Trang đầu
Điều kiện tự nhiên
Hà Nội nghìn năm văn hiến
Phố cổ
Du lịch quanh TP và Phụ cận
Thư viện Ảnh




 

<Về trước> • Chùa Nga My • Chùa Bà Tấm • Chùa Bồ Đề • Chùa Bộc • Chùa Chân Tiên • Chùa Hà • Chùa Láng • Chùa Kim Liên • Chùa Ngũ Xá • Chùa Ngọc Hô • Chùa Quán Sứ • Chùa Bà Đá • Chùa Hòe Nhai • Chùa Một Cột • Chùa Trấn Quốc • Chùa Kim Sơn • Chùa Bút Tháp • Chùa Vua • Chùa Hưng Ký • Chùa Nành • Chùa Tự Khoát
   
 

 

CHÙA TRẤN QUỐC

Chùa Trấn Quốc vào loại rất cổ, ở phía đông hồ Tây, bên đường Thanh Niên, xây dựng trên hòn đảo xưa có tên là Kim Ngư (cá vàng, tại nền cũ của cung Thúy Hoa thời Lý và điện Hàm Thuyên đời Trần).

Theo văn bia, chùa này xưa ở bãi Yên Hoa ngoài sông Hồng, gọi là chùa Khai Quốc hoặc An Quốc, dựng từ đời Lý Nam Đế (544-548), được xếp hạng thứ tư của nước Nam. Năm 1615 bãi sông bị lở, chùa mới dời về đây. Năm 1628 thời Lê, chùa được trùng tu và đổi tên là Trấn Quốc, đồng thời đắp con đường nối với đảo với đê Cổ Ngư (nay là đường Thanh Niên).

Năm 1639, Chúa Trịnh sửa lại, làm tam quan, xây hành lang hai bên, trồng sen quanh chùa và biến thành cung độc quyền của Trịnh Giang, Trịnh Sâm vui chơi.

Cuối Thế kỷ 18, chùa đổ nát, dân làng chữa lại, đắp tượng, đúc chuông làm từ năm 1831 đến 1815 mới xong. Kiến trúc độc đáo khác các chùa: trước là Bái đường, đến Tam Bảo sau mới là dãy hành lang nhập điện bao gác chuông.

Năm 1842, Thiệu Trị ra Bắc, đến thăm chùa và đổi tên là Tuấn Bắc, nhưng nhân dân chỉ quen gọi tên cũ cho tới ngày nay. Chùa còn 39 tượng Phật, 24 tượng tăng, đẹp nhất là tượng Thích Ca nhập Niết bàn bằng gỗ thếp vàng (Phật nằm).

Sau chùa có nhiều mộ tháp cổ từ đời Vĩnh Hựu và Cảnh Hưng (Thế kỷ 18). Trong các bia cổ, đáng lưu ý là bia dựng Dương Hòa thứ 5 (1639) do trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính soạn. Cửa chùa hiện nay có 3 chữ “Phương Tiện môn” và đôi câu đối chữ Nôm:

Vang tai xe ngựa qua đường tục

Mở mặt non sông đứng cửa thiền.