|
THÀNH CỔ THĂNG LONG - HÀ NỘI
Dựa vào truyền thuyết dân gian các di tích và di vật khảo cổ thì thành
Thăng Long thời Lý giáp hồ Tây ở phía Bắc, sông Tô ở phía Tây, đường Cầu
Giấy ở phía Nam, đường Lý Nam Đế ngày nay ở phía Đông. Như vậy là ở phía
Tây của thành Thăng Long thời Nguyễn. Khu Hoàng Thành hình chữ nhật và
rộng gấp đôi hoàng thành thời Nguyễn. Điện Kính Thiên được xây dựng trên
núi Nùng, ngọn núi biểu tượng của Thăng Long.
Núi Nùng, sông Nhị chốn này còn ghi
Ngoài hoàng thành là khu vực kinh thành, các phố phường của dân ở, có
quy mô khá rộng, nằm trong dải tường đất bao quanh có tên là Đại La hoặc
La Thành.
Khu vực hoàng thành đã bị các cuộc nội chiến giữa các tập đoàn phong
kiến tàn phá thiêu huỷ gần hết vào đầu thế kỷ 13. Đến thời Trần, từ năm
1226, các cung điện, lâu đài được xây dựng lại, cơ bản trên nền cũ.
Nhưng rồi bị 3 lần quân Nguyên xâm lược cướp phá, 20 năm giặc Minh chiếm
đóng, Thăng Long lại thành những đống tro tàn, gạch vụn.
Đến thời Lê, hoàng thành xây dựng lại rộng gấp đôi thời Lý - Trần, núi
Nùng vẫn được giữ làm điểm trung tâm dựng điện Kính Thiên. Cuối Thế kỷ
18, cuộc tranh chấp quyền giữa vua Lê và chúa Trịnh lại dẫn đến cuộc tàn
phá Thăng Long một lần nữa.
Thành cổ Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn chỉ còn là một phần của khu vực
hoàng thành thời Lê, địa giới phía bắc là đường Phan Đình Phùng, phía
đông là đường Phùng Hưng, phía Nam là đường Trần Phú, phía tây là đường
Hùng Vương bây giờ. Thành được xây năm
CỬA ĐOAN MÔN
Trên phố Hoàng Diệu, chỗ chạc ba sang phố Bắc Sơn - nơi mới xây Đài
tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh cho nền độc lập - tự do của Tổ
quốc, nhìn về phía thành thấy một toà nhà mái cong, đó là lầu Ngũ Môn -
cửa Đoan Môn lầu Ngũ Môn xây năm 1905, khi nhà Nguyễn phá thành cũ làm
thành mới, trên cửa Đoan Môn là cửa cấm thành được dựng từ thời Lý. Do
Đoan Môn có 5 cửa, nên lầu mới được tên là Ngũ Môn Lâu. Lầu Ngũ Môn Lâu
dài hơn 13m, rộng 10m, cao 4,5m, mở ra ba cửa. Tầng trên mái chồng diêm,
đao đình dài 6,5m cao 7m.
Cửa
Đoan Môn trong ra phía câu lạc bộ Quân đội bay giờ, cách Cột Cờ 300m về
phía Bắc. Đoan Môn có chiều dài 46,5m, ngang kể cả cánh gà 26,5m, cao
6m, ba cửa giữa mở đi thẳng vào Long Trì, hai bên có cửa cánh gà hình
thước thợ, đi vào rẽ phải hoặc trái để nhập vào cửa chính. Trên cửa
chính gắn cao 4m là tấm biển đá khắc hai chữ Đoan Môn dài 1,5m, rộng
0,7m.
THỀM ĐIỆN KÍNH THIÊN
Điện Kính Thiên tương truyền xây tren núi Nùng năm 1428 đã bị phá hết,
chỉ còn lại nền và thềm đá tạc vào năm 1467. Đó là 4 thành bậc cửa đá
chạm chạy dài suốt 9 cấp, tạo thành 3 lối đi lên điện. Hai thành giữa
chạm hình rồng uốn khúc, đầu to nhô cao như đang bò từ trên điện xuống,
sừng dài có nhánh, bờm mượt cuộn ra sau, lưng rông có kỳ nổi cao và sắc,
mắt lồi, mộ chân rồng nắm lấy râu. Hai dãy thành bên, chạm những khối
cuồn cuộn mây lửa và hoa lá cách điệu, nét chạm sắc sảo, điêu luyện, giữ
được truyền thống điêu khắc dân tộc. Thành bậc ngang 13,7m, dọc 4,45m,
cao bằng nền điện 2,1m, nói lên thế khang trang của điện Kính Thiên xưa.
Đây
là một tác phẩm nghệ thuật quý của thời Lê sơ còn lại.
CỘT CỜ
Dựng năm 1812 ở trước mặt điện Kính Thien, phía Nam thành nội, cột cờ
cao hơn 40m, hình tám cạnh, đứng trên ba cấp hình vuông. Cấp dưới cùng
mỗi cạnh dài 42m, cấp trên cùng mỗi cạnh 13m. Cấp giữa mở 4 cửa, chỉ 3
cửa có tên là Nghênh Húc (đón ánh nắng mai) ở phía đông, cửa Hướng Minh
(hướng về ánh sáng) ở phía Nam và cửa Hồi Quang (ánh sáng pản chiếu)
phía tây. Có cây cầu thang xoáy ốc, 51 bậc dẫn lên tới đỉnh cao. Lúc mới
xây, đỉnh cột cờ chưa có mái, khoảng năm 1895 mới làm mái có lầu quan
sát và thông tin ban đêm bằng tín hiệu đèn với các vùng phụ cận, trên
lầu mang biển chữ "Kỳ đài". Cột bát giác có 39 lỗ hình hoa thị và 6 lỗ
hình rẻ quạt ở các cạnh để thông hơi và soi sáng.
Hồi
15h ngày 10/10/1954, sau khi vào tiếp quản Thủ đô Quân đội nhân dân Việt
Nam đã tổ chức trọng thể lễ chào cờ tại đây dưới sự chỉ huy của thiếu
tướng Vương Thừa Vũ, chủ tịch Uỷ ban quân quản HàNội. Sau hồi còi Nhà
hát Lớn, lá cờ đỏ sao vàng đã kéo lên cao bay phấp phới trên đỉnh cột,
với niềm vui của hàng vạn đồng bào Thủ đô tới tham dự. Anh hùng quân đội
Nguyễn Quốc Trị và 12 chiến sĩ thi đua xuát sắc của bộ đội giải phóng
Thủ đô được vinh dự đứng gác phiên gác đầu tiên trên kỳ đài.
Sau ngày giải
phóng Thủ đô, Cột Cờ đã được trùng tu hai lần: 12/1959 và 11/1989. Nay
Cột Cờ đã mở cửa cho nhân dân vào tham quan.
|