| |
|
THĂNG
LONG THỜI NGUYỄN |
|
Năm
1802, Nguyễn Ánh với sự trợ giúp của
Pháp đã tiêu diệt nhà Tây Sơn lên ngôi
Hoàng đế, hiệu Gia Long, đóng đô tại Phú
Xuân (tức Huế ngày nay). Từ đấy kinh
thành Thăng Long cũng như toàn miền Bắc
phải chịu một sự chuyển đổi lớn: Từ kinh
thành hơn 800 năm trở thành trấn thành
rồi tỉnh thành. Sự chuyển đổi này có
nhiều lý do: thứ nhất nhà Nguyễn không
được lòng nhân sĩ Bắc hà; thứ hai Phú
Xuân (Huế) từng là vùng chịu ảnh hưởng
của thế lực nhà Nguyễn trong mấy trăm
năm nên đã đi vào nề nếp. Kinh thành đã
chuyền làm trấn thành nên tên Thăng Long
cũng bị đổi từ nghĩa rồng bay sang thành
thịnh vượng.
|
|
|
Để thống trị Bắc kỳ,
năm 1805 nhà Nguyễn cho xây lại thành
Thăng Long nhỏ hẹp hơn rất nhiều so với
Hoàng thành các thời trước. Thành mới
xây phỏng theo kiểu thành Vauban của
Pháp cuối thế kỷ XVII. Thành hình vuông
mỗi bề chừng một cây số, chu vi khoảng
1285 trượng. Tường thành xây bằng gạch
hộp, chân thành xây bằng đá xanh, tường
cao 1trượng 1thước, dày 4 trượng mở ra 5
cửa: Đông- Tây- Bắc- Đông nam và Tây nam,
ngoài mỗi cửa có một mảnh thành nhỏ gọi
là Dương Mã thành để giữ cửa. Trong
thành có nhà Kính Thiên, cột cờ. Trước
cột cờ là Hồ Voi, nơi đặt dinh tổng trấn
và các Tào thay mặt các Bộ. Có kho, võ
miếu, đàn Xã tắc để tế trời đất, nền
Tịch điền để làm lễ động thổ hàng năm.
Có nhà ngục và nơi pháp trường gọi là
Trường hình. Mỗi cửa thành đều có lính
đóng, ngoài cửa Nam có Đình Ngang Cấm
Chỉ.
|
|
|
Ngoài thành là các
doanh trại quân đội sau đó mới đến các
phố phường và khu đồn thuỷ; lập phố
Tràng tiền để đúc tiền kẽm, tiền đồng.
Tuy gọi là 36 phố phường nhưng thực chất
thì nhiều hơn. Có những phố chuyên phục
vụ cho quan lại như phố Hàng Đào bán tơ
lụa; phố Mã Vĩ bán mũ áo cho các quan
chức và phường chèo; phố Hàng Bài làm
hài cho các bà lớn và những người đồng
cốt; phố Hàng Bạc bán đồ trang sức; phố
Hàng Đàn làm võng kiệu, long đình... Lại
có những phố chuyên bán đồ ăn như phố
Hàng Mắm, Hàng Gạo, Hàng Hành, Hàng Gà,
Hàng Khoai, Hàng Rươi, Hàng Bồ... (đều
là những phố nằm trong quận Hoàn Kiếm
ngày nay và được gọi là khu Phố cổ).
|
|
 |
|
Rồng
thời Nguyễn |
Vòng ngoài của thành
Hà Nội có ngoại thành dài 28 dặm 77
trượng 4 thước, chừng 16 cây số; có 16
cửa ô: Kim Liên, An Tự, Thanh Lãng (Thanh
nhàn), Nhân Hoà, Tây Long (chỗ Nhà Hát
Lớn), Đông An, Mỹ Lộc, Trừng Thanh, Đông
Hà, Phúc Lâm (Hàng Đậu), Thạch Khối, An
Tĩnh (Yên Thành), An Hoà (Yên Phụ), Tây
Hồ (đường Bưởi), Vạn Bảo (Kim Mã), Thịnh
Quang (ô Chợ Dừa). Những cửa ô này chính
là nơi thu hút khách thập phương đổ về
làm ăn, vì vậy Thăng Long lúc này mặc dù
mất đi chức năng là một kinh đô, song
lại cực kỳ phát triển về kinh tế hàng
hoá. Dân tứ trấn Đông, Nam, Đoài, Bắc
đều kéo nhau về Hà Nội làm ăn và tụ tập
thành xóm riêng: Phất Lộc, Gia Ngư, Nam
Ngư. Những người cùng làng không ở gần
nhau thì vẫn có đình chung để hội họp.
Dân nghề thì tập họp nhau bằng cách hàng
năm tế Tiên sư. Điều đó lý giải tại sao
giữa lòng Thủ đô Hà Nội ngày nay vẫn có
những ngôi đình: Phù ủng, Lương Ngọc...
Các nghề thủ công ở Thăng Long giai đoạn
này đã phát đạt đến mức tinh vi như nghề
thêu, nghề khảm. Năm 1831, nhà Nguyễn
lại loại bỏ chức tổng trấn, chỉ để làm
một tỉnh lỵ - tỉnh Hà Nội. Thành bị bạt
bớt đi, các công trình văn hoá cũng có
những biến đổi: Quốc Tử Giám bị dời vào
Huế, nhiều công trình cung điện bị dỡ
mang vật liệu vào xây dựng ở Huế, trường
thi Hương thành chốn đàn ca giải trí.
Một số cửa ô được xây dựng lại trong đó
có ô Quan Chưởng (1817). Thăng Long với
tư cách một kinh đô thực sự bị loại bỏ
trong suốt thời gian 143 năm dưới triều
Nguyễn và thời Pháp thuộc, để rồi lại
tưng bừng trong tư thế một Thủ đô cách
mạng sau này.
|
|
|
|