Trang đầu
Điều kiện tự nhiên
Hà Nội nghìn năm văn hiến
Phố cổ
Du lịch quanh TP và Phụ cận
Thư viện Ảnh




 

<Về trước> • Bảo tàng Hồ Chí Minh • Khu Di tích-Bảo tàng Bác Hồ • Đình Triều Khúc • Đền Voi Phục • Đình Nam Đồng • Đền Hai Bà Trưng • Đình Vẽ • Đình, Chùa Quảng Bá • Đền Quán Thánh • Đền Bích Câu • Thành Cổ Loa • Văn Miếu-Quốc Tử Giám • Nhà thờ Lớn Hà Nội • Thành cổ Thăng Long - Hà Nội • Tháp Hòa Phong • Gò Đống Đa • Các Di tích về Phù Đổng Thiên Vương • Lăng Phùng Hưng • Di tích Ngọc Hồi • Cửa Ô Quan CHương • Đền Ngọc Sơn • Tượng và Đền vua Lê • Tháp Rùa • Đền Bà Kiệu • Đền Lý Quốc Sư • Y Miếu • Phủ Tây Hồ • Đình Trèm • Đình Thổ Quan • Đình Mai Động • Đình Lệ Mật • Đình Thanh Liệt • Đình Vĩnh Ninh • Nhà Bác Hồ
   
 

 

THÀNH CỔ THĂNG LONG - HÀ NỘI

  Dựa vào truyền thuyết dân gian các di tích và di vật khảo cổ thì thành Thăng Long thời Lý giáp hồ Tây ở phía Bắc, sông Tô ở phía Tây, đường Cầu Giấy ở phía Nam, đường Lý Nam Đế ngày nay ở phía Đông. Như vậy là ở phía Tây của thành Thăng Long thời Nguyễn. Khu Hoàng Thành hình chữ nhật và rộng gấp đôi hoàng thành thời Nguyễn. Điện Kính Thiên được xây dựng trên núi Nùng, ngọn núi biểu tượng của Thăng Long.

   Núi Nùng, sông Nhị chốn này còn ghi

  Ngoài hoàng thành là khu vực kinh thành, các phố phường của dân ở, có quy mô khá rộng, nằm trong dải tường đất bao quanh có tên là Đại La hoặc La Thành.

  Khu vực hoàng thành đã bị các cuộc nội chiến giữa các tập đoàn phong kiến tàn phá thiêu huỷ gần hết vào đầu thế kỷ 13. Đến thời Trần, từ năm 1226, các cung điện, lâu đài được xây dựng lại, cơ bản trên nền cũ. Nhưng rồi bị 3 lần quân Nguyên xâm lược cướp phá, 20 năm giặc Minh chiếm đóng, Thăng Long lại thành những đống tro tàn, gạch vụn.

  Đến thời Lê, hoàng thành xây dựng lại rộng gấp đôi thời Lý - Trần, núi Nùng vẫn được giữ làm điểm trung tâm dựng điện Kính Thiên. Cuối Thế kỷ 18, cuộc tranh chấp quyền giữa vua Lê và chúa Trịnh lại dẫn đến cuộc tàn phá Thăng Long một lần nữa.

  Thành cổ Thăng Long - Hà Nội thời Nguyễn chỉ còn là một phần của khu vực hoàng thành thời Lê, địa giới phía bắc là đường Phan Đình Phùng, phía đông là đường Phùng Hưng, phía Nam là đường Trần Phú, phía tây là đường Hùng Vương bây giờ. Thành được xây năm  

 

 

CỬA ĐOAN MÔN

 

Trên phố Hoàng Diệu, chỗ chạc ba sang phố Bắc Sơn - nơi mới xây Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh cho nền độc lập - tự do của Tổ quốc, nhìn về phía thành thấy một toà nhà mái cong,  đó là lầu Ngũ Môn - cửa Đoan Môn lầu Ngũ Môn xây năm 1905, khi nhà Nguyễn phá thành cũ làm thành mới, trên cửa Đoan Môn là cửa cấm thành được dựng từ thời Lý. Do Đoan Môn có 5 cửa, nên lầu mới được tên là Ngũ Môn Lâu. Lầu Ngũ Môn Lâu dài hơn 13m, rộng 10m, cao 4,5m, mở ra ba cửa. Tầng trên mái chồng diêm, đao đình dài 6,5m cao 7m.

Cửa Đoan Môn trong ra phía câu lạc bộ Quân đội bay giờ, cách Cột Cờ 300m về phía Bắc. Đoan Môn có chiều dài 46,5m, ngang kể cả cánh gà 26,5m, cao 6m, ba cửa giữa mở đi thẳng vào Long Trì, hai bên có cửa cánh gà hình thước thợ, đi vào rẽ phải hoặc trái để nhập vào cửa chính. Trên cửa chính gắn cao 4m là tấm biển đá khắc hai chữ Đoan Môn dài 1,5m, rộng 0,7m.

 

THỀM ĐIỆN KÍNH THIÊN

Điện Kính Thiên tương truyền xây tren núi Nùng năm 1428 đã bị phá hết, chỉ còn lại nền và thềm đá tạc vào năm 1467. Đó là 4 thành bậc cửa đá chạm chạy dài suốt 9 cấp, tạo thành 3 lối đi lên điện. Hai thành giữa chạm hình rồng uốn khúc, đầu to nhô cao như đang bò từ trên điện xuống, sừng dài có nhánh, bờm mượt cuộn ra sau, lưng rông có kỳ nổi cao và sắc, mắt lồi, mộ chân rồng nắm lấy râu. Hai dãy thành bên, chạm những khối cuồn cuộn mây lửa và hoa lá cách điệu, nét chạm sắc sảo, điêu luyện, giữ được truyền thống điêu khắc dân tộc. Thành bậc ngang 13,7m, dọc 4,45m, cao bằng nền điện 2,1m, nói lên thế khang trang của điện Kính Thiên xưa.

Đây là một tác phẩm nghệ thuật quý của thời Lê sơ còn lại.

CỘT CỜ

 Dựng năm 1812 ở trước mặt điện Kính Thien, phía Nam thành nội, cột cờ cao hơn 40m, hình tám cạnh, đứng trên ba cấp hình vuông. Cấp dưới cùng mỗi cạnh dài 42m, cấp trên cùng mỗi cạnh 13m. Cấp giữa mở 4 cửa, chỉ 3 cửa có tên là Nghênh Húc (đón ánh nắng mai) ở phía đông, cửa Hướng Minh (hướng về ánh sáng) ở phía Nam và cửa Hồi Quang (ánh sáng pản chiếu) phía tây. Có cây cầu thang xoáy ốc, 51 bậc dẫn lên tới đỉnh cao. Lúc mới xây, đỉnh cột cờ chưa có mái, khoảng năm 1895 mới làm mái có lầu quan sát và thông tin ban đêm bằng tín hiệu đèn với các vùng phụ cận, trên lầu mang biển chữ "Kỳ đài". Cột bát giác có 39 lỗ hình hoa thị và 6 lỗ hình rẻ quạt ở các cạnh để thông hơi và soi sáng.

Hồi 15h ngày 10/10/1954, sau khi vào tiếp quản Thủ đô Quân đội nhân dân Việt Nam đã tổ chức trọng thể lễ chào cờ tại đây dưới sự chỉ huy của thiếu tướng Vương Thừa Vũ, chủ tịch Uỷ ban quân quản HàNội. Sau hồi còi Nhà hát Lớn, lá cờ đỏ sao vàng đã kéo lên cao bay phấp phới trên đỉnh cột, với niềm vui của hàng vạn đồng bào Thủ đô tới tham dự. Anh hùng quân đội Nguyễn Quốc Trị và 12 chiến sĩ thi đua xuát sắc của bộ đội giải phóng Thủ đô được vinh dự đứng gác phiên gác đầu tiên trên kỳ đài.

Sau ngày giải phóng Thủ đô, Cột Cờ đã được trùng tu hai lần: 12/1959 và 11/1989. Nay Cột Cờ đã mở cửa cho nhân dân vào tham  quan.