|
CHÙA TRẤN QUỐC
Chùa Trấn Quốc vào loại rất cổ, ở phía đông hồ Tây, bên đường Thanh
Niên, xây dựng trên hòn đảo xưa có tên là Kim Ngư (cá vàng, tại nền cũ
của cung Thúy Hoa thời Lý và điện Hàm Thuyên đời Trần).
Theo văn bia, chùa này xưa ở bãi Yên Hoa ngoài sông Hồng, gọi là chùa
Khai Quốc hoặc An Quốc, dựng từ đời Lý Nam Đế (544-548), được xếp hạng
thứ tư của nước Nam. Năm 1615 bãi sông bị lở, chùa mới dời về đây. Năm
1628 thời Lê, chùa được trùng tu và đổi tên là Trấn Quốc, đồng thời đắp
con đường nối với đảo với đê Cổ Ngư (nay là đường Thanh Niên).
Năm
1639, Chúa Trịnh sửa lại, làm tam quan, xây hành lang hai bên, trồng sen
quanh chùa và biến thành cung độc quyền của Trịnh Giang, Trịnh Sâm vui
chơi.
Cuối Thế kỷ 18, chùa đổ nát, dân làng chữa lại, đắp tượng, đúc chuông
làm từ năm 1831 đến 1815 mới xong. Kiến trúc độc đáo khác các chùa:
trước là Bái đường, đến Tam Bảo sau mới là dãy hành lang nhập điện bao
gác chuông.
Năm
1842, Thiệu Trị ra Bắc, đến thăm chùa và đổi tên là Tuấn Bắc, nhưng nhân
dân chỉ quen gọi tên cũ cho tới ngày nay. Chùa còn 39 tượng Phật, 24
tượng tăng, đẹp nhất là tượng Thích Ca nhập Niết bàn bằng gỗ thếp vàng
(Phật nằm).
Sau
chùa có nhiều mộ tháp cổ từ đời Vĩnh Hựu và Cảnh Hưng (Thế kỷ 18). Trong
các bia cổ, đáng lưu ý là bia dựng Dương Hòa thứ 5 (1639) do trạng
nguyên Nguyễn Xuân Chính soạn. Cửa chùa hiện nay có 3 chữ “Phương Tiện
môn” và đôi câu đối chữ Nôm:
Vang tai xe ngựa qua đường tục
Mở
mặt non sông đứng cửa thiền.
|