng phải
làm sao cho hoa chỉ nở “hàm tiếu” thôi,
nghĩa là nở hé như mỉm cười thì mới đẹp.
Nghề chơi thật lắm công phu! Tục chơi
hoa Thuỷ tiên ở Hà Nội đã vượt khuôn khổ
một thú vui thẩm mỹ gia đình, để trở
thành hội thi hoa Thuỷ tiên vào dịp tết.
Hằng năm tại các địa điểm: đình Yên phụ,
đình Ngũ Xã, đình Nghĩa Lập (Hàng Đậu),
đền Ngọc Sơn, đền Bạch Mã (Hàng Buồm),
Văn Miếu những người chơi hoa thuỷ tiên
lại đem hoa tới đó để khoe tài.
Có một thứ quả duy nhất được chơi như
hoa. Đó là quả quất, sản phẩm đặc biệt
của vùng Yên Phụ, Nghi Tàm, Tây Hồ,
Quảng Bá. Để có được những chùm quả vàng
tròn xoe, chín mọng, xum xuê, gần như
che lấp cả tán lá xanh thẫm vào dịp Tết
đâu phải dễ. Phải có kỹ thuật đảo quất.
(Đảo vào tháng tư, chọn ngày không mưa,
đánh cả cây lên, để vài ba ngày cho
xuống lá (héo) mới đem trồng lại). Khi
có quả phải bấm mầm tưới nước, gặp kỳ
sương muối phải đốt đống rấm chống rét
và rửa sương từng quả một.
Quất càng sai, quả càng đẹp, biểu tượng
cho sự giàu có đông vui. Cây nào ít qủa
phải cấy quả ngoài thêm vào. Chơi xong,
quả quất vẫn còn dùng được để làm thuốc
ho hoặc làm mứt.
Người già đất kinh thành còn có thú chơi
cây cảnh, tiếng nghề nghiệp gọi là cây
thế, cái đẹp của cây thế khác cung bậc
với cái đẹp của màu sắc hoa. Đó là thu
nhỏ lại một cảnh thiên nhiên có núi non,
sông nước, cỏ cây... Một nghệ thuật làm
cho cây cằn cỗi, còi cọc đi, không lớn
lên được, năm ba chục năm cũng chỉ cao
hơn một vài gang tay... Lại do bàn tay
uốn tỉa, ghép tạo của con người mà cây
có những thế đẹp. Thân đứng thẳng ngạo
nghễ, hùng dũng trên núi đó là thế trực.
Ngả rạp ngang rồi mới xoè tán là thế
hoành. Hai cây ghép đôi là song trụ. Cây
to cạnh cây nhỏ có tên gọi Phụ tử đồng
khoa (hai cha con cùng thi đỗ một khoa).
Lại uốn, nắn, gò cho cây thành thế ngoạ
long (con rồng nằm), giao long (đôi rồng
lượn), phượng vũ (chim phượng múa), bạt
phong (gió cuốn)...
Những loài cây có thể trồng làm cây thế
như: trúc xe điếu mọc lô xô bên núi đá
là Thạch trúc. Các loại Tùng, Xanh, Si,
Đu, Me, Cúc mốc, La hán, Thiên tuế, Lộc
vừng, Bách tán, Vọng cách, Xương rồng...
Mỗi thứ đều có những đặc điểm thích hợp
để tạo thành cây thế. Xương rồng sống
gan góc, bền bỉ, chịu đựng mọi khắc
nghiệt của ngoại cảnh, thách thức bão tố
cho nên được coi như tiêu biểu cho ý chí
bất khuất.
Tuy nhiên, nói đến phẩm chất cao thượng
quân tử thì người Hà Nội xưa thích chơi
tùng và trúc hơn. Ca dao truyền thống
đất Long thành còn có câu:
Ai chơi ta cũng chơi
cùng
Chơi trúc quân tử, chơi tùng trượng phu.
Thú chơi cây cảnh của các gia đình ở Hà
Nội trước đây tuân theo một ước lệ đã
thành công thức. Đó là cây phải có bộ,
tứ hữu gồm Mai, Lan, Trúc, Cúc hoặc tứ
quý gồm Mai, Sen, Cúc, Tùng hoặc Tùng,
Cúc, Trúc, Mai.
Cùng với cây cảnh lại phải có thêm vài
chiếc lồng nuôi chim quý như Khướu,
Yểng, Hoạ mi, Sáo, Vẹt, Yến (thường là
Hoàng yến, Bạch yến) hoặc một bể nuôi cá
vàng, cá cảnh...
Trong đời sống văn hoá của người Thăng
Long - Hà Nội, hoa và cây cảnh đã là một
nhu cầu, góp phần làm cho sinh hoạt xã
hội thêm phong phú, vui tươi.
Hằng năm cứ đến ngày 24, 25 tháng Chạp
những chợ hoa tết Hà Nội đã mở để phục
vụ cho người đến chọn mua hoa Tết: Cống
chéo Hàng Lược, Đồng Xuân, hàng Da, chợ
Mơ, cửa Nam... Đến ngày 29, 30 Tết thì ở
những nơi này có thể gọi là cả một rừng
hoa thậm chí cả ở các đầu đường ngách
phố, nơi thường xuyên bán rau quả, đâu
đâu cũng có hàng dãy người bán và mua
hoa. Đủ các loại hoa: Đào, Quất, Cúc,
Thược Dược, Hồng, Đồng Tiền, Lay ơn...
với đủ mọi màu sắc, muôn hồng ngàn tía.
Bao nhiêu hoa cũng không thoả mãn cho
người dân Hà Nội trong những ngày đón
mừng Xuân mới.
Hoa ngày Tết quý nhất vẫn là Hoa Đào.
Trên các bức tranh Tứ bình thường vẽ bốn
thứ hoa trong một năm mà hoa Đào là
tượng trưng cho mùa Xuân, đứng đầu trong
các loại hoa bốn mùa.
Tương truyền, vào dịp Xuân Kỷ Dậu (1789)
sau khi đại thắng quân Thanh, từ Thăng
Long vua Quang Trung đã sai quân cầm
cành Đào phi ngựa hoả tốc vào Phú Xuân,
tặng người vợ yêu quý của mình là Ngọc
Hân công chúa, báo tin thắng trận và
biểu lộ tấm lòng son sắt của mình.
Trồng hoa đào thì không đâu giỏi bằng
dân Nhật Tân (quận Tây Hồ) một làng ở
ven sông Hồng, phía Tây bắc Hồ Tây. Các
cụ già ở Nhật Tân kể lại rằng nghề trồng
đào bích ở đây đã có từ lâu đời. Phải
chọn giống từ các nơi đem về ghép lại,
lai tạo sao cho cây Đào có hoa đỏ thắm,
tán tròn và to, hoa nở đúng vào dịp Tết
Nguyên đán và giữ được tươi tốt cho đến
hết tháng Giêng ta... Phải có kỹ thuật
cao và mất nhiều công theo dõi chăm sóc.
Nhân dân Nhật Tân rất tự hào với lời ca.
Hoa đào đẹp lối Nhật
Tân
Yêu hoa hoa nở đầy sân lụa đào
Từ khi đất nước được thống nhất, hàng
năm tại công viên Lê-Nin lại mở Hội Hoa
Xuân, tập trung hết những tinh hoa của
nghệ thuật trồng hoa, cắm hoa, giới
thiệu những loại hoa quý không chỉ riêng
ở Hà Nội mà cả ở các tỉnh thành khác.
Hội Hoa Xuân đã thu hút hàng vạn người
tới thưởng hoa, trở thành một sinh hoạt
văn hoá đặc sắc, một tục lệ đẹp của nhân
dân Hà Nội trong dịp đón Xuân |