Trang đầu
Điều kiện tự nhiên
Hà Nội nghìn năm văn hiến
Phố cổ
Du lịch quanh TP và Phụ cận
Thư viện Ảnh




 

<Về trước> • Bảo tàng Hồ Chí Minh • Khu Di tích-Bảo tàng Bác Hồ • Đình Triều Khúc • Đền Voi Phục • Đình Nam Đồng • Đền Hai Bà Trưng • Đình Vẽ • Đình, Chùa Quảng Bá • Đền Quán Thánh • Đền Bích Câu • Thành Cổ Loa • Văn Miếu-Quốc Tử Giám • Nhà thờ Lớn Hà Nội • Thành cổ Thăng Long - Hà Nội • Tháp Hòa Phong • Gò Đống Đa • Các Di tích về Phù Đổng Thiên Vương • Lăng Phùng Hưng • Di tích Ngọc Hồi • Cửa Ô Quan CHương • Đền Ngọc Sơn • Tượng và Đền vua Lê • Tháp Rùa • Đền Bà Kiệu • Đền Lý Quốc Sư • Y Miếu • Phủ Tây Hồ • Đình Trèm • Đình Thổ Quan • Đình Mai Động • Đình Lệ Mật • Đình Thanh Liệt • Đình Vĩnh Ninh • Nhà Bác Hồ
   
 

 

ĐÌNH VẼ

Đình làng Vẽ (Đông Ngạc) huyện Từ Liêm kiến trúc chữ Quốc với 2 tam quan đồ sộ: tam qan ngoại cao ngang đê, tam quan nội 3 cửa thông suốt đường gạch vào tới sân đình rộng hàng sào. Đại đình có 2 bái đường nỗi lớp 9 gian, trung cung 3 gian, hậu cung 3 gian, tả hữu và mỗi bên 7 gian, quy mô là một ngôi đình lớn.

Đình thờ ba thành hoàng: Thần độc Cước, Lê Khôi – tướng của Lê Lợi và Thổ thần.

Đình còn thờ Phụ Mạc Quận công, vị tướng thời vua Hùng và 2 người có cống hiến đất làm đình năm 1635 và người xây lại đình năm 1718.

Bái đường có 2 đôi hạc: đôi bằng đồng cao 2m, đôi bằng gỗ sơn cao 3m, 3 bộ kiệu bát cống, long đình đòn rỗng sơn son thiếp vàng. Đáng lưu ý là bộ tranh cổ thời Lê treo ở đại đình minh họa cho 16 chữ Hán theo kiểu liên hoàn: bách, côc, phong, đăng, vạn, niên, kỳ, phúc, chúc, thọ, thánh, hoàng, tư, dân, an, thái. Lại có 8 bức khác đặt trên giá gỗ ca ngợi các nghề: ngư, tiều, canh, mục, sĩ, nông, công, cổ. Mỗi tranh có đề một bài thơ Đường luật. Có nhà phê bình mỹ thuât hiện đại đã khen: “Màu sắc tuyệt đẹp nét bút tinh vi…”

Nhà bia có 7 tấm bia đặt trên lưng rùa đá. Bia cổ nhất là Dương Hòa năm thứ nhất (1635) ghi việc làm lại đình to. Bia gần đây nhất dựng năm 1944 ghi tiểu sử vị tiến sĩ người làng là Phan Phu Tiên.

Cạnh nhà Hữu Vu còn có văn chỉ thờ các vị tiên hiền và lưu danh gân 100 vị khoa bảng người làng cuối thế kỷ 14 đến đầu thế kỷ 20.